Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: PGS.TS Bùi Dũng Thể



PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH

SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG

1.1. Cơ sở lý thuyết

1.1.1. Khái niệm và phân loại

1.1.1.1. Một số khái niệm cơ bản

Để hiểu được khái niệm chi trả dịch vụ môi trường rừng, cần bắt đầu với khái

niệm môi trường rừng. Điều 3, Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính

Phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (Nghị định 99/2010/NĐ-CP) đã nêu



uế



rõ:



H



“Môi trường rừng bao gồm các hợp phần của hệ sinh thái rừng: thực vật, động

vật, vi sinh vật, nước, đất, khơng khí, cảnh quan thiên nhiên. Mơi trường rừng có các



tế



giá trị sử dụng đối với nhu cầu của xã hội và con người, gọi là giá trị sử dụng của môi



nh



trường rừng, gồm: bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước, phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ



Ki



ven biển, phòng chống thiên tai, đa dạng sinh học, hấp thụ và lưu giữ các bon, du lịch,

nơi cư trú và sinh sản của các loài sinh vật, gỗ và lâm sản khác” [4].



c



Điều 3, Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 cũng đã nêu rõ: “Dịch vụ



họ



môi trường rừng là việc cung ứng các giá trị sử dụng của môi trường rừng để đáp ứng



ại



các nhu cầu của xã hội và đời sống của nhân dân”.

Chi trả dịch vụ môi trường theo định nghĩa của Wunder (2005) bao gồm năm



Đ



yếu tố chính là: giao dịch tự nguyện, một dịch vụ môi trường được xác định rõ ràng,

có ít nhất một người mua dịch vụ, ít nhất một người cung cấp dịch vụ, và phải có tính

điều kiện (người mua chỉ chi trả khi mà người cung cấp đảm bảo việc cung cấp dịch

vụ được diễn ra liên tục). [23]

Đưa ra những cách lý giải khác, Mayrand và Paquin (2004) cho rằng: “Ý

tưởng cơ bản về “chi trả dịch vụ môi trường” là tạo ra lợi ích cho các cá nhân và cộng

đồng để bảo vệ các dịch vụ môi trường bằng cách bồi hồn cho họ khoản chi phí phát

sinh từ việc quản lý và cung cấp những dịch vụ này. Sự bồi hồn hoặc đền đáp có thể



SVTH: Mai Thị Khánh Vân



4



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: PGS.TS Bùi Dũng Thể



dưới hình thức chi trả trực tiếp, lợi ích tài chính hoặc hiện vật như là sự tiếp cận thị

trường” (Gouyon 2002; Van Noordwijk 2005). [18, 15, 21]

Theo quy định của Luật pháp Việt Nam: tại Khoản 2 và Khoản 3, Điều 3 Nghị

định số 99/2010/NĐ-CP thì DVMTR là cơng việc cung ứng các giá trị sử dụng của

môi trường rừng để đáp ứng các nhu cầu của xã hội và đời sống nhân dân. Chi trả

DVMTR là quan hệ cung ứng và chi trả giữa bên sử dụng DVMTR trả tiền cho bên

cung ứng DVMTR. [4]

1.1.1.2. Phân loại các dịch vụ môi trường rừng được chi trả



uế



Theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 99/2010/NĐ-CP, loại DVMTR



H



được chi trả gồm:



tế



1/ Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sơng, lòng suối;

2/ Điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội;



nh



3/ Dịch vụ hấp thụ và lưu giữ cacbon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng



Ki



nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và



c



phát triển rừng bền vững;



họ



4/ Bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái

rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch;



ại



5/ Dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn



Đ



nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản.

