Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phần 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Phần 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Nhiệm vụ và mục tiêu của thể dục thể thao trường học là nâng cao sức

khoẻ, đảm bảo sự phát triển bình thường của cơ thể học sinh; phát triển các

tố chất thể lực và kỹ năng vận động cơ bản của con người; hình thành thói

quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh và rèn luyện đạo đức ý chí cho người

học. Phát triển thể dục thể thao trường học có tầm quan trọng đặc biệt trong

việc chuẩn bị nguồn nhân lực cho sự nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại hố

đất nước.

Những vấn đề nói trên được quy định tại chương II - Luật Thể dục, Thể

thao (Quốc hội khố 11 thơng qua năm 2006) và quy định tại điều 7 Nghị

định 122/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và

hướng dẫn thi hành Luật Thể dục, Thể thao. Những quy định này đã thể chế

hoá quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về thể

dục thể thao nói chung và thể dục thể thao trường học nói riêng.

Tháng 10/1941, trong chương trình cứu nước của mặt trận Việt Minh đã

nêu rõ: “...Khuyến khích, giúp đỡ nền thể dục quốc dân, làm cho nòi giống

ngày càng thêm mạnh. Trẻ em được Chính phủ đặc biệt săn sóc về Thể dục,

Trí dục và Đức dục...”

Ngày 27/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 38 thiết lập tại

Bộ quốc gia Giáo dục một Nha Thanh niên và Thể dục, trong đó có một

Phòng thanh niên Trung ương và một Phòng Thể dục Trung ương, có nhiệm

vụ “... khun và dạy đồng bào tập thể dục...”. Bác Hồ còn viết bài “Sức khoẻ

và thể dục” đăng trên báo Cứu quốc (tiền thân của báo Nhân dân) và báo Việt

Nam Khoẻ (tiền thân của báo Thể thao Việt Nam) trong đó, Người khẳng

định “... giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng

cần phải có sức khỏe mới làm thành công. Mỗi một người dân yếu ớt, tức là

cả nước yếu ớt, mỗi một người dân khoẻ mạnh, tức là cả nước mạnh khỏe...”



Tháng 1 năm 1955, trong Lễ Khai giảng trường đại học Nhân dân

Việt Nam, Bác Hồ đã căn dặn: “Thanh niên phải chun tâm đi học và cơng

tác nhưng cũng cần có vui chơi. Vui chơi lành mạnh là một bộ phận trong sự

sinh hoạt của thanh niên. Trong vui chơi cũng có giáo dục. Cần có những thứ

vui chơi văn hố, thể thao có tinh thần tập thể và quần chúng... ” (Hồ Chí

Minh - Bàn về cơng tác giáo dục - NXB Sự Thật 1972)

Các sự kiện và những văn bản nói trên đã chứng minh rằng: Ngay từ

trước Cách mạng tháng 8 và sau khi chúng ta vừa giành được chính quyền và

đang phải chống lại 3 loại giặc (đói - dốt - ngoại xâm) thì Trung ương Đảng

và Bác Hồ đã nêu quan điểm, tư tưởng chỉ đạo công tác thể dục thể thao (thể

dục theo nghĩa rộng) đối với thế hệ trẻ (học sinh). Vì đó là đối tượng chính

của tồn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng. Về mặt tổ chức, cơ quan quản lý

nhà nước đầu tiên và cao nhất về thể dục thể thao được đặt trong Bộ quốc gia

Giáo dục (trước đó là trong Bộ thanh niên). Điều này càng thể hiện tầm nhìn

chiến lược của Đảng về cơng tác Giáo dục thể chất và thể dục thể thao trường

học.

Từ đó đến nay, trong mỗi kỳ đại hội Đảng toàn quốc hoặc trong từng

nhiệm kỳ, Trung ương Đảng đều ban hành các Nghị quyết, Chỉ thị, Thơng tri

về thể dục thể thao nói chung và thể dục thể thao trường học nói riêng.

