Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
(Nguồn: Phòng tài nguyên môi trường huyện Bình Sơn, 2016)

(Nguồn: Phòng tài nguyên môi trường huyện Bình Sơn, 2016)

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Võ Việt Hùng



1.2. Nguồn phát sinh

CTR được phát sinh từ các nguồn khác nhau. Các nguồn phát sinh chất thải rắn

(CTR) chủ yếu từ các hoạt động: Công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và thương mại,

khu dân cư, cơ quan, trường học, bệnh viện… như sơ đồ Hình 1.2.

Cơ quan,

trường

học,

cơng sở



Nơi cơng

cộng

nhà ga,

bến tàu

xe,

chợ…)



Nơng

nghiệp,

hoạt động

xử lý rác

thải



Bệnh

viện,

cơ sở

y tế



Khu

CN,

nhà

máy,



nghiệp

xưởng

….



Giao

thơng,

xây

dựng



Dịch

vụ

thương

mại



H



uế



Nhà

dân,

khu

dân cư



tế



Chất thải rắn



nh



Hình 2. Sơ đồ nguồn phát sinh chất thải rắn



Ki



(Nguồn: Phòng tài ngun mơi trường huyện Bình Sơn, 2016)

1.3. Thành phần chất thải rắn sinh hoạt:



c



Tùy thuộc vào từng địa phương, các mùa khí hậu, điều kiện kinh tế và nhiều yếu



họ



tố khác quyết định đến thành phần lý, hóa của chất thải rắn.Mỗi nguồn thải khác nhau



ại



lại có thành phần chất thải khác nhau.

Ví dụ: Ở khu dân cư và thương mại có thành phần chất thải đặc trưng là chất thải



Đ



thực phẩm, giấy, carton, nhựa, vải, cao su, rác vườn, gỗ, nhôm…

Chất thải từhẻm phố chứa bụi, rác, xác động vật, phụ tùng xe máy hỏng…. chất

thải thực phẩm nhựa hỗn hợp..

1.4. Tác hại của chất thải rắn

Sức khỏe con người



Tác hại



Mỹ quan

Mơi trường



SVTH: Đặng Thị Bích Ngọc



5



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Võ Việt Hùng



a. Tác hại chất thải rắn đến sức khỏe con người:

Việc xử lý CTR không hợp lý khiến mơi trường bị ơ nhiễm. Điều đó đã ảnh

hưởng rất lớn đến sức khỏe của con người, đặc biệt là người dân sống gần các khu

công nghiệp, các bãi chôn lấp. Họ có thể mắc các bệnh da liễu, viêm phế quản, đau

xương khớp vì thường xuyên phải chịu ảnh hưởng ở mức cao do bụi, mầm bệnh, các

chất độc, khí độc, các vật sắc nhọn, mảnh thủy tinh vỡ, bơm kim tiêm…

b. Tác hại chất thải rắn đến mỹ quan

Chất thải rắn, đặc biệt là chất thải rắn sinh hoạt không được thu gom, vận

chuyển, xử lý sẽ làm giảm mỹ quan đô thị. Nguyên nhân chủ yếu là do ý thức của



uế



người dân chưa cao. Tình trạng người dân vứt rác bừa bãi ra lòng lề đường và mương

c. Tác hại chất thải rắn đến mơi trường



tế



• Mơi trường khơng khí



H



rãnh hở vẫn còn phổ biến, gây ơ nhiễm nguồn nước mặt và ngập úng khi mưa.



nh



Việc đốt rác khơng được kiểm sốt ở những bãi chứa rác có thể gây ra ơ nhiễm

khơng khí nghiêm trọng và cũng sẽ gây ảnh hưởng đến những sinh vật sống. Khi rác



Ki



thải hữu cơ phân hủy tạo ra mùi khó chịu và các khí độc hữu cơ khơng những gây ơ



họ



• Mơi trường đất



c



nhiễm bầu khơng khí mà còn ảnh hưởng đến nền kinh tế, sức khỏe của con người.

