Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đảng và Nhà nước luôn khẳng định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển; giáo dục vừa là mục tiêu vừa là động lực để phát triển kinh tế - xã hội. Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội trong 10 năm vừa

Đảng và Nhà nước luôn khẳng định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển; giáo dục vừa là mục tiêu vừa là động lực để phát triển kinh tế - xã hội. Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội trong 10 năm vừa

Tải bản đầy đủ - 0trang

thị trường làm nảy sinh những vấn đề mới, như nguy cơ xâm nhập của văn hóa

và lối sống khơng lành mạnh làm xói mòn bản sắc dân tộc, dịch vụ giáo dục kém

chất lượng có thể gây nhiều rủi ro lớn đối với giáo dục đặt ra yêu cầu phải đổi

mới cả về lý luận cũng như những giải pháp thực tiễn phù hợp để phát triển giáo

dục.

- Chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là

giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Hệ thống giáo dục và đào tạo thiếu liên

thơng giữa các trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo; còn nặng lý

thuyết, nhẹ thực hành. Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất,

kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc

giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc. Phương pháp giáo dục, việc thi,

kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất.

- Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém. Đội ngũ nhà giáo và cán

bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận

chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí

vi phạm đạo đức nghề nghiệp.

- Đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả. Chính sách, cơ chế tài

chính cho giáo dục và đào tạo chưa phù hợp. Cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu

và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

Những hạn chế, yếu kém nói trên do các nguyên nhân chủ yếu sau:

- Việc thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về

phát triển giáo dục và đào tạo, nhất là quan điểm "giáo dục là quốc sách hàng

đầu" còn chậm và lúng túng. Việc xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lược, kế

hoạch và chương trình phát triển giáo dục - đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu của xã

hội .

- Mục tiêu giáo dục toàn diện chưa được hiểu và thực hiện đúng. Bệnh hình

thức, hư danh, chạy theo bằng cấp... chậm được khắc phục, có mặt nghiêm trọng

hơn. Tư duy bao cấp còn nặng, làm hạn chế khả năng huy động các nguồn lực xã

hội đầu tư cho giáo dục, đào tạo.

6



- Việc phân định giữa quản lý nhà nước với hoạt động quản trị trong các cơ

sở giáo dục, đào tạo chưa rõ. Công tác quản lý chất lượng, thanh tra, kiểm tra,

giám sát chưa được coi trọng đúng mức. Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà

nước, tổ chức xã hội và gia đình chưa chặt chẽ . Nguồn lực quốc gia và khả năng

của phần đơng gia đình đầu tư cho giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu.

III. Nội dung tiếp theo tôi được nghiên cứu và học tập là chuyên đề 3:

“Quản lí giáo dục và chính sách phát triển giáo dục trong cơ chế thị trường

định hướng Xã Hội Chủ nghĩa.”, qua chuyên đề 3 em nhận thức được các vấn đề cơ

bản sau:

Nghị định số 32/2008/NĐ-CP ngày 19/03/2008 quy định vị trí, chức năng,

nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ GD&ĐT như sau:

*Vị trí và chức năng Bộ GD&ĐT là cơ quan của Chính phủ, thực hiện

chức năng quản lý nhà nước về GD&ĐT thuộc hệ thống giáo dục quốc dân

và các cơ sở giáo dục khác về các lĩnh vực, mục tiêu, chương trình, nội dung, kế

hoạch, chất lượng GD&ĐT, tiêu chuẩn nhà giáo, cán bộ quản lý GD, quy chế

thi, tuyển sinh, hệ thống văn bằng, chứng chỉ, cơ sở vật chất và thiết bị trường

học, quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ

theo quy định của pháp luật.