Trong Chỉ thị 36/CT - TW ngày 24/3/1994 về công tác thể dục thể thao

trong giai đoạn mới, Ban Bí thư Trung ương Đảng xác định mục tiêu đến năm

2000 thể dục thể thao trường học phải đạt: “Thực hiện Giáo dục thể chất

trong tất cả các trường học. Làm cho việc tập luyện thể dục thể thao trở thành

nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên…”. Muốn vậy thì “... Ban

cán sự đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo và Ban cán sự Đảng Tổng cục thể dục

thể thao phải phối hợp chỉ đạo tổng kết công tác Giáo dục thể chất, cải tiến



chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo giáo viên thể

dục thể thao cho trường học các cấp tạo điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất

để thực hiện chế độ Giáo dục thể chất bắt buộc ở tất cả các trường học…”

Trong chỉ thị 17/CT-TƯ ngày 23/10/2002 về phát triển thể dục thể thao

đến năm 2010, Ban bí thư TƯ Đảng xác định “Đẩy mạnh hoạt động thể dục

thể thao nâng cao thể trạng và tầm vóc của người Việt Nam. Phát triển phong

trào thể dục thể thao quần chúng với mạng lưới cơ sở rộng khắp; Đào tạo bồi

dưỡng đội ngũ VĐV thành tích cao… Đẩy mạnh hoạt động thể dục thể thao ở

trường học, tiến tới đảm bảo mỗi trường học đều có giáo viên thể dục chuyên

trách và lớp học thể dục đúng tiêu chuẩn, tạo điều kiện nâng cao chất lượng

giáo dục thể chất; Xem đây là một tiêu chí cơng nhận trường chuẩn quốc

gia... Tăng đầu tư của Nhà nước cho việc phát triển thể dục thể thao ở trường

học, ở nông thôn và miền núi…”

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI năm 2011 xác định 1

trong 3 mũi đột phá chiến lược để phát triển kinh tế xã hội đất nước đến năm

2020 là: “... Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất

lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc

dân; gắn kết chặt chẽ việc phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng

dụng khoa học công nghệ. Cần tập trung xây dựng đời sống, lối sống và mơi

trường văn hóa lành mạnh, chú trọng xây dựng nhân cách con người Việt

Nam về lý tưởng, trí tuệ, đạo đức, lối sống, thể chất, lòng tự hào dân tộc,

trách nhiệm xã hội, ý thức chấp hành pháp luật, nhất là trong thế hệ trẻ... Làm

tốt công tác giáo dục thể chất trong trường học... Phát triển mạnh phong trào

thể dục thể thao đại chúng, tập trung đầu tư nâng cao chất lượng một số môn

thể thao thành tích cao mà nước ta có ưu thế; Kiên quyết chống tiêu cực trong

thi đấu thể thao...



Tháng 12/2011, Bộ Chính trị ban hành NQ số 08/NQ-TW về cơng tác

thể dục thể thao, trong đó xác định mục tiêu và giải pháp nâng cao chất lượng

công tác giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường đến năm 2020: “...

phấn đấu 90% học sinh, sinh viên đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể... Cần

quan tâm đầu tư đúng mức thể dục thể thao trường học, với vị trí là bộ phận

quan trọng của phong trào thể dục thể thao; là một mặt của giáo dục toàn diện

nhân cách học sinh, sinh viên... Xây dựng và thực hiện Đề án tổng thể phát

triển giáo dục thể chất và thể thao trường học... Thực hiện tốt giáo dục thể

chất theo chương trình nội khố; phát triển mạnh các hoạt động thể thao của

học sinh, sinh viên, bảo đảm mục tiêu phát triển thể lực toàn diện và kỹ năng

vận động cơ bản của học sinh, sinh viên, góp phần đào tạo năng khiếu và tài

năng thể thao... Đổi mới chương trình và phương pháp giáo dục thể chất, gắn

giáo dục thể chất với giáo dục ý chí, đạo đức, giáo dục quốc phòng, giáo dục

sức khoẻ và kỹ năng sống của học sinh, sinh viên... Đãi ngộ hợp lý và phát

huy năng lực đội ngũ giáo viên thể dục hiện có; mở rộng và nâng cao chất

lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, hướng dẫn viên thể dục cho

trường học; củng cố các cơ sở nghiên cứu khoa học về tâm sinh lý lứa tuổi và

thể dục thể thao trường học...”