1.1.2. Khung pháp lý và cơ cấu thể chế cho chi trả dịch vụ môi trường rừng

Bên cạnh việc ban hành Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/09/2010 về chính

sách chi trả DVMTR để áp dụng cơ chế này trên toàn quốc. Nhà nước cũng đưa ra một

loạt các Nghị định, Thông tư hướng dẫn khác (xem hộp 1) nhằm đảm bảo chính sách

chi trả DVMTR có thể triển khai thực hiện một cách nhanh chóng và thống nhất trên

cả nước, đồng thời vẫn phù hợp với thực tế ở các địa phương (Nguyễn Việt Dũng &

Nguyễn Hải Vân, 2015). [16]



SVTH: Mai Thị Khánh Vân



5



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: PGS.TS Bùi Dũng Thể



Hộp 1. Các nghị định, thông tư hướng dẫn thực hiện chính sách chi trả DVMTR





Quy định về tổ chức, quản lý: Nghị định 05/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm

2008 của Chính phủ về Quỹ BVPTR; Thông tư 85/2012/TT-BTC ngày 25 thấng 5

năm 2012 của Bộ Tài chính về hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với Quỹ

BVPTR;







Quy định về chi trả: Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm 2010 của

Chính phủ về chính sách chi trả DVMTR; Quyết định 2284/QĐ-TTg ngày 13 tháng

12 năm 2010 của Thủ tướng về phê duyệt đề án triển khai Nghị định 99/2010/NĐ-



uế



CP; Thông tư 80/2011/TT-BNNPTNT ngày 23 tháng 11 năm 2011 của Bộ NNPTNT hướng dẫn phương pháp xác định tiền chi trả DVMTR; Thông tư



H



20/2012/TT-BNNPTNT ngày 07 tháng 5 năm 2012 của Bộ NN-PTNT về hướng



tế



dẫn trình tự thủ tục nghiệm thu thanh tốn chi trả DVMTR; Thông tư liên tịch

62/2012/TTLT-BNTPTNT-BTC ngày 16 tháng 11 năm 2012 về hướng dẫn cơ chế



Quy định về xử lý vi phạm: Nghị định 40/2015/NĐ-CP ngày 27 tháng 4 năm 2015



Ki







nh



quản lý sử dụng tiền chi trả DVMTR;



của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo



họ



c



vệ rừng và quản lý lâm sản (sửa đổi Nghị định 157/2013/NĐ-CP, bao gồm xử lý vi

phạm quy định chi trả DVMTR).



ại



(Nguồn: Nguyễn Việt Dũng & Nguyễn Hải Vân, (2015). Chính sách chi trả dịch vụ



Đ



môi trường rừng và tác động đến hệ thống quản trị lâm nghiệp địa phương)



Ngồi những chính sách có nội dung liên quan đến chi trả DVMTR, Chính

phủ cũng tiếp tục ban hành các chính sách khác nhằm hỗ trợ, thúc đẩy thực hiện các

mục tiêu, kế hoạch ngắn hạn, trung hạn trong QLBVR. Khoản tiền được chi trả từ

DVMTR cũng đã và đang được xác định như một nguồn vốn tài chính quan trọng giúp

hiện thực hóa các nội dung và mục tiêu của một loạt các chính sách lâm nghiệp mới

được ban hành trong giai đoạn từ 2010 đến 2015. (Hộp 2)



SVTH: Mai Thị Khánh Vân



6



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: PGS.TS Bùi Dũng Thể



Hộp 2. Các chính sách được lồng ghép thực hiện chi trả DVMTR





Nghị định 117/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ về tổ chức

và quản lý hệ thống rừng đặc dụng;







Quyết định 57/2012/QĐ-TTg ngày 09 tháng 01 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ

phê duyệt kế hoạch BVPTR giai đoạn 2011-2020;







Quyết định 07/2012/QĐ-TTg ngày 08 tháng 02 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ

ban hành một số chính sách tăng cường cơng tác bảo vệ rừng;

Quyết định 24/2012/QĐ-TTg ngày 01 tháng 06 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ



uế











H



về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011-2020;

Quyết định 17/2015/QĐ-TTg ngày 09 tháng 06 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ



tế



ban hành quy chế quản lý rừng phòng hộ;



Nghị định 118/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ về sắp xếp,



nh







Ki



đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp.



c



(Nguồn: Nguyễn Việt Dũng & Nguyễn Hải Vân, (2015). Chính sách chi trả dịch vụ



họ



môi trường rừng và tác động đến hệ thống quản trị lâm nghiệp địa phương)

Đối với Cơ cấu thể chế: Hoạt động chi trả DVMTR tại Việt Nam phụ thuộc



ại



phần lớn vào các Quỹ Bảo vệ và Phát triển Rừng được thành lập ở cấp Trung ương và



Đ



cấp tỉnh (Hình 1.1). Trong cơ cấu này, nhiệm vụ và vai trò của các bên liên quan đã

được xác định rõ.



