Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NƯỚC THẢI Y TẾ

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NƯỚC THẢI Y TẾ

Tải bản đầy đủ - 0trang

nước tiểu của người bệnh, các chất bài tiết, nước súc rửa các

dụng cụ có chứa phóng xạ (Nước súc rửa dụng cụ trong chuẩn

đốn hình ảnh có chứa hạt nhân phóng xạ tia , hạt nhân

nguyên tử



Ga,



67



75



Se,



Xe…



133



1.2 Nguồn gốc phát sinh nước thải y tế:

Nước thải y tế gồm các nguồn sau:

- Nước thải phát sinh từ hoạt động khám và điều trị

bệnh:

+ Nước thải từ phòng điều trị, từ phòng X- Quang, các

phòng xét nghiệm (phòng mổ, phòng huyết học truyền máu),

từ việc lau rửa phòng mổ. Nước thải này được coi là nước thải

nguy hại vì có chứa các tác nhân truyền nhiễm.

+ Nước thải nha khoa bao gồm các bệnh phẩm từ hoạt

động cạo vôi răng, nhổ răng, máu, dịch từ hoạt động điều trị,

chữa các bệnh về răng miệng nên đa số nhiễm vi khuẩn rất

cao.

+ Nước thải nhiễm phóng xạ từ buồng chụp X- quang và

khu tráng rửa phim: Việc sử dụng tia X- quang khơng trực tiếp

tạo ra thải nhiễm phóng xạ. Q trình rửa tráng phim sau khi

chụp là nguồn chính nước thải nhiễm phóng xạ. Nước thải từ

q trình tráng rửa phim khơng chỉ nhiễm xạ mà còn chứa hàm

lượng kim loại nặng cao. Nước thải này không được quản lý sẽ

là nguồn gây tác động trực tiếp đến các khu vực xung quanh.

- Nước thải từ hoạt động vệ sinh phòng làm việc và các

trang thiết bị.

- Nước từ hoạt động giặt giũ…



1.3 Thành phần và tính chất nước thải y tế của phòng khám.

Các thành phần chính gây ơ nhiễm môi trường do nước

thải y tế ra là:

- Các chất hữu cơ: trong nước thải có chứa các chất các

chất cặn bã, các chất hữu cơ hoà tan phát sinh từ hoạt động

của con người như ăn uống, vệ sinh, … hay từ quá trình phân rã

tự nhiên của các chất hữu cơ trong các bệnh.

- Thành phần vô cơ: thành phần vơ cơ có trong các dung

dịch thuốc dùng trong điều trị và sinh hoạt như độ kiềm, clorua,

các kim loại nặng, Nitơ, Photpho, Lưu huỳnh, các chất độc…

- Các chất rắn lơ lửng.

- Các vi trùng, vi khuẩn gây bệnh: Salmonella, tụ cầu,

liên cầu, virus đường tiêu hố, bại liệt, các kí sinh trùng, amip,

nấm,…

- Các mầm bệnh sinh học khác trong máu, mủ, dịch,

đờm, phân của người bệnh.

- Các loại hoá chất độc hại từ cơ thể và chế phẩm điều

trị.

Về tính chất thì nước thải y tế gần giống với nước thải

sinh hoạt nhưng xét về độc tính thì nước thải này độc hại hơn

nước thải sinh hoạt gấp nhiều lần. Trong nước thải y tế có chứa

một lượng lớn các vi sinh vật gây bệnh. Các vi sinh vật gây

bệnh có trong nước thải được ra ngồi, khi gặp điều kiện mơi

trường thuận lợi sẽ khơng bị tiêu diệt mà còn sinh trưởng và

phát triển mạnh mẽ hơn và càng trở nên khó tiêu diệt hơn.

Nước thải từ khu vực điều trị, khu vực giặt, khu vệ sinh

có chỉ số Coliform thường cao hơn nước thải sinh hoạt, ngồi ra



còn chứa nhiều vi khuẩn gây bệnh nguy hiểm như tả, lỵ,

thương hàn, sốt rét, lao, gan… trứng giun sán, nấm mốc, rong

rêu, tảo,… Nước thải này có tính chất đặc biệt nguy hại nếu

khơng có phương án xử lý triệt để. Khi đưa ra môi trường sẽ

gây ô nhiễm nước mặt, ảnh hưởng đến nước ngầm trong khu

vực. Gây mất vệ sinh và làm giảm chất lượng mơi trường khu

vực nội bộ phòng khám.

