Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
(Nguồn: TCMT tổng hợp, năm 2011)

(Nguồn: TCMT tổng hợp, năm 2011)

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Võ Việt Hùng



Để giải được bài toán quản lý CTR hiện nay nhất thiết phải xây dựng lộ trình

phân loại CTR tại nguồn, đặc biệt là khi triển khai các dự án này, phải tính toán các

phương tiện, trang thiết bị thu gom các loại CTR riêng biệt và vạch tuyến thu gom cho

từng loại CTR, tránh tình trạng sau khi người dân phân loại rồi các đơn vị thu gom lại

đổ vào cùng một xe thu gom lẫn lộn. Các tuyến xe thu gom phải tính tốn thiết kế sao

cho qng đường đi thu gom là ngắn nhất, số lượng xe cần thu gom ít nhất và tránh

dồn vào cùng một tuyến đường gây áp lực giao thông.

Hiện nay phương thức thu gom CTR sơ cấp (từ nơi phát sinh đến điểm tập trung

CTR) dùng xe đẩy tay 3 bánh đi qua các nhà đang bộc lộ những hạn chế:



uế



- Phương tiện cũ kỹ và lạc hậu, bị dò nước rỉ rác trong quá trình đẩy xe đi thu gom.

- Các xe đẩy tay thường chở quá tải làm cho rác bị rơi vãi dọc tuyến đường thu gom.



H



- Người dân chỉ được đổ rác 1 ngày/lần, nhiều khi muốn dọn rác khơng có chỗ để



tế



đổ nên cứ cho vào túi nilon rồi vút ra đường, gây mất mỹ quan đô thị và ảnh hưởng



nh



xấu đến môi trường.



Phương thúc thu gom thứ cấp (từ điểm tập trung đến trạm trung chuyển hoặc khu



Ki



xử lý CTR) hiện thường dùng các xe nén ép có dung tích lớn từ 8 – 15m3, thậm chí



c



đến 20m3 điều này có những hạn chế sau:



họ



- Xe chỉ đi thu gom được trên những đường lớn nên CTR từ các hộ gia đình trong

ngõ phải vận chuyển khá xa để ra đường lớn đến điểm tập kết CTR.



ại



- Xe chỉ được phép hoạt động trong một số giờ nhất định để khơng ảnh hưởng



Đ



đến giao thơng đơ thị. Do đó CTR bị tồn đọng trong đô thị.

Giải pháp thu gom sơ cấp là tổ chức thu theo nhóm nhà. Ngồi vỉa hè, trước cửa

một nhóm nhà sẽ bố trí các thùng đựng rác với dung tích và màu sắc khác nhau. Các

thùng đựng rác này kích thước vừa phải, có nắp đậy, dán nhãn ký hiệu loại rác được bỏ

và phải được dọn thường xuyên, không gây mất cảnh quan và gây mùi khó chịu. cần

phải tổ chức thu gom nhiều lần trong ngày với các phương tiện nhỏ, phù họp vệ sinh

như xe đẩy ba bánh cải tiến (thùng chứa rác chia ngăn đựng các loại rác khác nhau, có

nắp cho từng ngăn để khi đổ loại rác nào vào xe nén ép thì khóa nắp các ngăn còn lại).

Xe thu gom có gắn động cơ để thu gom nhanh chóng vận chuyển về các xe ép rác nhỏ.



SVTH: Đặng Thị Bích Ngọc



11



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Võ Việt Hùng



Phương án đề xuất thu gom thứ cấp là chuyển sang các loại xe thu gom có kích

thuốc nhỏ từ1,5 - 2,5 tấn, đi được vào các ngõ và hoạt động thường xuyên trong ngày

để không gây tồn lưu CTR trong đơ thị. Khu vực nào có đường xá rộng thì có thể dùng

xe đến 5 tấn để thu gom. Các xe này sau đó sẽ tập kết CTR tại các trạm trung chuyển

để chuyển sang các xe có dung tích lớn hơn đưa CTR đến khu xử lý. Mơ hình thu gom

là hình thức thu gom bên lề đường: Các hộ gia đình đặt các túi rác đã buộc (tốt nhất là

loại túi rác tự hủy) trước cửa nhà theo thòi gian quy định, xe thu gom đến vận chuyển

CTR đi ln. Đối vói các đơ thị nhỏ hoặc các khu phố chật hẹp, đề xuất thêm hình

thúc thu gom theo khối (các gia đình trong ngõ mang CTR ra đầu ngõ có xe thu gom



uế



đứng chờ sẵn).