b. Tổ chức bộ máy của Sở Giáo dục và Đào tạo

Chức năng, nhiệm vụ của Sở Giáo dục – Đào tạo được xác định theo

thông tư 47/2011/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 19/10/2011 Hướng dẫn về chức

năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Giáo dục và Đào tạo

như sau:

c. Tổ chức bợ máy của Phòng Giáo dục và Đào tạo

Thông tư liên tịch số 47/ TTLT-BGDĐT-BNV ngày 19/10/2011 hướng dẫn

về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của phòng Giáo dục

1. Phòng Giáo dục và Đào tạo là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện,

có chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng quản lý

nhà nước về giáo dục và đào tạo, bao gồm: mục tiêu, chương trình, nội dung

7



giáo dục và đào tạo; tiêu chuẩn nhà giáo và tiêu chuẩn cán bộ quản lý giáo dục;

tiêu chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị trường học và đồ chơi trẻ em; quy chế thi cử

và cấp văn bằng, chứng chỉ; bảo đảm chất lượng giáo dục và đào tạo.

2. Phòng Giáo dục và Đào tạo có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản

riêng; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và nhiệm vụ công tác của

UBND cấp huyện; đồng thời chịu sự hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn,

nghiệp vụ của Sở Giáo dục và Đào tạo.

Sơ đồ hệ thống các cơ quan quản lí nhà nước về giáo dục

Chính phủ



Bộ GD&ĐT

ĐH, VỤ, CỤC

ĐVSN



UBNDTỉnh

Sở GD&ĐT



Trường CĐ, TC,

UBND

Huyện



THPT, TTGDTX

Phòng GD&ĐT

Trường mầm non

tiểu học, THCS



UBND Xã



Chú thích:

Mũi tên



:Quản lý, chỉ đạo thực hiện



Mũi tên



: Phối hợp, hướng dẫn thực hiện, kiểm tra



IV. Nội dung tiếp theo tôi được nghiên cứu và học tập là chuyên đề 4:

“Giáo viên THCS với công tác tư vân học sinh trong trường THCS.”, qua

chuyên đề 4 em nhận thức được các vấn đề cơ bản sau:

- Trình bày được các khái niệm cơ bản: tư vấn, tư vấn học đường; mối

quan hệ hỗ trợ về tâm lý, chức năng tư vấn của giáo viên; mục đích và tầm quan

trọng của tư vấn học đường.

8



- Phân tích được các đặc điểm tâm lý và những khó khăn tâm lý cơ bản của

HS THCS.

- Phân tích được các nội dung cơ bản của tư vấn học đường ở trường

THCS, phương pháp tư vấn, các hình thức tư vấn.

- Phân tích được các kỹ năng tư vấn cơ bản.

- Xác định các khó khăn tâm lý ở HS THCS.

- Thiết lập và duy trì mối quan hệ hỗ trợ về tâm lý đối với HS.

- Vận dụng linh hoạt các kỹ năng tư vấn để hiểu và đánh giá đúng vấn đề

của HS.

- Hỗ trợ HS tìm kiếm, lựa chọn các giải pháp để vượt qua khó khăn.

- Thứ nhất: Đây là thời kì quá độ (chuyển tiếp) từ tuổi thơ sang tuổi trưởng

thành. Nếu được định hướng đúng, được tạo điều kiện thuận lợi thì trẻ em sẽ trở

thành cá nhân thành đạt, những công dân tốt. Ngược lại, nếu định hướng không

đúng, hoặc để trẻ bị tác động bởi các yếu tố tiêu cực thì trẻ sẽ có sự phát triển

lệch lạc về nhận thức, thái độ, hành vi và nhân cách.

- Thứ hai: Thời kì mà tính tích cực xã hội của trẻ em được phát triển mạnh

mẽ, đặc biệt trong việc thiết lập các mối quan hệ bình đẳng với người lớn và bạn

ngang hàng; trong việc lĩnh hội các chuẩn mực và giá trị xã hội, thiết kế tương

lai của mình và những kế hoạch hành động cá nhân tương ứng.

- Thứ ba: Trong suốt thời kì tuổi thiếu niên đều diễn ra sự cấu tạo lại, cải tổ

lại, hình thành các cấu trúc mới về thể chất, sinh lí, hoạt động, tương tác xã hội

và tâm lí, nhân cách. Từ đó hình thành cơ sở, nền tảng và vạch chiều hướng cho

sự trưởng thành thực thụ của cá nhân.