Môi trường đất bị ô nhiễm bởi các nguyên nhân chủ yếu sau: do thải vào đất một



ại



khối lượng lớn chất thải cơng nghiệp như xỉ than, khai khống, hóa chất, do thải ra mặt



Đ



đất những rác thải sinh hoạt, các chất thải của quá trình xử lý nước. Việc xử lý CTR

khơng đúng theo quy trình kỹ thuật, sẽ làm ô nhiễm đến môi trường đất, từ đó dễ dẫn

đến khả năng gây ô nhiễm cây trồng và nước uống của con người. Ngồi ra, CTR chơn

lấp vào đất chứa các chất hữu cơ khó phân huỷ làm thay đổi pH của đất.

• Mơi trường nước

Khi các chất thải liên quan đến những hoạt động của con người, chủ yếu từ các

khu dân cư, chợ, bệnh viện, trường học, cơ quan… đổ trực tiếp xuống sông hồ

khôngnhững gây ô nhiễm trên bề mặt đất mà còn ảnh hưởng tới mạch nước ngầm. Khi

trời mưa, tất cả chất thải trên sẽ phân hủy tạo ra mùi khó chịu xung quanh và khi trời

mưa, chúng sẽ theo dòng nước gây ơ nhiễm môi trường nước. Một điều đáng chú ý là

SVTH: Đặng Thị Bích Ngọc



6



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Võ Việt Hùng



những chất này sẽ ngấm vào nước sinh hoạt, nước canh tác, tích lũy dần các mầm bệnh

nguy hiểm cho người và động vật. Hiện nay, có rất nhiều dòng sơng đang ô nhiễm

trầm trọng do lượng chất thải ngày càng nhiều như: sông Cầu, sông Nhuệ-sông Đáy,

Sông Đồng Nai…nếu không có biện pháp xử lý ơ nhiễm kịp thời thì trong tương lai,

nguồn nước các con sông này không thể sử dụng trong sản xuất và sinh hoạt.

2. Cơ sở thực tiễn

2.1.Tình hình quản lý chất thải rắn trên thế giới.

Hiện nay, bảo vệ mơi trường, trong đó có việc xử lý rác thải là vấn đề mang tính

tồncầu. Chính phủ các nước đang cố gắng tìm biện pháp giải quyết vấn đề này một



uế



cách hiệu quả nhất.

Ở nhiều quốc gia châu Âu và một số quốc gia tiên tiến ở Châu Á dã thực hiện



H



quản lý chất thải thông qua phân loại tại nguồn và xử lý tốt, đạt hiệu quả cao về kinh tế



tế



và môi trường. Tại các quốc gia này như Ðan Mạch, Anh, Hà Lan, Ðức (châu Âu) hay



nh



các quốc gia Nhật, Hàn Quốc, Singapo (châu Á)... việc quản lý chất thải rắn được thực

hành rất nghiêm quy định này.



Ki



hiện rất chặt chẽ, công tác phân loại và thu gom rác đã thành nề nếp và người dân chấp



c



Các loại rác thải có thể tái chế được như giấy loại, chai lọ thủy tinh, vỏ đồ hộp...



họ



được thu gom vào các thùng chứa riêng. Ðặc biệt, rác thải nhà bếp có thành phần hữu

cơ dễ phân hủy được yêu cầu phân loại riêng đựng vào các túi có màu sắc theo đúng



ại



quy định thu gom hàng ngày để đưa đến nhà máy sản xuất phân compost. Ðối với các



Đ



loại rác bao bì có thể tái chế, người dân mang đến thùng rác đặt cố định trong khu dân

cư, hoặc có thể gọi điện để bộ phận chun trách mang đi nhưng phải thanh tốn phí

thơng qua việc mua tem dán vào các túi rác này theo trọng lượng. Ðối với chất thải

công nghiệp, các công ty đều phải tuân thủ quy định phân loại riêng từng loại chất thải

trong sản xuất và chất thải sinh hoạt của nhà máy để thu gom và xử lý riêng biệt. Với

các sản phẩm sau khi sử dụng sinh ra nhiều rác, chính quyền u cầu các cơng ty ngay

từ giai đoạn thiết kế xây dựng phải dự kiến nơi chứa các sản phẩm thải loại của mình

hoặc trong giá bán sản phẩm đã phải tính đến chi phí thu gom và xử lý lượng rác thải.