SVTH: Mai Thị Khánh Vân



7



GVHD: PGS.TS Bùi Dũng Thể



uế



Khóa luận tốt nghiệp



H



Hình 1.1. Thiết kế khung thể chế cho chính sách chi trả DVMTR và mối quan hệ



tế



giữa các bên liên quan, quy định tại Nghị định 99

(Nguồn: Phạm Thu Thủy và cộng sự (2013). Báo cáo chuyên đề Chi trả dịch vụ mơi



nh



trường rừng tại Việt Nam từ chính sách đến thực tiễn)



Ki



1.2. Cở sở thực tiễn



họ



c



1.2.1. Sự ra đời của chính sách chi trả DVMTR trên thế giới

Trong bài viết “Chính sách chi trả dịch vụ mơi trường rừng và vai trò của nhà nước” của tác



ại



giả Đỗ Trọng Hồn, Trung tâm Nghiên cứu Nơng Lâm Thế giới (ICRAF) tại Việt Nam



Đ



(2016), lịch sử hình thành của ý tưởng “chi trả dịch vụ môi trường” bắt nguồn từ lý

thuyết kinh tế học tân tự do. Trong đó cho rằng thị trường có khả năng phân bổ tối ưu

tài nguyên và hàng hóa (bao gồm cả các dịch vụ môi trường) với điều kiện là các

quyền sở hữu được phân định rõ ràng. Định nghĩa về chi trả dịch vụ môi trường

(Wunder, 2005) đang được sử dụng rộng rãi là một ví dụ tiêu biểu cho lý thuyết

này.[17]

Trong bài giới thiệu về “Chi trả dịch vụ môi trường: Kinh nghiệm quốc tế”

của tác giả Phạm Thu Thủy và cộng sự (2014), lịch sử hình thành của Chi trả dịch vụ

môi trường được bắt đầu ở Châu Âu và Bắc Mỹ từ thập niên 70 của thế kỷ 20, sau đó



SVTH: Mai Thị Khánh Vân



8



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: PGS.TS Bùi Dũng Thể



lan rộng ra các nước Mỹ Latin, Châu Á, Châu Phi và cuối cùng là Châu Đại Dương



H



uế



vào năm 2008. [20]



tế



Hình 1.2. Lịch sử phát triển của Chi trả dịch vụ môi trường



nh



(Nguồn: Phạm Thu Thủy và cộng sự (2014). Chi trả dịch vụ môi trường: Kinh nghiệm

quốc tế)



Ki



Hiện nay có khoảng 400 chương trình, dự án Chi trả dịch vụ mơi trường trên



c



tồn cầu. CIFOR đã thực hiện nghiên cứu trên 96 chương trình Chi trả dịch vụ mơi



họ



trường khắp thế giới. Cụ thể: 6 chương trình ở Bắc Mỹ; 9 chương trình ở Châu Âu; 31

chương trình ở Mỹ Latin; 33 chương trình ở Châu Á; 12 chương ở Châu Phi và 5



ại



chương trình ở Châu Úc.



Đ



Trong đó, dịch vụ mơi trường rừng được chi trả chủ yếu liên quan tới bảo vệ

nguồn nước (chiếm 51%), còn khoản chi trả cho rừng ngập mặn là ít nhất với chỉ 1%.

(Hình 1.3)



SVTH: Mai Thị Khánh Vân



9



GVHD: PGS.TS Bùi Dũng Thể



H



uế



Khóa luận tốt nghiệp



tế



Hình 1.3. Các dịch vụ mơi trường rừng đang được chi trả



nh



(Nguồn: Phạm Thu Thủy và cộng sự (2014). Chi trả dịch vụ môi trường: Kinh nghiệm

quốc tế)



Ki



Trước đó, theo bài đăng của Phạm Thu Thảo trên trang web của Quỹ Bảo vệ và Phát



c



triển rừng tỉnh Lâm Đồng, năm 2013, Tổ chức nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế



họ



(CIFOR) đã tiến hành tổng kết kinh nghiệm từ việc thiết kế và thực thi Chi trả dịch vụ

môi trường tại 13 nước: Bolivia, Brazil, Burkina Faso, Cameroon, Cộng hòa Dân chủ