1.4 Các phương pháp xử lý nước thải y tế:

a) Phương pháp cơ học:

Q trình xử lý cơ học còn gọi là quá trình tiền xử lý

thường được áp dụng ở giai đoạn đầu của quy trình xử lý. Xử lý

cơ học nhằm loại bỏ các tạp chất khơng hồ tan chứa trong

nước thải và được thực hiện ở các công trình xử lý: song chắn

rác, bể lắng cát, bể lắng, bể lọc, bể điều hoà…

Phương pháp xử lý cơ học có thể loại bỏ được đến 60%

các tạp chất khơng hồ tan có trong nước thải và giảm nhu cầu

oxy sinh hoá (BOD) đến 30%. Để tăng hiệu suất của các cơng

trình xử lý cơ học có thể sử dụng biện pháp làm thống sơ bộ…

Hiệu quả xử lý có thể lên tới 75% tổng chất rắn lơ lửng (TSS) và

40-50% BOD.

b) Phương pháp hoá học và hoá- lý:

Phương pháp hoá học và hoá-lý chủ yếu được ứng dụng

để xử lý nước thải cơng nghiệp.

Các phương pháp xử lý hố học và hố- lý gồm: trung

hồ- kết tủa cặn, oxy hố khử, keo tụ bằng phèn nhơm, phèn

sắt, tuyền nổi, hấp phụ, trao đổi ion,…

c) Phương pháp sinh học:



Xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học thường là

giai đoạn xử lý bậc hai sau xử lý cơ học hoặc sau xử lý hoá học.

Cơ sở của phương pháp sinh học là dựa vào khả năng oxy hoá

và phân huỷ các chất hữu cơ có trong nước thải của vi sinh vật

(VSV) trong điều kiện tự nhiên hoặc nhân tạo.

Các cơng trình xử lý sinh học trong điều kiện tự nhiên

gồm có: hồ sinh vật, hồ sinh học với thực vật nước (lục bình,

lau, sậy, tảo,…), cánh đồng tưới, cánh đồng lọc, bãi lọc cây

trồng, đất ngập nước,…

Các cơng trình xử lý trong điều kiện nhân tạo gồm có:

- Với q trình vi sinh vật hiếu khí lơ lửng oxy hoá các

chất hữu cơ trong nước ở trạng thái lơ lửng:

+ Bể bùn hoạt tính (aeroten).

+ Mương oxy hố.

+ Bể bùn hoạt tính mẻ (SBR).

- Với q trình vi sinh vật hiếu khí dính bám với các giá

thể (vật liệu lọc dính bám) oxy hố các chất hữu cơ với sự tham

gia của màng sinh học dính bám tại giá thể gồm:

+ Các loại bể lọc sinh học: bể lọc sinh học nhỏ giọt, bể

lọc sinh học cao tải, tháp lọc sinh học.

+ Bể tiếp xúc sinh học quay (RBC).

- Ngồi ra còn ứng dụng q trình VSV kỵ khí lơ lửng để

xử lý nước thải có hàm lượng chất hữu cơ cao như bể UASB và

cũng ứng dụng quá trình VSV kỵ khí dính bám như các loại bể

lọc sinh học kỵ khí.



1.5 Một số phương pháp xử lý nước thải y tế đang được áp dụng:

Một hệ thống xử lý nước thải y tế phải đảm bảo được các

tiêu chuẩn sau:

- Giảm nồng độ các tác nhân gây ô nhiễm xuống dưới

tiêu chuẩn cho phép.

- Tiết kiệm diện tích đất xây dựng: Cơng trình được xây

dựng bằng bê tơng cốt thép tồn khối, lắp đặt sẵn bằng thép

hoặc vật liệu composit chịu được tác động cơ học. Việc xây

dựng hợp khối các cơng trình tạo điều kiện để vận hành cũng

như thu mùi để xử lý, đảm bảo cảnh quan trong khu vực bệnh

viện và khu dân cư. Đối với cơng trình xây dựng bằng bê tơng

cốt thép, nhiệt độ nước thải trong đó được ổn định, đảm bảo tốt

cho các quá trình xử lý sinh học diễn ra. Các cơng trình cũng

được thiết kế đảm bảo chế độ tự chảy và hạn chế đến mức tối

đa việc sử dụng máy bơm và các thiết bị cấp thoát nước khác.

- Có khả năng đầu tư.

Một số phương pháp xử lý nước thải tiêu biểu đang được

áp dụng:

- Ao hồ sinh học.

- Bể phản ứng sinh học hiếu khí- Aerotank.

- Công nghệ sinh học nhỏ giọt- Biofilter.

- Công nghệ xử lý (XLNT) thải y tế theo nguyên lý hợp

khối.

- Công nghệ xử lý nước thải y tế theo quy mô DEWATS.