+ Ngành tái chế rác ở Đức đang dẫn đầu trên thế giới hiện nay. Việc phân loại

rác đã được thực hiện nghiêm túc ở Đức từ năm 1991. Rác bao bì gồm hộp đựng thức

SVTH: Đặng Thị Bích Ngọc



7



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Võ Việt Hùng



ăn, nước hoa quả, máy móc bằng nhựa, kim loại hay bìa các tơng được gom vào thùng

màu vàng. Bên cạnh thùng vàng, còn có thùng xanh dương cho giấy, thùng xanh lá cây

cho rác sinh học, thùng đen cho thủy tinh.

+ Tại Nhật, chuyển từ hệ thống quản lý chất thải truyền thống với dòng nguyên

liệu xử lý theo mơ hình 3R ( reduce, reuse, recycle). Về thu gom chất thải rắn sinh

hoạt, các hộ gia đình được yêu cầu phân chia rác thành 3 loại: Rác hữu cơ dễ phân

hủy, rác khó tái chế nhưng có thể cháy và có thể tái chế. Các loại rác này được yêu cầu

đựng riêng trong những túi có màu sắc khác nhau và các hộ gia đình phải tự mang ra

điểm tập kết rác của cụm dân cư vào giờ quy định, dưới sự giám sát của đại diện cụm



uế



dân cư. Nếu gia đình nào khơng phân loại rác, để lẫn lộn vào một túi thì ban giám sát

sẽ báo lại với công ty và ngay hôm sau gia đình đó sẽ bị cơng ty vệ sinh gửi giấy báo



H



đến phạt tiền.



tế



+ Tại Singapore, nhiều năm qua đã hình thành một cơ chế thu gom rác rất hiệu



nh



quả. Việc thu gom rác được tổ chức đấu thầu công khai cho các nhà thầu. Công ty

trúng thầu sẽ thực hiện công việc thu gom rác trên một địa bàn cụ thể trong thời hạn 7



Ki



năm. Singapore có 9 khu vực thu gom rác, rác thải sinh hoạt được đưa về một khu vực



c



bãi chứa lớn. Công ty thu gom rác sẽ cung cấp dịch vụ “từ cửa đến cửa”, rác thải tái



họ



chế được thu gom và xử lý theo chương trình tái chế quốc gia. (Lê Huỳnh Mai,

Nguyễn Mai Phong 2009).



ại



2.2.Tình hình quản lý chất thải rắn tại Việt Nam



Đ



Đi kèm với sự phát triền kinh tế là các vấn đề ơ nhiễm mơi trường, trong đó có

vấn đề ơ nhiễm do chất thải rắn. Chất thải rắn (CTR) gia tăng nhanh chóng về lượng,

thành phần ngày càng phức tạp và vẫn chưa được phân loại tại nguồn, gây khó khăn

cho cơng tác xử lý. Mơ hình thí điếm áp dụng phân loại CTR tại nguồn còn nhiều bất

cập như sau khi người dân phân loại, CTR lại bị đổ chung vào cùng một xe vận

chuyển; Các đô thị chưa quy hoạch các điểm tập trung CTR và thiếu các trạm trung

chuyển CTR; việc tổ chức quản lý CTR còn chồng chéo, thiếu thống nhất cả ở cấp

Trung ương và địa phương.

Cơng cuộc cơng nghiệp hóa ở Việt Nam đang diễn ra mạnh mẽ, với sự hình

thành và phát triển của các ngành nghề sản xuất, sự gia tăng nhu cầu tiêu dùng hàng

SVTH: Đặng Thị Bích Ngọc



8



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Võ Việt Hùng



hóa, nguyên vật liệu, năng lượng... là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của

đất nước. Tuy nhiên, đi kèm với sự phát triển kinh tế đó là vấn đề ơ nhiễm môi trường,

đặc biệt là ô nhiễm do CTR.

Việc thu gom, vận chuyến, xử lý và tiêu hủy CTR đã và đang trở thành một bài

tốn khó đối với các nhà quản lý. CTR gia tăng nhanh chóng về lượng, đa dạng về

thành phần và chưa được phân loại tại nguồn, gây khó khăn cho các cơng tác xử lý.

Cơng tác thu gom, quản lý CTR đô thị mặc dù ngày càng được chính quyền các

cấp quan tâm nhưng vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra.