- Thứ tư: Tuổi thiếu niên là thời kỳ khó khăn, phức tạp và đầy mâu thuẫn

trong qúa trình phát triển. Sự phức tạp thể hiện qua tính hai mặt của hoàn cảnh

phát triển của trẻ: Một mặt, có những yếu tố thúc đẩy phát triển tính cách của

người lớn, mặt khác hoàn cảnh sống của các em có những yếu tố kìm hãm sự

phát triển tính người lớn như phần lớn thời gian các em bận học, ít có nghĩa vụ

khác với gia đình, phụ thuộc kinh tế, xã hội vào cha mẹ ...

9



Đánh giá là một công việc thường xuyên của cán bộ tư vấn, đánh giá diễn

ra trong tất cả các giai đoạn của tư vấn, có thể trước, trong hoặc sau khi tư vấn

nhằm trợ giúp có hiệu quả. Trong tư vấn học đường đánh giá tâm lí HS là một

việc làm cần thiết để thu thập số liệu cho việc phòng ngừa, can thiệp đảm bảo tư

vấn chính xác, giúp HS nhận thức được bản thân từ đó nâng cao năng lực giải

quyết những khó khăn, vướng mắc đang gặp phải.

Kỹ năng đánh giá tâm lí HS là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm để thu thập

những dữ liệu chính xác về đặc điểm tâm lí của HS (năng lực, tính cách, điểm

mạnh, điểm yếu, mức độ khó khăn tâm lí…) để có kế hoạch trợ giúp can thiệp

kịp thời và hiệu quả.

Mục đích của kỹ năng: Phát hiện những nguy cơ, thu thập dữ liệu để hướng

nghiệp cho HS, nhận diện điểm mạnh, điểm yếu của HS để giúp HS nâng cao

năng lực giải quyết vấn đề dựa trên thế mạnh của họ.

V. Nội dung tiếp theo tôi được nghiên cứu và học tập là chuyên đề 5:

“Tổ chức hoạt động dạy học, xây dựng và phát triển kế hoạch giáo dục ở

trường trung học cơ sở.”, qua chuyên đề 5 em nhận thức được các vấn đề cơ bản sau:

- Hiểu được các hoạt động dạy học và giáo dục trong trường THCS, hiểu

được tầm quan trọng và ý nghĩa của việc tổ chức các hoạt động dạy học và

giáo dục trong trường THCS.

- Biết cách tổ chức, xây dựng các hoạt động dạy học và giáo dục trong

trường THCS.

- Tổ chức và thực hiện được một số hoạt động dạy học và giáo dục trong

trường THCS.

- Hoạch định được các công việc cụ thể trong trường THCS của tổ chun

mơn, đồn thanh niên, giáo viên chủ nhiệm lớp, giáo viên bộ mơn , các tổ chức

đồn thể khác…

- Đề xuất, vận dụng phương thức giải quyết và giải quyết một cách hiệu

quả các tình huống giáo dục/ mâu thuẫn giáo dục.

- Viết báo cáo SKKN, chia sẻ sáng kiến kinh nghiệm với đồng nghiệp

- Lập kế hoạch tổ chức các hoạt động dạy học và giáo dục

10



- Tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học và giáo dục

Hàng năm, trước mỗi năm học mới, Bộ Giáo dục và Đào tạo đều có văn

bản gửi cho các sở giáo dục và đào tạo về phương hướng cho từng cấp học đồng

thời nêu rõ các nhiệm vụ trọng tâm của ngành trong năm học . Trên cơ sở đó,

các sở giáo dục và đào tạo sẽ cụ thể hóa các nhiệm vụ trọng tâm cho phù hợp

với điều kiện thực tế của địa phương. Công văn v/v Hướng dẫn thực hiện nhiệm

vụ giáo dục trung học thường gồm có 4 phần: (1) Nhiệm vụ trọng tâm; (2)

Nhiệm vụ cụ thể; (3) các kỳ thi trong năm; (4) Tổ chức thực hiện. Từ cơng văn

hướng dẫn chung đó, các trường phổ thơng xây dựng kế hoạch năm học cụ thể

cho đơn vị mình.