1.5.1 Ao sinh học.

Cơ sở khoa học của phương pháp này là dựa vào khả

năng tự làm sạch của nước, chủ yếu là vi sinh vật và các thuỷ



sinh khác, các chất nhiễm bẩn bị phân huỷ thành các chất khí

và nước. Dựa vào đặt tính tồn tại và tuần hoàn của vi sinh vật

và cơ chế xử lý mà người ta chia thành 3 loại hồ: hộ kỵ khí, hồ

tuỳ tiện và hồ hiếu khí.

a) Hồ kỵ khí:

Dùng để lắng và phân huỷ cặn lắng bằng phương pháp

sinh hoá tự nhiên dựa trên cơ sở sống và hoạt động của vi sinh

kỵ khí. Loại hồ này thường dùng để xử lý nước thải cơng nghiệp

ơ nhiễm nặng, ít dùng để xử lý nước thải sinh hoạt vì nó gây

mùi khó chịu. Hồ kỵ khí phải đặt cách xa nhà ở và xí nghiệp

thực phẩm 1,5- 2km. Để duy trì điều kiện kỵ khí và giữ ấm cho

hồ trong mùa đơng thì chiều sâu hồ phải lớn, thường là 2,43,6m.

Hồ có 2 ngăn làm việc để dự phòng khi bùn xả trong hồ.

Cửa xả nước vào hồ phải đặt chìm, đảm bảo việc phân bố cặn

lắng đồng đều trong hồ. Cửa tháo nước ra khỏi hồ phải thiết kế

theo kiểu thu nước bề mặt và có ngăn để bùn khơng thốt ra

cùng với nước.

b) Hồ tuỳ tiện:

Là loại hồ thường gặp trong tự nhiên, nó được sử dụng

rộng rãi nhất trong các hồ sinh học. Trong hồ này xảy ra 2 q

trình song song: q trình oxy hố hiếu khí chất hữu cơ và q

trình phân huỷ metan cặn lắng. Xét theo chiều xâu của hồ có

thể chia ra 3 vùng: lớp trên là vùng hiếu khí, lớp giữa là vùng

trung gian, còn lớp dưới là vùng kỵ khí.

Nguồn oxy cần thiết cho q trình oxy hố các chất hữu

cơ trong hồ chủ yếu nhờ quang hợp của rong tảo dưới tác dụng



của bức xạ mặt trời và khuếch tán qua mặt nước dưới tác dụng

của sóng gió. Hàm lượng oxy hoà tan vào ban ngày nhiều hơn

ban đêm. Do oxy hồ tan chỉ xâm nhập có hiệu quả ở dưới độ

sâu 1m nên nguồn oxy hoà tan chủ yếu ở dưới nước phía trên.

Q trình phân huỷ kỵ khí lớp bùn ở đáy hồ phụ thuộc

vào điều kiện nhiệt độ. Quá trình này làm giảm tải trọng hữu cơ

trong hồ và sinh ra các sản phẩm lên men đưa vào trong nước.

Trong hồ thường hình thành tầng phân cách nhiệt: vùng

nước phía trên nóng ấm hơn vùng nước phía dưới và ở giữa là

tầng phân cách.

Nhìn chung tầng phân cách nhiệt là khơng có lợi, bởi vì

trong giai đoạn phân tầng các loài tảo sẽ tập trung thành một

lớp dày ở phía trên tầng phân cách. Tảo sẽ chết làm cho các vi

khuẩn thiếu oxy và hố bị quá tải chất hữu cơ. Trong trường hợp

này thì sự xáo trộn là cần thiết để tảo phân tán tránh sự tích tụ.

Tầng phân cách đơi khi cũng có lợi, vào những ngày hè do sự

quang hợp của tảo, tiêu thụ nhiều CO 2 làm cho pH của nước

tăng lên. Khi đó tốt nhất là khơng nên xáo trộn hồ để cho các vi

khuẩn ở dưới đáy được che bởi tầng phân cách.

Các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến sự xáo trộn là gió và

nhiệt độ.

Khi gió thổi sẽ tạo sóng mặt nước gây nên sự xáo trộn.

Hồ có diện tích bề mặt lớn thì sự xáo trộn bằng gió tốt hơn hồ

có diện tích bề mặt nhỏ.

Ban ngày nhiệt độ của lớp nước phía trên cao hơn nhiệt

độ của lớp nước phía dưới. Do sự chênh lệch nhiệt độ mà tải



trọng của nước cũng chênh lệch tạo nên sự đối lưu nước ở

trong hồ theo chiều đứng.