ại



Congo, Indonesia, CHDCND Lào, Mozambique, Nepal, Papua New Guinea, Peru,



Đ



Tanzania và Việt Nam. [25]

Ở 13 nước nghiên cứu, Chi trả dịch vụ mơi trường đều được kì vọng như một

động lực mới thúc đẩy các thành phần xã hội tham gia vào công tác bảo vệ và phát

triển rừng. Tuy nhiên, cho tới nay mới chỉ có Brazil và Việt Nam đã có chương trình

Chi trả dịch vụ môi trường quốc gia với những thành tựu nổi bật.Tại 11 nước còn lại,

Chi trả dịch vụ mơi trường được thực hiện dưới dạng dự án và hiện nay Indonesia và

Peru cũng đang trong tiến trình xây dựng dự thảo chương trình Chi trả dịch vụ mơi

trường quốc gia.

Tuy ở cả 13 nước có quy mơ và ưu tiên thực hiện Chi trả dịch vụ môi trường

khác nhau, nghiên cứu chỉ ra rằng cả 13 nước đang gặp phải những thách thức chung

SVTH: Mai Thị Khánh Vân



10



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: PGS.TS Bùi Dũng Thể



trong công tác triển khai và đảm bảo tính bền vững của Chi trả dịch vụ mơi trường.

Hai vấn đề nổi cộm là tính hiệu quả của Chi trả dịch vụ môi trường và cơ chế chia sẻ

lợi ích từ nguồn thu của nó. Phần lớn các nước nghiên cứu đều kì vọng Chi trả dịch vụ

mơi trường cũng sẽ là một cơng cụ xóa đói giảm nghèo. Kinh nghiệm ở các Châu Mỹ

Latin cho thấy có thể một bộ phận người nghèo được hưởng lợi, nhưng các lợi ích này

nhìn chung còn hạn chế hoặc khơng rõ ràng.

1.2.2. Khái qt về chính sách chi trả DVMTR và tình hình thực hiện ở Việt Nam

Từ năm 2004, Chính phủ Việt Nam đã thiết lập cơ sở pháp lý nhằm thực hiện

chương trình quốc gia về chi trả dịch vụ môi trường rừng thông qua Luật Bảo vệ và



uế



Phát triển rừng sửa đổi (2004). Năm 2008, Quyết định số 380/QĐ-TTg của Thủ tướng



H



Chính phủ đã cho phép thí điểm Chính sách chi trả DVMTR tại tỉnh Sơn La và Lâm

Đồng. Năm 2010, Nghị định số 99/2010/NĐ-CP đã được ban hành nhằm triển khai



tế



Chính sách chi trả DVMTR trên phạm vi tồn quốc từ 1/1/2011. Có thể nói, Việt Nam



nh



đã trở thành quốc gia đầu tiên tại châu Á ban hành và triển khai chính sách chi trả



Ki



DVMTR ở cấp quốc gia (Phạm Thu Thủy và cộng sự, 2013). [19]

Với nội dung đồng bộ, triển khai thống nhất trên tồn quốc, chỉ sau 5 năm



họ



c



thực hiện, chính sách chi trả DVMTR đã thu được những kết quả, thành tựu đáng ghi

nhận ở cả bốn khía cạnh chính sách – thể chế, kinh tế, môi trường và xã hội. (Nguyễn



ại



Việt Dũng & Nguyễn Hải Vân, 2015) [16]



Đ



Về mặt tổ chức – thể chế, một hệ thống thực hiện chi trả đồng bộ, thống nhất

từ trung ương đến địa phương, với 01 Quỹ BVPTR trung ương; 37 Quỹ BVPTR và 41

Ban chỉ đạo triển khai chính sách ở cấp tỉnh, cùng một số Ban chi trả cấp huyện, Quỹ

BVPTR cấp xã hay các đầu mối chi trả (Hạt Kiểm lâm, chủ rừng tổ chức, UBND xã)

đã dần được hình thành và hoạt động ổn định từ năm 2011 đến 2015. Cơ chế tài chính

ủy thác chi trả cho 2 loại dịch vụ chính (cung ứng nguồn nước và du lịch sinh thái)

được vận hành với 410 hợp đồng ủy thác chi trả DVMTR đã được các Quỹ BVPTR ký

kết với các công ty thủy điện (285 hợp đồng) các công ty cấp nước (80 hợp đồng) và

công ty du lịch (44 hợp đồng) tính đến tháng 11/2015.



