Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 2: Các vi khuẩn nitrate hoá.

Hình 2: Các vi khuẩn nitrate hoá.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Q trình lắng bơng bùn trong bể lắng là một quá trình

lắng dạng ly tâm. Nước thải sau khi được xử lý hiếu khí trong

bể Aerobic theo ống thơng đi vào ống tâm của bể lắng bông

bùn. Ống tâm hướng dòng nước chảy xuống, cuối ống tâm có

dạng phểu loe để giảm tốc độ dòng trong ống. Dòng nước được

phân phối đều ra xung quanh trong vùng lắng. Sau khi ra khỏi

ống tâm, dòng nước chuyển động theo 2 phương, phương đứng

hướng lên bè mặt và phương ngang ra phía thành bể. Trên bể

mặt bể lắp đặt khung ngăn váng nổi và máng thu nước răng

cưa. Dòng nước thải đi lên mặt nước, chảy tràn máng răng cưa,

theo đường dẫn chảy vào bể khử trùng phía sau.

Bơng bùn có tỷ trọng cao hơn trước, dưới tác dụng của

trọng lực, bông bùn sẽ lắng xuống đáy bể lắng. Đáy bể lắng có

độ nghiêng lớn để bơng bùn lắng có thể theo đáy nghiêng tập

trung về hố chứa bùn.

Bể lắng bông bùn lắp đặt một bơm bùn dạng khí nâng để

bơm một lượng bùn nhất định tuần hoàn trở về bể Anoxic, đảm

bảo nồng độ bùn trong các bể Anoxic và bể Aerobic, duy trì khả

năng xử lý ổn định. Bùn dư được bơm xả về bể chứa bùn theo

định kỳ. Lượng bùn dư này là lượng bùn tăng thêm trong quá

trình sinh trưởng thiếu khí và hiếu khí của vi sinh vật.

Bể khử trùng:

Nước thải sau lắng theo cửa thông vào bể khử trùng.

Dung dịch chlorine được bơm định lượng đưa tới bể khử trùng

từ bồn chứa. Dòng nước thải được xáo trộn với hoá chất khử

trùng tại ngăn xáo trộn ở đầu bể. Sau khi được xáo trộn với

chất khử trùng, dòng nước thải đi vào ngăn tiếp xúc. Ngăn tiếp

xúc được bố trí nhiều vách ngăn để tạo ra các dòng chảy rối và



tăng chiều dài đường đi của dòng nước thải, tăng khả năng tiếp

xúc giữa hố chất khử trùng với các vi trùng trong dòng nước

thải. Chlorine là một chất oxi hố mạnh có khả năng giết chết

hầu hết các loại vi khuẩn, vi rút có trong dòng nước. Đồng thời,

Chlorine cũng có thể oxi hố một phần chất hữu cơ còn lại

trong dòng nước, làm giảm nồng độ các thành phần chất này

trong dòng nước thải sau khi xử lý.

Bể trung gian:

Bể trung gian lưu giữ nước sạch sau xử lý. Trong bể trung

gian lắp đặt 2 máy bơm nước thải nhúng chìm để bơm nước

thải sau xử lý ra nguồn tiếp nhận.

Nước thải sau khi được xử lý đạt tiêu chuẩn Cột A QCVN

28:2010/BTNMT.

Bể chứa bùn:

Bùn dư được bơm từ bể lắng bông bùn vào bể chứa bùn

dư. Sau khi vào bể chứa bùn, bùn được lắng tĩnh. Nước chảy

tràn trên bề mặt bể chứa theo ống dẫn tuần hoàn về bể điều

hoà.

Ưu, nhược điểm của sơ đồ cơng nghệ XLNT của

phòng khám Vân Hải:

Ưu điểm:

- Chi phí vận hành tương đối thấp.

- Có thể di dời hệ thống xử lý nước thải.

- Khi mở rộng quy mơ của doanh nghiệp thì có thể tăng

cơng suất hoạt động của máy bằng cách lắp thêm các module

hợp khối, mà không cần phải dỡ bỏ để thay thế lại cái khác.



- Bảo vệ môi trường tránh khỏi nguồn ô nhiễm nước và

cung cấp nước sạch.