2.2.3. Quy hoạch các điểm tập trung CTR, các trạm trung chuyển CTR



H



Hiện nay, hầu hết các đô thị Việt Nam đều chưa có quy hoạch khu tập trung



tế



CTR. Các xe đẩy tay thu gom CTR lạc hậu, khơng có nắp đậy và chất CTR quá tải,



nh



được tập trung ngay dưới lòng đường, sau đó chờ xe ơ tơ nén ép với tải trọng từ 7 – l0

tấn đến cẩu lên xe và vận chuyển đi xử lý, gây ô nhiễm môi trường, mất mỹ quan đô



Ki



thị và ách tắc giao thông.



c



Việc quy hoạch xây dựng cải tạo các khu tập trung CTR đối với khu đô thị cũ



họ



thường phức tạp hơn các khu đô thị mới. Giải pháp quy hoạch là:

Đối với các khu đơ thị cũ: diện tích đất đơ thị dành cho việc xây dựng các điểm



ại



tập trung CTR và các trạm trung chuyển rất hạn chế. Do đó cần hạn chế tối đa bố trí



Đ



các điểm tập kết cố định (là những khu đất dành sẵn để bố trí vị trí đặt thùng rác và xe

ra vào thu gom), nên thay thế bằng các điểm tập kết di động (là những điểm xe tải nhỏ

đứng chờ sẵn). CTR sau khi được các xe đẩy tay cải tiến thu gom tập trung tại điểm

cẩu vào một giờ nhất định, được xe nén ép đến thu gom luôn, hạn chế thời gian rác lưu

tại điểm tập trung.

Đối với khu đô thị mới: thiết kế khu tập trung CTR gồm: diện tích để thùng rác,

diện tích đất dành cho giao thơng, sân bãi, diện tích cây xanh. Nền sân để các thùng

rác phải cao ráo, khơng bị ngập úng, có bố trí vòi nước để tiện cho cơng tác vệ sinh và

tẩy rửa thùng chứa. Khi bố trí các cơng trình này trong quy hoạch, cần phải lưu ý đến

yếu tố mặt bằng thuận tiện cho công việc bốc dỡ, đảm bảo vệ sinh mơi trường, có thể

SVTH: Đặng Thị Bích Ngọc



12



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Võ Việt Hùng



có tường bao và cây xanh cách ly với khu vực xung quanh và phải đảm bảo đủ diện

tích tập kết CTR của các điểm thu gom.

Một trong những bất cập của các đô thị hiện nay trong công tác thu gom CTR là

thiếu các địa điểm trung chuyển rác. Với các đô thị mới: nhất thiết phải có quy hoạch

cho nơi trung chuyển tạm thời.

Yêu cầu đối với trạm trung chuyển CTR là phải tiếp nhận và vận chuyển hết

CTR trong thời gian khơng q 48 tiếng,phải có bãi đỗ xe vệ sinh chuyên dùng, có hệ

thống thu gom nước rác và xử lý sơ bộ,khoảng cách an tồn mơi trường của trạm trung

chuyển CTR > 20m, các trạm có hệ thống nén ép hiện đại để giảm tối đa thể tích cần



uế



vận chuyển.

Cơ sở lựa chọn phương pháp xử lý CTR:



tế



+ Thành phần, đặc tính và khơi lượng CTR.