(1). Rà sốt, quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục Theo lãnh đạo Bộ

Giáo dục và Đào tạo, việc triển khai rà soát, quy hoạch lại các cơ sở giáo dục và

đào tạo nhằm tăng cường các điều kiện đảm bảo chất lượng, nâng cao hiệu quả

đầu tư, phù hợp với nhu cầu xã hội.

Cụ thể, trong năm học 2016 - 2017 Bộ tập trung thực hiện xây dựng

nguyên tắc, tiêu chí quy hoạch để các địa phương thực hiện quy hoạch mạng

lưới các cơ sở giáo dục các cấp phù hợp với điều kiện của từng vùng, địa

phương.

Với giáo dục đại học, Bộ sẽ tiến hành kiểm định chất lượng để xếp hạng, phân

tầng các cơ sở giáo dục đại học để sắp xếp lại mạng lưới. Trong đó, ngành giáo

dục ưu tiên quy hoạch trước mạng lưới cơ sở đào tạo giáo viên mầm non, phổ

thông.

(2). Nâng cao chất lượng đội ngũ Nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo

và cán bô quản lý giáo dục là nhiệm vụ trọng tâm thứ hai của Bộ Giáo dục và

Đào tạo trong năm học tới.

Theo đó, trong năm học 2016 – 2017, Bộ sẽ tập trung xây dựng và hoàn thiện

các chuẩn nghề nghiệp nhà giáo, chuẩn cán bộ quản lý giáo dục.



11



Sau khi có chuẩn, ngành tiến hành rà soát, đánh giá thực trạng chất lượng đội

ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục các cấp theo chuẩn. Từ đó, có kế hoạch

đào tạo, bồi dưỡng hoặc tinh giản biên chế.

Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng cho biết sẽ tạo sự công bằng trong đào tạo, bồi

dưỡng giữa nhà giáo trong và ngồi cơng lập.

Bên cạnh việc nâng cao chất lượng đồi ngũ, Bộ cũng đặt vấn đề rà soát những

bất cập về chế độ, chính sách đối với đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý, nhân

viên ngành giáo dục, tiến tới triển khai nghiên cứu, xây dựng Luật Nhà giáo.

(3). Đẩy mạnh phân luồng và hướng nghiệp

Công tác phân luồng và hướng nghiệp cho học sinh đã được Bộ đưa ra là nhiệm

vụ trọng tâm trong nhiều năm học nhưng vẫn chưa thực sự hiệu quả.

Trong năm học 2016-2017, hai giải pháp mới với hai mơ hình thí điểm được

lãnh đạo Bộ đưa ra: Thứ nhất, thí điểm hình thành trường trung cấp vừa tổ chức

học văn hóa và học kỹ năng nghề trên địa bàn cấp huyện; Thứ hai, thí điểm triển

khai mơ hình giáo dục nhà trường gắn với thực tiễn sản xuất kinh doanh của địa

về cơ phương.

Bên cạnh đó, các chương trình cũ như mơ hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục

thường xuyên và cơ sở giáo dục nghề nghiệp để cấp hai văn bằng cho người

học; hợp tác, liên kết giữa trường phổ thông và trường chuyên nghiệp trên địa

bàn để đào tạo và công nhận kỹ năng nghề cho học sinh… cũng sẽ được đánh

giá và tiếp tục.

(4). Nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ . Có 7 nhiệm vụ cụ thể được

Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra để thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng dạy





học



ngoại



ngữ,



đặc



biệt







tiếng



Anh.



Các nhiệm vụ với các giải pháp khá truyền thống như bồi dưỡng, chuẩn hoá đội

ngũ giáo viên; hồn thiện chương trình, tài liệu; đổi mới thi và kiểm tra; tăng

cường cơ sở vật chất; nhân rộng các mơ hình tiêu biểu; tăng cường hợp tác, hỗ

trợ của quốc tế.