Trên đây là những văn bản, văn kiện của Đảng nói về thể dục thể thao

trường học. Hệ thống các văn bản pháp luật của Quốc hội và Chính phủ cũng

quy định rất rõ ràng về giáo dục thể chất và Thể thao trong nhà trường.

Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, tại điều

41 có quy định “Nhà nước và xã hội phát triển nền thể dục thể thao dân tộc,

khoa học và nhân dân. Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp phát triển thể

dục thể thao; Quy định chế độ giáo dục thể chất bắt buộc trong trường học.

Khuyến khích và giúp đỡ phát triển: Các hình thức tổ chức thể dục thể thao tự



nguyện của nhân dân, tạo các điều kiện cần thiết để không ngừng mở rộng

các hoạt động thể dục thể thao quần chúng, chú trọng hoạt động thể thao

chuyên nghiệp, bồi dưỡng các tài năng thể thao’’.

Luật Thể dục, Thể thao năm 2006 quy định “Giáo dục thể chất là mơn

học chính khóa, thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ

năng vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện. Hoạt động

thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của người học, được tổ

chức theo phương thức ngoại khoá phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và

sức khoẻ, nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải

trí, phát triển năng khiếu thể thao” (Điều 20).

Luật thể dục thể thao cũng quy định rõ trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ

Giáo dục - Đào tạo chủ trì phối hợp với Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban thể

dục thể thao làm 5 việc, đó là: Xây dựng chương trình giáo dục thể chất; Đào

tạo bồi dưỡng giáo viên thể dục thể thao; Hướng dẫn hoạt động ngoại khoá

trong hệ thống các trường học của cả nước (cơng lập và ngồi cơng lập); Quy

định tiêu chuẩn đánh giá thể lực học sinh và tổ chức hệ thống thi đấu thể thao

cấp quốc gia dành cho học sinh, sinh viên mà trọng tâm là Hội khoẻ Phù

Đổng và Đại hội Thể dục thể thao sinh viên toàn quốc tổ chức 4 năm 1 lần;

Trách nhiệm của các bộ, ngành phải xây dựng cơ sở vật chất bố trí giáo viên

thể dục cho các trường thuộc bộ, ngành quản lý; Trách nhiệm của Uỷ ban

nhân dân cấp tỉnh phải quy hoạch đất đai, xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết

bị và đảm bảo chỉ tiêu biên chế giáo viên thể dục cho các trường công lập ở

địa phương (Điều 21); Trách nhiệm mỗi nhà trường phải thực hiện chương

trình thể dục nội khố theo quy định, phải hướng dẫn hoạt động ngoại khoá

cho người học, phải quản lý sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất và phải đảm

bảo an toàn cho học sinh trong tập luyện và thi đấu thể thao (Điều 22); Trách



nhiệm và quyền lợi của giáo viên thể dục và học sinh thể dục (Điều 23 và

24); Trách nhiệm của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức

xã hội về thể dục thể thao đối với giáo dục thể chất và thể thao trường học

(Điều 26).

Nghị định số 112/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định Bộ Giáo dục Đào tạo chủ trì phối hợp với Uỷ ban thể dục thể thao và Bộ Nội vụ ban hành

Chuẩn mực quốc gia về môn học thể dục trong nhà trường; Tiêu chuẩn giáo

viên thể dục thể thao; Định mức biên chế giáo viên thể dục thể thao cho từng

cấp học, bậc học (Khoản 1 và 2 Điều 7). Trách nhiệm của cơ quan quản lý

giáo dục và mỗi nhà trường phải tạo điều kiện hoạt động cho các câu lạc bộ

thể dục thể thao của học sinh, sinh viên; Đầu tư xây dựng và sử dụng đúng

mục đích đất đai và cơ sở vật chất của thể dục thể thao trong trường học

(Khoản 3 và 4 Điều 7).