H



2.2.4. Xử lý CTR đơ thị



nh



+ Điều kiện khí hậu thổ nhưỡng, địa chất cơng trình, địa chất thủy văn, phong tục

tập qn của địa phương...



Ki



+ Yêu cầu mức độ kỹ thuật, vệ sinh mơi trường.



c



+ Trình độ khoa học kỹ thuật và năng lực cán bộ, công nhân.



họ



+ Nhu cầu thị trường về sử dụng các sản phẩm từ việc xử lý CTR.

+ Khả năng tài chính của địa phương (vốn đầu tư và chi phí vận hành, duy tu sửa



ại



chữa...).



Đ



a. Xử lý bằng công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh

Chôn lấp hợp vệ sinh là phương pháp chơn lấp an tồn vói các lớp chống thấm

thành và đáy, hệ thống thu gom nước rác, khí rác, lớp đất phủ trung gian và phủ bề

mặt, kèm theo việc rắc các chế phẩm sinh học làm tăng quá trình phân hủy rác thải và

giảm mùi.

Hiện nay, nhiều đơ thị chưa có bãi chơn lấp (BCL) hợp vệ sinh và nhà máy xử lý

rác, mà chủ yếu là chôn lấp và đốt tại các BCL không hợp vệ sinh. Các BCL không

được quy hoạch và phân bố nhỏ lẻ. Nhiều bãi trước đây nằm cách xa khu dân cư

nhưng do đô thị mở rộng nên chúng nằm trong khu vực nội thị, gây ra nhiều vấn đề



SVTH: Đặng Thị Bích Ngọc



13



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Võ Việt Hùng



tiêu cực đến mơi trường. Tồn quốc hiện có 98 BCL CTR tập trung ở các thành phố

lớn đang vận hành nhưng chỉ có 16 bãi hợp vệ sinh.

Khoảng cách an toàn đối với BCL CTR hỗn hợp > 1000m; BCL CTR vô cơ >

100m, nhà máy xử lý CTR (đốt có xử lý khí thải, sản xuất phân hữu cơ) > 500m. Cơ sở

xử lý phải bố trí ngồi phạm vi đơ thị, cuối hướng gió chính, cuối dòng chảy của sơng

suối, xung quanh phải trồng dải cây xanh cách ly có chiều rộng > 20m; khơng được bố

trí ở vùng thường xun bị ngập nước, vùng cax-tơ, vùng có vết đứt gãy kiến tạo.

b. Cơng nghệ ủ sinh học

Để tăng khả năng tái sử dụng của CTR thì xử lý rác bằng phương pháp chế biến



uế



CTR thành phân bón là một phương pháp cần được phát triển. Đặc điểm chung của

CTR đô thị ở nước ta là có thành phần hữu cơ cao, sau khi được phân loại rất thích



H



hợp để chế biến làm phân bón bằng phương pháp lên men tự nhiên hoặc lên men



tế



cưỡng bức. Có thể chọn cơng nghệ phân hủy dùng vi khuẩn hiếu khí hoặc yếm khí.



nh



Tuy nhiên để tiến hành chế biến phân bón từ CTR cần có các biện pháp phân loại CTR

từ nguồn, điều đó sẽ đảm bảo chất lượng phân bón được tạo ra.



Ki



c. Phương pháp đốt



c



Đây là phương pháp xử lý triệt để nhất nhưng cần vốn đầu tư ban đầu lớn nên



họ



thường áp dụng để xử lý CTR y tế hoặc các loại CTNH. Tuy nhiên, nếu có các điều

kiện thuận lợi như: đầu tư nước ngồi dưới dạng BĨT, đầu tư với vốn ODA và gần các



ại



nguồn nguyên liệu như than, dầu, khí đốt thì có thể áp dụng phương pháp này để thu



Đ



hồi năng lượng dưới dạng điện năng thương phẩm. Các loại lò đốt nhỏ đa buồng có

nhiệt độ trong buồng đốt thích hợp và có hệ thống xử lý khói, bụi, mùi hiện đại cần

được đầu tư xây dựng.