SVTH: Mai Thị Khánh Vân



11



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: PGS.TS Bùi Dũng Thể



Về mặt kinh tế, chính sách này phản ánh một dạng thức của mơ hình đối tác

cơng-tư trong lĩnh vực QLBVR, mà trong đó cả nhà nước, doanh nghiệp và người dân

đều tham gia đóng góp (nhân lực, lao động và chi phí) và cùng hưởng lợi. Gần 5.100

tỷ đồng chi trả DVMTR đã thu được trong giai đoạn 2011-2015, tương đương với mức

thu trung bình ổn định từ 1.000-1.300 tỷ đồng/năm đã giúp dỡ bỏ được một phần gánh

nặng cho ngân sách nhà nước chi cho hoạt động lâm nghiệp, tương đương 2225%/năm. Chính sách này đã giúp “nâng tầm” ngành lâm nghiệp, từ tình trạng phụ

thuộc cao vào ngân sách chi trả sang trạng thái từng bước tự chủ hơn thông qua huy

động nguồn vốn xã hội cho hoạt động bảo vệ rừng.

khía



cạnh



uế



Về



mơi trường – xã hội 3,



H



đây được coi là khía



tế



cạnh khó đánh giá nhất



nh



do thiếu hụt một hệ

thống giám sát – đánh



Ki



giá toàn diện, với đủ cơ



họ



Tuy nhiên, vẫn có một



c



sở khoa học và pháp lý.



số kết quả ban đầu được ghi nhận như 3-5 triệu ha rừng, chủ yếu là rừng tự nhiên,



ại



đang được hỗ trợ quản lý và bảo vệ bằng nguồn tiền chi trả DVMTR. Trên tồn quốc,



Đ



có 348.000 hộ gia đình, 5.700 nhóm hộ và cộng đồng đã được tạo và duy trì việc làm

(thêm) từ tham gia nhận khoán QLBVR và được chi trả tiền DVMTR; bổ sung vào thu

nhập của các hộ bình qn 1,8 triệu đồng/hộ/năm, thậm chí còn đạt mức 10-12 triệu

đồng/hộ/năm ở một số khu vực của tỉnh Lâm Đồng, Kon Tum hay Quảng Nam.

Bên cạnh những kết quả, thành tựu được ghi nhận nói trên, bản thân chính

sách chi trả DVMTR khi đi vào thực tế cũng bộc lộ nhiều vấn đề, lỗ hổng cần được

xem xét sửa đổi để đảm bảo những mục tiêu nền tảng ban đầu của chính sách này được

thực thi hiệu quả hơn. Cụ thể:

3



Nguồn ảnh: Internet



SVTH: Mai Thị Khánh Vân



12



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: PGS.TS Bùi Dũng Thể



Thứ nhất, về mặt ý tưởng, chi trả DVMTR là một cơ chế tài chính theo hướng

tiếp cận thị trường; nhưng khi triển khai trong thực tế, chính sách này đã và đang được

vận hành theo một mơ hình “lai ghép” bởi những can thiệp mạnh mẽ của nhà nước

thơng qua các quy định cứng (ví dụ, như đối với đơn giá chi trả).

Thứ hai, theo quy định hiện hành, nhà nước có trách nhiệm đầu tư ngân sách

để bảo vệ tài nguyên rừng tự nhiên, vì vậy tình trạng sử dụng nguồn thu từ chi trả

DVMTR để thay thế cho ngân sách QLBVR, mà không phải là một nguồn bổ trợ cần

xem xét lại.

Thứ ba, Nghị định 99/2010/NĐ-CP đã quy định 05 chức năng cung cấp dịch



uế



vụ môi trường của rừng, nhưng đến nay mới chỉ có 02 chức năng là cung cấp, điều tiết

nguồn nước và cung cấp cảnh quan tự nhiên cho du lịch được khai thác.