Tháng 12/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành QĐ số 2198/QĐ-TTg

phê duyệt Chiến lược phát triển thể dục thể thao Việt Nam đến 2020, trong đó

xác định nhiệm vụ và giải pháp phát triển thể dục thể thao trường học. Để

thực hiện được các nhiệm vụ này, Chính phủ sẽ ban hành Nghị định về phát

triển giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trường học. Thực hiện trách

nhiệm theo các quy định của Pháp luật, Bộ Giáo dục - Đào tạo và Bộ Văn

hóa, Thể thao và Du lịch đã và sẽ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật

để phối hợp chỉ đạo điều hành hoạt động giáo dục thể chất và thể thao trong

toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân theo xu hướng xã hội hóa và cải cách

hành chính mà trong đó điểm mấu chốt là: Các cơ quan quản lý nhà nước xây

dựng ban hành và kiểm tra, giám sát các chuẩn mực về Giáo dục thể chất và

thể thao trong mỗi cấp học, bậc học; Các tổ chức xã hội về thể dục thể thao



phải sớm được kiện toàn, đủ sức thực hiện các hoạt động tác nghiệp về thể

dục thể thao trường học.

Mục tiêu làm cho khoảng 1/4 dân số của cả nước được chăm sóc chu

đáo nhất về “Thể dục”, để cùng với “Trí dục, đức dục, mỹ dục và giáo dục

lao động” tạo nên các thế hệ con người Việt Nam cường tráng về thể chất,

trong sáng về đạo đức, phong phú về tinh thần và có trí tuệ cao để xây dựng

đất nước giàu mạnh và phát triển bền vững đúng như mong ước của Đảng,

Bác Hồ và toàn dân tộc.

2.1.2. Mục tiêu thể dục thể thao trong trường học

- Mục tiêu thể dục thể thao trong trường học giúp học sinh biết được một

số kiến thức, kĩ năng cơ bản để tập luyện giữ gìn sức khỏe, nâng cao thể lực.

- Góp phần rèn luyện nếp sống lành mạnh, tác phong nhanh nhẹn, kỉ

luật, thói quen tự giác tập luyện thể dục thể thao, giữ gìn vệ sinh.

- Có sự tăng tiến về thể lực, đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể và thể hiện

khả năng của bản thân về thể dục thể thao.

- Biết vận dụng ở mức nhất định những điều đã học và nếp sinh hoạt ở

trường và ngồi nhà trường.

Thơng qua các hoạt động thể dục thể thao rèn luyện cho học sinh tác

phong khỏe mạnh, nhanh nhẹn, tính kỉ luật và một số phẩm chất đạo đức cần

thiết chính là góp phần chuẩn bị cho thế hệ trẻ có nếp sống lành mạnh, tốt

đẹp. Góp phần giáo dục đào tạo thế hệ trẻ trở thành những con người có ích

cho xã hội, chuẩn bị về thể lực và nếp sống cho người lao động tương lai thực

hiện sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

2.1.3. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi tiểu học

Đặc điểm tâm lý:

Lứa tuổi tiểu học là lứa tuổi quá độ và là giai đoạn rất nhạy cảm, có sự

phát triển đặc biệt mạnh mẽ, linh hoạt của các đặc tính nhân cách. Các em



ln mong muốn thử sức mình theo các phương hướng khác nhau, nên hành

vi của các em phức tạp và mâu thuẫn.

Vì vậy cần thường xuyên giám sát và giáo dục cho phù hợp trên cơ sở

phát huy tính tích cực, sáng tạo, biết điều chỉnh và tổ chức hoạt động, tạo

điều kiện phát triển tốt các khả năng cho các em

Đặc điểm về mặt sinh lý

- Hệ xương còn nhiều mơ sụn, xương sống, xương hông, xương chân,

xương tay đang trong thời kỳ phát triển nên dễ bị cong vẹo, gẫy dập,...Vì thế

mà trong các hoạt động vui chơi của các em cha mẹ và thầy cô (sau đây xin

gọi chung là các nhà giáo dục) cần phải chú ý quan tâm, hướng các em tới

các hoạt động vui chơi lành mạnh, an toàn.

- Hệ cơ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò

chơi vận động như chạy, nhảy, nơ đùa,...Vì vậy mà các nhà giáo dục nên đưa

các em vào các trò chơi vận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp và đảm

bảo sự an toàn cho trẻ.

- Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư

duy của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng,

tư duy trừu tượng. Do đó, các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đố

vui trí tuệ, các cuộc thi trí tuệ,...Dựa vào cơ sinh lý này mà các nhà giáo dục

nên cuốn hút các em với các câu hỏi nhằm phát triển tư duy của các em.

2.1.4. Cơ sở lí luận về bài tập thể lực chuyên môn trong chạy cự ly ngắn

Giáo dục thể chất là một q trình giáo dục nhằm hồn thiện về mặt thể

chất con người, nhằm hình thành và củng cố những kỹ năng, kỹ xảo vận động

cơ bản trong đời sống con người, cùng những hiểu biết có liên quan đến

những kỹ năng, kỹ xảo đó.



Trong thể dục thể thao nói chung và điền kinh nói riêng, các bài tập thể

dục thể thao được coi là phương tiện chủ yếu và chuyên biệt, tác động đến đối

tượng tập luyện nhằm đạt được mục đích giáo dục thể chất.

Dựa theo các quan điểm khác nhau, các bài tập thể dục thể thao dùng

trong giảng dạy, huấn luyện được phân loại theo nhiều cách khác nhau. Một

trong những cách phân loại phổ biến là phân thành các bài tập nhằm tạo điều

kiện cho việc nắm vững kỹ thuật động tác (bài tập bổ trợ) và các bài tập thể

lực chuyên môn nhằm phát triển các tố chất thể lực: sức nhanh, sức mạnh, sức

bền,…Trên thực tế các tố chất này thể hiện dưới dạng tổng hợp gắn liền với

nhau. Tuy nhiên, trong cự ly ngắn thì sức mạnh tốc độ và sức nhanh thể hiện

rõ ràng hơn. Để đạt được thành tích cao trong chạy cự ly ngắn thì cần phối

hợp có hiệu quả và sử dụng các bài tập huấn luyện về sức mạnh tốc độ, sức

nhanh…Phải được lựa chọn phù hợp với lứa tuổi, giới tính và điều kiện cơ sở

vật chất ở từng địa phương.

2.1.5. Nguyên lý kỹ thuật và tác dụng tập luyện môn chạy cự ly ngắn

2.1.5.1. Nguyên lý kỹ thuật chạy cự ly ngắn

Môn chạy cự ly ngắn có các cự ly 60m, 100m, 200m, 400m. Chạy cự

ly ngắn là một hoạt động có tính chu kỳ, có cường độ tối đa, chủ yếu phát

triển sức mạnh bền tốc độ. Đặc điểm chung của cự ly ngắn là tốc độ cao nhất,

cường độ lớn nhất và thời gian ngắn nhất. Một chu kỳ hoạt động trong chạy

cự ly ngắn đều có hai bước chạy, bao gồm 4 thời kỳ: chống tựa của một chân,

bay, chống tựa của chân kia, bay. Mỗi thời kỳ chống tựa có 2 giai đoạn:

Giai đoạn chống trước: Từ khi chân lăng mới tiếp xúc xuống mặt đất

tới khi tổng trọng tâm của cơ thể dọi thẳng góc xuống chân chống tựa (thời

điểm thẳng đứng).

Giai đoạn chống sau: Từ khi tổng trọng tâm thân thể dọi thẳng góc

xuống chân chống tựa (thời điểm thẳng đứng) tới khi chân chống tựa đạp sau



rời khỏi mặt đất. Bước chạy càng tích cực, tốc độ càng nhanh thì thời kỳ bay

trên khơng càng ngắn, hệ số tích cực của bước chạy càng nhỏ.

Như vậy, muốn chạy nhanh phải giảm thời gian bay trên khơng. Hay

nói cách khác, trong giai đoạn chống sau, phải giảm tốc độ đạp sau và tăng

lực đạp sau, để đưa cơ thể chuyển động nhanh về phía trước. Ở giai đoạn

chống sau, các cơ duỗi chân chống tựa phải hoạt động rất tích cực theo chế độ

khắc phục đạp thẳng hết chân. Các cơ chân kia (chủ yếu là cơ tứ đầu đùi)

cũng phải hoạt động tích cực, để phối hợp đánh đùi về phía trước lên trên.