Công nghệ xử lý CTR tại Việt nam trong thời gian tới cần phải được phát triển

theo hướng giảm tối đa lượng rác thải chôn lấp, tăng tỷ lệ tái chế, tái sử dụng. Theo

Quy chuẩn Xây dựng số 04/2008, tỷ lệ CTR chôn lấp không được vượt quá 15% tổng

lượng CTR. Tất cả các đô thị ở Việt Nam đều chưa đạt được Quy chuẩn này. Tỷ lệ

CTR được chôn lấp hiện chiếm khoảng 76 - 82% lượng CTR thu gom được.



SVTH: Đặng Thị Bích Ngọc



14



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Võ Việt Hùng



2.2.5. Vấn đề tài chính

Một vấn đề cần quan tâm hiện nay là chi phí thu gom, vận chuyển và xử lý CTR

ngày càng lớn nhưng mức thu phí vệ sinh cho các hộ gia đình quá thấp (trung bình

khoảng từ 1.000 - 5.000 đồng/người/tháng), tạo gánh nặng lớn cho ngân sách địa

phương. Dựa trên các tính tốn cơ bản về tổng vốn đầu tư, chi phí vận hành, chi phí

quản lý, khấu hao, lạm phát... thì mức xử lý rác năm 2011 là 17 - 18USD/tấn, tương

đương khoảng 350.000 đồng/tấn (theo Báo cáo Môi trường quốc gia 2011). Mỗi người

dân đô thị phát sinh khoảng 1 kg/ngày hay 0,03 tấn/tháng, vậy nếu chỉ tính chi phí xử

lý (chưa tính chi phí thu gom, vận chuyển CTR), mỗi người dân phải nộp khoảng



uế



10.500 đồng/tháng. Do đó, cần tăng mức thu phí vệ sinh, đặc biệt có thể tính tốn

phương án để thu phí theo lượng rác phát sinh thực tế của từng hộ gia đình, nhằm từng



H



bước xóa bao cấp trong lĩnh vực này. Đặc biệt, cần có chính sách hỗ trợ đầu tư cho các



tế



công nghệ mới để giảm lượng CTR chơn lấp. Có như vậy, cơng tác thu gom, vận



nh



chuyển và xử lý CTR sinh hoạt tại các đô thị mới hy vọng được cải thiện theo chiều

hướng tốt hơn.



Ki



Để công tác quản lý CTR đạt hiệu quả, việc quy hoạch quản lý CTR cần phải



c



được triển khai đồng bộ. Cần tiến hành thực hiện phân loại CTR tại nguồn, vạch tuyến



họ



thu gom riêng từng loại CTR, vận chuyển theo các tuyến lộ trình đã được quy hoạch

hợp lý; phải quy hoạch bố trí các điểm tập trung CTR tránh tình trạng thu gom ngay



ại



dưới lòng đường; quy hoạch các trạm trung chuyển CTR cho đô thị; công nghệ xử lý



Đ



CTR hướng tới việc thân thiện với mơi trường, vận hành đơn giản và ít tốn kém, phù

hợp với điều kiện của Việt Nam và đảm bảo tiêu chí tỷ lệ chơn lấp chỉ còn dưới 15%,

tăng cường tỷ lệ tái chế và tái sử dụng CTR. Bên cạnh đó, cần tăng phí vệ sinh của các

hộ gia đình nhưng phải minh bạch, cơng khai các khoản tiền đóng góp này. Đặc biệt,

cần làm tốt cơng tác tun truyền vận động thơng qua chương trình giáo dục ở trường

học và các phương tiện thông tin đại chúng để người dân phân loại rác ngay tại nguồn,

không vứt rác bừa bãi, tự nguyện đóng góp phí vệ sinh đầy đủ.