Nếu gió xáo trộn theo hướng hai chiều (chiều ngang và

chiều đứng) thì sự chênh lệch nhiệt độ tạo nên xáo trộn chỉ

theo một chiều thẳng đứng. Kết hợp giữa sức gió và chênh lệch

nhiệt độ tạo nên xáo trộn toàn phần.

Chiều sâu của hồ ảnh hưởng đến sự xáo trộn, tới các q

trình oxy hố và phân huỷ trong hồ. Chiều sâu trong hồ thường

lấy vào khoảng 0,9- 1,5m. Tỷ lệ chiều dài, chiều rộng thường

lấy là 1 : 1 hoặc 2 : 1. Ở những vùng có nhiều gió nên làm hồ

có diện tích rộng, còn ở vùng ít gió nên làm hồ có nhiều ngăn.

Nếu đất đáy hồ dễ thấm nước thì phải phủ lớp đất sét dày

15cm. Bờ hồ có đáy dốc nên trồng cỏ trên bờ hồ.

c) Hồ hiếu khí:

Hồ hiếu khí là hồ có q trình oxy hoá các chất hữu cơ

nhờ các vi sinh vật hiếu khí. Loại hồ này được phân thành 2

nhóm: hồ hiếu khí làm thống tự nhiên và hồ hiếu khí làm

thống nhân tạo.

Hồ hiếu khí làm thống tự nhiên: oxy cần thiết cho quá

trình chủ yếu do sự khuếch tán khơng khí qua mặt nước và q

trình quang hợp của các thực vật nước như rong, tảo. Để đảm

bảo cho ánh sáng có thể xuyên qua, chiều sâu của hồ phải bé

khoảng 30- 40cm. Sức chứa tiêu chuẩn lấy theo BOD khoảng

250-300 kg/ha.ngày. Thời gian nước lưu trong hồ khoảng 3- 12

ngày.

Hồ hiếu khí làm thống bằng nhân tạo: nguồn oxy cũng

cấp cho q trình sinh hóa từ các thiết bị như bơm khí nén



hoặc máy khuấy cơ học. V được tiếp khí nhân tạo nên chiều

sâu của hồ có thể từ 2-4,5m. Sức chứa tiêu chuẩn khoảng 400

kg/ha.ngày. Thời gian lưu nước trong hồ khoảng 1-3 ngày. Do

chiều sâu hồ lớn nên việc làm thống cũng khó đảm bảo toàn

phần nên chúng làm việc như hồ tùy tiện.

1.5.2 Bể phản ứng sinh học hiếu khí- Aerotank.

Bể phản ứng sinh học hiếu khí- Aerotank là cơng trình bê

tơng cốt thép hình khối chữ nhật hoặc hình tròn, cũng có

trường hợp người ta chế tạo các Aerotank bằng sắt thép hình

khối trụ. Thơng dụng nhất hiện nay là các Aerotank hình bể

khối chữ nhật. Nước thải chảy qua suốt chiều dài của bể và

được sục khí, khuấy nằm tăng cường lượng khí oxy hồ tan và

tăng cường q trình oxy hố các chất hữu cơ có trong nước.

Nước thải sau khi đã được xử lý sơ bộ còn chứa phần lớn

các chất hữu cơ dạng hoà tan cùng các chất lơ lửng đi vào

erotank. Các chất lơ lửng làm nơi vi khuẩn bám vào để cư trú,

sinh sản và phát triển, dần dần hình thành các cặn bơng. Các

cặn bơng này dần dần to và lơ lửng trong nước. Chính vì vậy xử

lý nước thải ở erotank được gọi là quá trình xử lý với sinh vật lơ

lửng. Các bơng cặn này cũng chính là bùn hoạt tính.

Bùn hoạt tính là loại bùn xốt chứa nhiều vi sinh vật có

khả năng oxy hoá và khoáng hoá các chất hữu cơ chứa trong

chất thải. Để giữ cho bùn hoạt tính ở trạng thái lơ lửng và để

đảm bảo lượng oxy dùng cho q trình oxy hố các chất hữu cơ

thì phải ln ln đảm bảo việc thống gió. Số lượng bùn tuần

hồn và số lượng khơng khí cần cấp phụ thuộc vào độ ẩm và

mức độ yêu cầu xử lý nước thải. Thời gian nước lưu trong bể

erotank không lâu quá 12 giờ (thường 4-8 giờ).



Q trình oxy hố các chất bẩn hữu cơ xảy ra trong

aerotank qua 3 giai đoạn:

- Giai đoạn thứ nhất: Tốc độ oxy hoá bằng tốc độ tiêu thụ

oxy. Ở giai đoạn này bùn hoạt tính hình thành và phát triển.