Muốn đánh đùi của chân lăng tích cực và nhanh, cẳng chân phải theo quán

tính gập sát với đùi trên để rút ngắn bán kính chuyển động, tăng tốc độ góc.

Ngồi hoạt động của hai chân còn có sự phối hợp hiệu quả của các cơ

tham gia đánh tay và các cơ tham gia giữ thân trên ở vị trí hợp lý. Giai đoạn

chống sau có liên quan mật thiết hữu cơ với giai đoạn chống trước, giai đoạn

chống trước lại có quan hệ mật thiết với thời kỳ bay.

Trong khi chạy xuất phát thấp, thân người ngã nhiều về phía trước. Ở

các bước đầu, chân chống tựa đặt phía sau điểm dọi của trọng tâm cơ thể, ít

bị tác động bất lợi của phản lực chống tựa. Trọng tâm cơ thể cao nhất ở thời

kỳ bay và thấp nhất ở thời kỳ chống tựa. Trọng tâm cơ thể càng ít di động thì

tốc độ càng cao.

Trong quá trình chạy, tốc độ bước chạy phụ thuộc vào tần số bước và

độ dài bước. Những cơng trình nghiên cứu chưa nhất trí khẳng định: Tốc độ

trong chạy cự ly ngắn phụ thuộc vào tần số bước chạy hay độ dài bước. Tuy

nhiên một số cơng trình nghiên cứu gần đây khẳng định tốc độ bước chạy phụ

thuộc vào tần số bước chạy với độ dài bước thích hợp. Động tác chạy phải hết

sức thoải mái, không bị căng thẳng, kết hợp tốt việc phối hợp bước chạy với

hô hấp.

2.5.1.2. Tác dụng tập luyện môn chạy cự ly ngắn



- Nhằm rèn luyện tư thế cơ bản của cơ thể, tăng cường sức khoẻ cho

học sinh, phát triển sức mạnh cơ chân và sự chịu đựng của cơ quan nội tạng.

Rèn luyện chạy làm cho hoạt động cơ bắp, các hệ thống cơ quan nội tạng

được đẩy mạnh, quá trình trao đổi chất và năng lượng được nhanh hơn. Các

tố chất nhanh nhẹn, khéo léo được phát triển, làm cơ sở tốt cho việc hình

thành các kĩ năng vận động phức tạp khác.

- Giúp học sinh hiểu biết và rèn luyện tư thế đi đúng, đẹp, tự nhiên,

khắc phục các tư thế đi sai lệch như : đi chân chữ bát, đi vòng kiềng, đi hay

cúi đầu, đi thân hay lắc lư, lệch vai, gù lưng... Trên cơ sở đó mà các em sửa

đổi tốc độ và bước đi dài ngắn cho thích hợp, để nâng dần khả năng hoạt

động tự nhiên, phục vụ cuộc sống. Cần quan tâm và bảo đảm các yêu cầu kĩ

thuật, để học sinh thực hiện được tư thế đi chính xác.

2.2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu

2.2.1. Thực trạng hoạt động dạy học môn thể dục của trường tiểu học

trường tiểu học xã chiềng sại huyện bắc yên tỉnh sơn la hiện nay

Trường tiểu học xã chiềng sại huyện bắc yên tỉnh sơn la có 15 lớp với

tổng số 205 học sinh có tất cả 31 cán bộ giáo viên. Trong đó có 2 giáo viên

dạy thể dục có trình độ trung học sư phạm thể dục đảm nhiệm giảng dạy.

Điều này cũng làm chất lượng giáo dục bị ảnh hưởng. Vì vậy cần nâng cao

hơn nữa về trình độ và năng lực của đội ngũ giáo viên thể dục thể thao, cơ sở

vật chất, trang thiết bị của trường nhằm góp phần vào việc phần nâng cao

chất lượng giảng dạy của nhà trường.

2.2.2.Thực trạng thành tích chạy 30m của học sinh lớp 5 trường tiểu học

xã chiềng sại huyện bắc yên tỉnh sơn la

Do ý thức chủ quan của một số bộ phận học sinh thường lơ là trong

việc tập



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phần 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×