SVTH: Đặng Thị Bích Ngọc



15



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Võ Việt Hùng



CHƯƠNG 2. HIỆN TRẠNG PHÂN LOẠI, THU GOM, XỬ LÝ VÀ QUẢN LÝ

CHẤT THẢI RẮN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BÌNH SƠN

2.1. Điều kiện tự nhiên

2.1.1. Vị trí địa lý

Huyện Bình Sơn thuộc vùng đồng bằng ven biển, nằm ở phía Đơng Bắc của tỉnh

Quảng Ngãi có tọa độ địa lý từ 15011’30” đến 15025’40” vĩ độ Bắc và 108034’00” đến

108056’40” kinh độ Đơng.

- Phía Bắc: Giáp huyện Núi Thành - tỉnh Quảng Nam.

- Phía Nam: Giáp huyện Sơn Tịnh.



uế



- Phía Đơng: Giáp với Biển Đơng.



H



- Phía Tây: Giáp huyện Trà Bồng.



Tồn huyện có 24 xã và 01 thị trấn. Diện tích tự nhiên tồn huyện là 46.622,19



tế



ha, chiếm 9,07% tổng diện tích tự nhiên tồn tỉnh. Trên địa bàn huyện có Khu Kinh tế



nh



Dung Quất với tổng diện tích là 11.309,94 ha (chiếm khoảng 24,26% diện tích tồn

huyện - trong đó có Khu lọc hóa dầu đầu tiên của nước ta đã được đưa vào hoạt động



Ki



từ tháng 2/2009).



c



Vị trí của huyện còn là nơi hội tụ nhiều điều kiện và cơ hội để giao lưu, tiếp thu



họ



các thành tựu khoa học, kĩ thuật; thu hút vốn đầu tư cho phát triển các ngành kinh tế xã hội, phát triển khu kinh tế với các cơng trình trọng điểm như Cảng, Khu lọc hóa dầu



ại



đầu tiên của đất nước trên địa bàn huyện đã thúc đẩy nhanh quá trình cơng nghiệp hóa



Đ



và hiện đại hóa. Bản đồ huyện Bình Sơn được thể hiện như hình vẽ dưới đây.



SVTH: Đặng Thị Bích Ngọc



16



GVHD: Th.S Võ Việt Hùng



tế



H



uế



Khóa luận tốt nghiệp



Ki



2.1.2. Địa hình, địa mạo



nh



Hình 3. Hình vẽ bản đồ huyện Bình Sơn.

Địa hình huyện Bình Sơn mang những nét đặc trưng của địa hình đồng bằng ven



họ



c



biển miền Trung với các dạng địa hình như đụn cát, đồi thấp có cây dại che phủ với độ

dốc từ 3-200, sơng hồ ngập mặn, đồng bằng và đồi núi ở phía Tây. Địa hình của huyện



ại



Bình Sơn có các dạng chính như sau:



Đ



- Ven biển với đồi cao dọc thung lũng kiến tạo và sườn núi do phân cách các bề

mặt san bằng Plioxen bởi các sườn rửa trôi xâm thực có độ dốc 8-120 và đồi thấp dọc

thung lũng kiến tạo do phân cắt các sườn bề mặt, đồi thấp rìa đồng bằng do phân cắt

bởi thềm biển với các xâm thực rửa trơi, độ dốc 3-80.

- Dạng địa hình thung lũng với bãi bồi và lòng sơng tích tụ cát, cuội, sỏi dạng gò,

đụn thoải. Thung lũng xâm thực - tích tụ với phức hệ bãi bồi và thềm thấp cấu tạo bởi bột

sét lẫn cát màu xám vàng, xám đen, địa hình bằng phẳng hơi trũng.

- Dạng địa hình ven sơng Trà Bồng phân bố ở các xã Bình Mỹ, Bình Chương,

Bình Trung, Bình Nguyên, Bình Chánh, Bình Thới với đồng bằng tích tụ hỗn hợp sơng

- biển, cao từ 3-6m, cấu tạo bởi cát, sét màu xám đen, xám vàng, đồng bằng tích tụ

SVTH: Đặng Thị Bích Ngọc



17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

(Nguồn: TCMT tổng hợp, năm 2011)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×