12



Điểm đáng lưu ý nhất là Bộ đặt nhiệm vụ tổ chức nghiên cứu, xây dựng lộ trình

đưa tiếng Anh trở thành ngơn ngữ thứ 2 ở Việt Nam. Theo đó, với mỗi lộ trình,

Bộ sẽ nghiên cứu và xây dựng các nguồn lực cần huy động, các hoạt động cần

triển khai và các kết quả cần đạt được.

(5). Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin. Bộ Giáo dục cho biết sẽ

xây dựng các đề án, dự án và kế hoạch triển khai ứng dụng công nghệ thông tin

một cách hiệu quả.

Hệ thống hạ tầng và thiết bị công nghệ thông tin sẽ được phát triển trong tồn

ngành theo hướng đồng bộ, hiện đại.

Cơng nghệ thông tin cũng sẽ được đẩy mạnh ứng dụng trong đổi mới nội

dung, phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá một cách sáng tạo, thiết thực và

hiệu quả. Cụ thể như xây dựng kho bài giảng e-Learning trực tuyến đáp ứng nhu

cầu tự học và học tập suốt đời của người học, thu hẹp khoảng cách tiếp cận các

dịch vụ giáo dục và đào tạo có chất lượng của người học giữa các vùng, miền...

(6). Đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ cho các trường đại học. Theo lãnh

đạo Bộ, việc tăng quyền tự chủ và yêu cầu về trách nhiệm giải trình của các cơ

sở giáo dục đại học nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, phù hợp với xu

thế chung của thế giới. Mức độ tự chủ căn cứ vào năng lực tự chủ và kết quả

kiểm định, xếp hạng chất lượng của các cơ sở đào tạo.

(7). Tăng cường hội nhập quốc tế trong giáo dục và đào tạo Ngành giáo

dục xác định hội nhập quốc tế vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp nâng cao chất

lượng các hoạt động giáo dục và đào tạo.

Để hội nhập quốc tế đạt hiệu quả cao, trong năm học 2016 – 2017, ngành tiếp

tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về hội nhập quốc tế trong

giáo dục.

Bộ cũng xác định tăng cường áp dụng các tiêu chuẩn, tiêu chí và phương

pháp tiếp cận chung của khu vực và quốc tế trong quá trình xây dựng, cập nhật

chương trình và triển khai đào tạo, nghiên cứu khoa học.



13



Bên cạnh hợp tác cấp Bộ, lãnh đạo ngành giáo dục cũng khuyến khích các cơ sở

giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp nhận chuyển giao chương trình tiên tiến

của nước ngồi, sử dụng tiếng Anh trong giảng dạy chuyên ngành...

(8). Tăng cường cơ sở vật chất. Để nâng cao chất lượng thì vấn đề nâng cao

cơ sở vật chất có vai trò rất quan trọng. Đối với giáo dục mầm non và phổ thông,

năm học 2016-2017 ngành tiếp tục thực hiện có hiệu quả Đề án kiên cố hóa

trường, lớp học và nhà cơng vụ cho giáo viên giai đoạn 2014 - 2015, lộ trình

2020.

Đối với các cơ sở giáo dục đại học, phải thu hút các nguồn đầu tư ngoài ngân

sách nhà nước, tăng cường hợp tác với doanh nghiệp.

(9). Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao.

Đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong ba

khâu đột phá để phát triển đất nước trong những năm sắp tới. Để thực hiện chủ

trương này, trong năm học 2016 - 2017 tập trung thực hiện 8 nhiệm vụ cụ thể.

Các nhiệm vụ được đề ra như đổi mới phương pháp giảng dạy, đổi mới chương

trình đào tạo; kiểm định chất lượng theo các tiêu chuẩn của khu vực và quốc tế;

trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Khung trình độ quốc gia và các cơ chế,

chính sách cần thiết để thực hiện Khung trình độ quốc gia...