Theo báo cáo môi trường quốc gia năm 2011, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt



uế



phát sinh tại các đô thị trên tồn quốc tăng trung bình 10-16% mỗi năm, chiếm khoảng

60-70% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt. Năm 2014, khối lượng chất thải rắn sinh



H



hoạt phát sinh trên toàn quốc khoảng 23 triệu tấn tương đương với khoảng 63.000



tế



tấn/ngày, trong đó, chất thải rắn sinh hoạt đơ thị phát sinh khoảng 32.000 tấn/ngày.



nh



Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt hiện nay tại khu vực nội thành của các đơ

thị trung bình đạt khoảng 85% và tại khu vực ngoại thành của các đơ thị trung bình đạt



Ki



khoảng 60% so với lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh. Tỷ lệ thu gom chất thải rắn



c



sinh hoạt tại khu vực nơng thơn còn thấp, trung bình đạt khoảng 40-55% so với lượng



họ



chất thải rắn sinh hoạt phát sinh. Nhìn chung, chất thải rắn sinh hoạt được xử lý chủ

yếu bằng hình thức chơn lấp, sản xuất phân hữu cơ và đốt. Tính đến quý I năm 2014,



ại



trong khn khổ “Chương trình xử lý chất thải rắn giai đoạn 2011-2020” đã có 26 cơ



Đ



sở xử lý chất thải rắn tập trung được đầu tư xây dựng theo hoạch xử lý chất thải rắn

của các địa phương



2.2.1. Tình hình phát sinh CTR đô thị trong những năm gần đây

Tổng lượng CTR sinh hoạt ở các đô thị phát sinh trên tồn quốc tăng trung bình

10 - 16% mỗi năm, trong đó CTR sinh hoạt chiếm khoảng 60 - 70% tổng lượng CTR

đô thị.

Từ kết quả dự báo ở bảng trên thì lượng CTR sinh hoạt đơ thị năm 2015 tăng gấp

1,6 lần, năm 2020 tăng 2,37 lần, năm 2025 gấp 3,2 lần so với năm 2010. CTR gia tăng

có nguyên nhân do dân số đô thị tăng (từ 25,5 triệu năm 2009 lên 52 triệu năm 2025)

và do bình quân CTR/đầu người tăng (0,95kg/người/ngày năm 2009 lên

SVTH: Đặng Thị Bích Ngọc



9



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Võ Việt Hùng



l,6kg/người/ngày năm 2025). Đây sẽ là áp lực lớn đối với công tác quản lý CTR đô thị

trong thời gian tới.

Bảng 1: CTR đô thị phát sinh các năm 2009 – 2010 và dự báo đến năm 2025

Nội dung



2009



2010



2015



2020



2025



Dân số đô thị (triệu người)



25,5



26,22



35



44



52



% dân số đô thị so với cả nước



29,74



30,2



38



45



50



1,0



1,2



1,4



1,6



Chỉ số phát sinh CTR đô thị (kg/người/ngày) 0,95

Tổng lượng CTR đô thị phát sinh (tấn/ngày)



24,225 26,224 42,000 61,600 83,200

(Nguồn: TCMT tổng hợp, năm 2011)



uế



2.2.2. Công tác phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải rắn đô thị

3R (Reduce, Reuse, Recycle), hay 3T (Tiết giảm, Tái sử dụng, Tái chế) với nền



H



tảng cơ bản là hoạt động phân loại tại nguồn. Phân loại CTR tại nguồn có ưu điểm:



tế



Giảm được lượng chất thải phải xử lý -> Tiết kiệm được chi phí xử lý; Tiết kiệm tài



nh



nguyên do tái chế, tái sử dụng chất thải -> Khai thác ít tài nguyên thiên nhiên -> Giảm

tác động đến môi trường.



Ki



Các thành phố áp dụng thử nghiệm phân loại rác tại nguồn như TP. HCM, Hà



c



Nội, Đà Nẵng... đã thu được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, chương trình này



họ



vẫn chưa được triển khai rộng rãi vì nhiều lý do như: chưa đủ nguồn lực tài chính để

mua sắm trang thiết bị, đầu tư cơ sở hạ tầng cũng như nguồn nhân lực thực hiện; CTR



ại



sau khi được người dân tiến hành phân loại tại nguồn lại bị thu gom và đổ lẫn lộn vào



Đ



xe vận chuyển để mang đến bãi chôn lấp chung; tỷ lệ người dân tự nguyện tham gia

phân loại rác chỉ chiếm khoảng 70%, một số người tham gia cũng thực hiện chưa tốt.