Nhược điểm:

- Yêu cầu phải có diện tích xây dựng.

- Sử dụng cơng nghệ kết hợp với nhiều hệ vi sinh, và

những hệ vi sinh này rất nhạy cảm, dễ ảnh hưởng lẫn nhau

chính vì thế nó đòi hỏi khả năng vận hành của nhân viên vận

hành phải có kinh nghiệm và rõ chun mơn trong lĩnh vực.



CHƯƠNG 3: CƠNG NGHỆ MBR

3.1 Tổng quan về công nghệ MBR:

Thuật ngữ MBR (Membrane Bioreactor) được hiểu là sự

kết hợp của quá trình xử lý nước thải bằng bể sinh học bùn

hoạt tính với q trình lọc màng để tách sinh khối, cặn lơ lửng.

(hay công nghệ màng lọc sinh học), có thể là màng vi lọc MF

hoạc màng siêu lọc UF. MBR là sự cải tiến của quy trình xử lý

bằng bùn hoạt tính theo mẻ kiểu bể SBR trong đó việc tách cặn

khơng cần dùng đến bể lắng bậc hai. MBR có thể kết hợp q

trình màng với bể vi sinh hiếu khí (chủ yếu). MBR là sự kết hợp

giữa hai quá trình cơ bản của một nguyên đơn:

- Phân huỷ sinh học các chất hữu cơ bằng q trình hiếu

khí.

- Kỹ thuật tách chất lơ lửng, bùn, cả vi sinh vật, vi khuẩn

bằng quá trình màng vi lọc MF (micro- flitration) hoạc siêu lọc

(ultrafiltration). Màng ở đây còn đóng vai trò như một giá thể

cho VSV dính bám tạo nên các lớp màng VSV dày đặt làm tăng

bề mặt tiếp xúc pha tăng cường khả năng phân huỷ sinh học.



Hình 3: Mơ hình tách nước qua màng trong bể phản ứng.

Trong bể duy trì hệ bùn sinh trưởng lơ lửng, các bể phản



ứng diễn ra trong bể giống như các quá trình sinh học thông

thường khác, nước sau khi xử lý qua màng có chất lượng rất tốt

và khơng phải qua bể lắng 2 hoặc có thể bỏ qua khâu khử

trùng (sẽ được nghiên cứu ở phần sau). Quy trình MBR thường

hoạt động ở hai cấu hình sau: dạng đặt màng chìm trong bể

iMBR (immersed MBR) và màng đặt ra ngoài bể sMBR

(sidestream MBR):

- Với kiểu đặt ngập màng MBR hoạt động bằng dùng

bơm hay dùng áp lực.

- Với kiểu đặt ngoài màng MBR hoạt động theo nguyên

tắc tuần hoàn tại bể phản ứng ở áp suất cao.

Việc tiêu thụ điện năng để lọc nước trong cấu hình đặt

ngập là thấp hơn so với cấu hình màng đặt ngồi. Do khi đặt

màng ngồi bể phản ứng thì áp lực nước cắt qua màng lớn hơn

và năng lượng cho dòng tuần hồn , chính vì lý do này mà cấu

hình màng đặt ngập trong bể chiếm ưu thế và được sử dụng

phổ biến hơn. Một kết quả nghiên cứu cho thấy so sánh áp lực

nước qua màng ở cấu hình đặt ngập chiếm ưu thế hơn:

Bảng 4: Thơng số so sánh hai cấu hình sMBR và iMBR.

Thông số

sMBR

iMBR

Loại màng (MF và UF)

Zenon

Zenon

Modul

Z- 8

ZW- 500

2

Diện tích bề mặt (m )

2

46

Lưu

lượng

thấm

50- 100

20- 50

2

(L/m .h)

2- 5

0,2- 0,5

Áp lực màng (bar)

4- 12

0,3- 0,6

Năng

lượng

lọc

(kwh/m3)

Cấu hình ngồi thường chỉ áp dụng cho trạm có cơng

suất lớn còn cơng suất nhỏ hay dùng cấu hình đặt ngập. Các

thơng số trên còn phụ thuộc vào nhà sản xuất cung cấp và tuỳ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 2: Các vi khuẩn nitrate hoá.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×