Hàm lượng oxy cần cho vi sinh vật sinh trưởng, đặc biệt ở thời

gian đầu tiên thức ăn dinh dưỡng trong nước thải rất phong

phú, lượng sinh khối trong thời gian này rất ít. Sau khi vi sinh

vật thích nghi với mơi trường, chúng sinh trưởng rất mạnh theo

cấp số nhân. Vì vậy, lượng tiêu thụ oxy tăng dần.

- Giai đoạn thứ hai: Vi sinh vật phát triển ổn định và tốc

độ tiêu thụ oxy gần như ít thay đổi. Chính ở giai đoạn này các

chất bẩn hữu cơ bị phân huỷ nhiều nhất. Hoạt lực enzym của

bùn hoạt tính trong giai đoạn này cũng đạt tới mức cực đại và

kéo dài trong một thời gian tiếp theo. Điểm cực đại của enzym

oxy hoá của bùn hoạt tính thường đạt ở thời điểm sau khi lượng

bùn hoạt tính (sinh khối vi sinh vật) tới mức ổn định.

- Giai đoạn thứ ba: Sau một thời gian khá dài tốc độ oxy

hố chậm (hầu như ít thay đổi) và có chiều hướng giảm, lại

thấy tốc độ tiêu thụ oxy tăng lên. Đây là giai đoạn nitrat hố

các muối amơni. Sau cùng, nhu cầu oxy lại giảm và cần phải

kết thúc q trình làm việc của aerotank.

Nếu khơng khuấy đảo hoặc thổi khí sau khi oxy hố được

80-95% BOD trong nước thải, bùn hoạt tính sẽ lắng xuống đáy

và cần phải lấy bùn căn ra khỏi nước. Nếu không kịp thời tách

bùn, nước sẽ bị ô nhiễm thứ cấp, nghĩa là sinh khối vi sinh vật

trong bùn (chiếm tới 70% khối lượng cặn bùn) sẽ bị tự phân. Tế

bào vi khuẩn có hàm lượng protein rất cao (60-80% so với chất

khơ),



ngồi



ra



còn







các



hợp



chất



chứa



chất



béo,



hidratcacbon, các chất khống… khi bị tự phân sẽ làm ô nhiễm

nguồn nước.

1.5.3 Công nghệ lọc sinh học nhỏ giọt.

Lọc nhỏ giọt là loại bể lọc sinh học với vật liệu tiếp xúc

không ngập nước. Bể lọc sinh học xử lý nước thải bằng phương

pháp sinh học hiếu khí mức độ hồn tồn hoặc khơng hồn

tồn. Bể hoạt động theo nguyên tắc vi sinh vật dính bám trên

vật rắn và hình thành màng lọc sinh học. Bể được cấp gió tự

nhiên hoặc cấp gió nhân tạo. Đối với bể lọc sinh học nhỏ giọt,

BOD5 của nước thải đưa vào bể lọc sinh học không được lớn

hơn 200mg/l, tải trọng thuỷ lực q lấy 1- 3 m 3/m3 vật liệu/ ngày.

Các vật liệu lọc có độ rỗng và diện tích mặt tiếp xúc

trong một đơn vị thể tích là lớn nhất trong điều kiện có thể.

Nước đến lớp vật liệu lọc chia thành các dòng hoặc hạt nhỏ

chảy thành lớp mỏng qua khe hở của vật liệu, đồng thời tiếp

xúc với màng sinh học ở trên bề mặt vật liệu và được làm do vi

sinh vật của màng phân huỷ hiếu khí và kị khí các chất hữu cơ

có trong nước. Các chất hữu cơ phân huỷ hiếu khí sinh ra CO 2

và nước, phân huỷ kị khí sinh ra CH 4 và CO2 làm tróc màng ra

khỏi vật liệu mang, bị nước cuốn theo. Trên mặt giá mang là

vật liệu lọc lại hình thành lớp màng mới. Hiện tượng này được

lặp đi lặp lại nhiều lần. Kết quả là BOD của nước thải bị vi sinh

vật sử dụng làm chất dinh dưỡng và bị phân huỷ kị khí cũng

như hiếu khí và nước thải được làm sạch.

Nước thải trước khi đưa vào xử lý ở lọc phun (nhỏ giọt)

cần phải qua xử lý sơ bộ để tránh tắc nghẽn các khe trong vật

liệu. Nước sau khi xử lý ở lọc sinh học thường nhiều chất lơ lửng

do các mãnh vỡ của màng sinh học cuốn theo, vì vậy cần đưa



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NƯỚC THẢI Y TẾ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×