H



Thứ tư, việc đánh giá hiệu quả chi trả DVMTR tại địa phương cần xem xét



tế



mức độ đóng góp của nguồn tiền được chi trả đối với kinh tế hộ gia đình cũng như



nh



phát triển kinh tế-xã hội địa phương. (Nguyễn Việt Dũng & Nguyễn Hải Vân, 2015)



Ki



1.2.3. Khái qt tình hình thực hiện chính sách chi trả DVMTR ở tỉnh Thừa Thiên

Huế



c



Trong giai đoạn từ 2002-2012, khi Việt Nam thực hiện các dự án thí điểm Chi



họ



trả DVMTR, Thừa Thiên Huế là một trong các địa phương tham gia, với dự án: Triển

vọng tài chính bền vững tại các khu bảo tồn Thừa Thiên Huế (2007-2008) (Phạm Thu



ại



Thủy và cộng sự, 2013). [19]



Đ



Từ năm 2011, Thừa Thiên Huế bắt đầu đi vào thực hiện đại trà chính sách chi

trả DVMTR. Vào ngày 09 tháng 03 năm 2017, Quỹ BVPTR Thừa Thiên Huế đã công

bố Báo cáo tổng kết 06 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên

địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế (2011 – 2016). [8] Trong bản Báo cáo đã nêu lên một số

kết quả trong q trình thực hiện chính sách như sau:

Ngay từ những ngày đầu hoạt động, Quỹ đã triển khai ký hợp đồng ủy thác đối

với các tổ chức sử dụng DVMTR. Tính đến tháng 3 năm 2017, đã ký được 7/7 Hợp

đồng ủy thác chi trả DVMTR từ các đơn vị sử dụng DVMTR gồm:

-



Công ty CP đầu tư HD (Nhà máy Thủy điện Hương Điền);



SVTH: Mai Thị Khánh Vân



13



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: PGS.TS Bùi Dũng Thể



-



Cơng ty CP Thủy điện Bình Điền (Nhà máy Thủy điện Bình Điền);



-



Cơng ty CP Thủy điện miền Trung (Nhà máy Thủy điện A Lưới);



-



Công ty CP Thủy điện Thượng Lộ (Nhà máy Thủy điện Thượng Lộ);



-



Công ty lưới điện cao thế miền Trung (Nhà máy Thủy điện A Rồng);



-



Cơng ty CP TĐ Bitexco Tả Trạch (Nhà máy Thủy điện Tả Trạch);



-



Cơng ty CP Cấp nước Thừa Thiên Huế.



Để có cơ sở cho việc chi trả tiền DVMTR, Quỹ BV-PTR Thừa Thiên Huế đã

tiến hành rà soát hiện trạng và chủ rừng của các lưu vực. Qua đó, xây dựng và tổ chức



uế



thực hiện 17 phương án chi trả DVMTR, gồm 14 phương án của các lưu vực thủy điện



H



và 03 phương án của lưu vực nguồn nước. Diện tích rừng chi trả DVMTR là



tế



121.227ha, thuộc 06 huyện, thị xã gồm huyện A Lưới, Nam Đông, Phong Điền, Phú

Lộc, thị xã Hương Trà và thị xã Hương Thủy. Chủ rừng cung ứng DVMTR gồm có



nh



511 đơn vị, trong đó:



Chủ rừng là tổ chức nhà nước: 9 đơn vị, diện tích 97.739,3 ha



-



Chủ rừng là Ban QLR CĐ: 75 đơn vị, diện tích 11.161,8 ha



-



Chủ rừng là nhóm hộ: 205 đơn vị, diện tích 11.401,2 ha



-



Chủ rừng là hộ gia đình: 222 đơn vị, diện tích 924,7 ha



ại



họ



c



Ki



-



Đ



Tính đến ngày 28/02/2017, tổng tiền DVMTR thu được là 97.689.597.179

đồng. Tổng số tiền đã chi là 54.122.950.770 đồng. Cụ thể:



SVTH: Mai Thị Khánh Vân



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phạm vi nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×