Công tác thu gom CTR đơ thị mặc dù ngày càng được chính quyền các cấp quan

tâm, tỷ lệ thu gom vẫn chưa đạt yêu cầu. Tuy tỷ lệ thu gom ở các đô thị tăng từ 72%

năm 2004 lên 80% - 82% năm 2008 và đạt khoảng 83 - 85% năm 2010 nhưng vẫn còn

khoảng 15 - 17% CTR đơ thị bị thải bỏ bừa bãi gây ô nhiễm môi trường.

Quyết định 04/2008/QĐ-BXD của Bộ Xây dựng về quy hoạch xây dựng đưa ra

quy chuẩn về tỉ lệ thu gom: đô thị đặc biệt và loại I là 100%, đô thị loại II> 95%, đô thị

loại III - IV > 90%, đô thị loại V > 85%. Tính đến nay, tỷ lệ thu gom của phần lớn các

đô thị vẫn chưa đạt được quy chuẩn này.

SVTH: Đặng Thị Bích Ngọc



10



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Võ Việt Hùng



Để giải được bài toán quản lý CTR hiện nay nhất thiết phải xây dựng lộ trình

phân loại CTR tại nguồn, đặc biệt là khi triển khai các dự án này, phải tính tốn các

phương tiện, trang thiết bị thu gom các loại CTR riêng biệt và vạch tuyến thu gom cho

từng loại CTR, tránh tình trạng sau khi người dân phân loại rồi các đơn vị thu gom lại

đổ vào cùng một xe thu gom lẫn lộn. Các tuyến xe thu gom phải tính tốn thiết kế sao

cho quãng đường đi thu gom là ngắn nhất, số lượng xe cần thu gom ít nhất và tránh

dồn vào cùng một tuyến đường gây áp lực giao thông.

Hiện nay phương thức thu gom CTR sơ cấp (từ nơi phát sinh đến điểm tập trung

CTR) dùng xe đẩy tay 3 bánh đi qua các nhà đang bộc lộ những hạn chế:



uế



- Phương tiện cũ kỹ và lạc hậu, bị dò nước rỉ rác trong q trình đẩy xe đi thu gom.

- Các xe đẩy tay thường chở quá tải làm cho rác bị rơi vãi dọc tuyến đường thu gom.



H



- Người dân chỉ được đổ rác 1 ngày/lần, nhiều khi muốn dọn rác khơng có chỗ để



tế



đổ nên cứ cho vào túi nilon rồi vút ra đường, gây mất mỹ quan đô thị và ảnh hưởng



nh



xấu đến môi trường.



Phương thúc thu gom thứ cấp (từ điểm tập trung đến trạm trung chuyển hoặc khu



Ki



xử lý CTR) hiện thường dùng các xe nén ép có dung tích lớn từ 8 – 15m3, thậm chí



c



đến 20m3 điều này có những hạn chế sau:



họ



- Xe chỉ đi thu gom được trên những đường lớn nên CTR từ các hộ gia đình trong

ngõ phải vận chuyển khá xa để ra đường lớn đến điểm tập kết CTR.



ại



- Xe chỉ được phép hoạt động trong một số giờ nhất định để không ảnh hưởng



Đ



đến giao thơng đơ thị. Do đó CTR bị tồn đọng trong đô thị.

Giải pháp thu gom sơ cấp là tổ chức thu theo nhóm nhà. Ngồi vỉa hè, trước cửa

một nhóm nhà sẽ bố trí các thùng đựng rác với dung tích và màu sắc khác nhau. Các

thùng đựng rác này kích thước vừa phải, có nắp đậy, dán nhãn ký hiệu loại rác được bỏ

và phải được dọn thường xun, khơng gây mất cảnh quan và gây mùi khó chịu. cần

phải tổ chức thu gom nhiều lần trong ngày với các phương tiện nhỏ, phù họp vệ sinh

như xe đẩy ba bánh cải tiến (thùng chứa rác chia ngăn đựng các loại rác khác nhau, có

nắp cho từng ngăn để khi đổ loại rác nào vào xe nén ép thì khóa nắp các ngăn còn lại).

Xe thu gom có gắn động cơ để thu gom nhanh chóng vận chuyển về các xe ép rác nhỏ.



SVTH: Đặng Thị Bích Ngọc



11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

(Nguồn: Phòng tài nguyên môi trường huyện Bình Sơn, 2016)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×