Ngành cũng sẽ đầu tư cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm trọng điểm cho các

cơ sở giáo dục đại học có nhu cầu; xây dựng chính sách thu hút sinh viên đi du

học nước ngồi về nước tham gia giảng dạy, nghiên cứu khoa học; thực hiện

hiệu quả các đề án đào tạo giảng viên, cán bộ có trình độ ở các nước phát triển

theo các đề án sử dụng kinh phí nhà nước; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học.../.

VI. Nội dung tiếp theo tôi được nghiên cứu và học tập là chuyên đề 6:

“Phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở hạng II.”, qua

chuyên đề 6 em nhận thức được các vấn đề cơ bản sau:

- Trình bày được những vấn đề cốt lõi của giáo viên thế kỷ XXI: Các yêu

cầu cơ bản đối trong đạo đức nghề nghiệp và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp



14



trước yêu cầu đổi mới chương trình GDPT;Đội ngũ giáo viên cốt cán cấp THCS

với nhiệm vụ đổi mới chương trình GDPT.

- Phân tích được những vấn đề cốt lõi của giáo viên THCS:Đạo đức nghề

nghiệp và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên THCS; Giáo viên cốt cán

và vai trò của giáo viên cốt cán ở trường THCS; Kế hoạch dạy học, giáo dục và

hợp tác, hỗ trợ đồng nghiệp về phương pháp và chiến lược dạy học và giáo dục

trong trường THCS; Đánh giá và hợp tác hỗ trợ đồng nghiệp đánh giá kết quả

dạy học và giáo dục học sinh THCS; Phát triển môi trường học tập của giáo viên

và học sinh trong trường THCS.

- Phân tích được một số năng lực cần thiết của giáo viên cốt cán ở trường

THCS trước yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông hiện nay:

+ Năng lực xây dựng kế hoạch dạy học, giáo dục hỗ trợ đồng nghiệp về xây

dựng kế hoạch dạy học, giáo dục trong trường THCS;

+ Năng lực giao tiếp, hợp tác, hỗ trợ đồng nghiệp về phương pháp và chiến

lược dạy học và giáo dục trong trường THCS;

+ Năng lực đánh giá và hợp tác hỗ trợ đồng nghiệp đánh giá kết quả việc

dạy học và giáo dục học sinh trong trường THCS;

+ Năng lực phát triển chương trình giáo dục nhà trường.

- Phân tích được nội dung phát triển đội ngũ giáo viên THCS:Kế hoạch

phát triển đội ngũ trước yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục;Tổ chức thực

hiện kế hoạch phát triển đội ngũ theo yêu cầu đổi mới chương trình GDPT.

- Tìm hiểu được thực trạng năng lực, đạo đức nghề nghiệp, tiêu chuẩn chức

danh nghề nghiệp của giáo viên THCS ở thế kỷ XXI.

- Xây dựng được hệ thống biện pháp phát triển năng lực nghề nghiệp cho

đội ngũ giáo viên cốt cán ở trường THCS.

Người thầy thực sự tâm huyết yêu nghề, yêu người : Nghị quyết Trung

ương 8 khẳng định: “Đổi mới mạnh mẽ mục tiêu, nội dung, phương pháp đào

tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của nhà giáo

theo yêu cầu nâng cao chất lượng, trách nhiệm, đạo đức và năng lực nghề

15



nghiệp” (4).Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ là vấn đề then chốt có ý

nghĩa quyết định chất lượng giáo dục là phải xây dựng được một đội ngũ đông

đảo người làm công tác giáo dục thực sự u nghề, u người, hết lòng chăm

sóc, giáo dục học sinh, không ngừng trau dồi đạo đức, nâng cao trình độ chun

mơn nghiệp vụ, xứng đáng là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Theo Hồ

Chí Minh, người thầy phải luôn luôn gương mẫu, phải không ngừng bồi dưỡng

đạo đức cách mạng. Muốn phụng sự nhân dân, để xã hội tơn kính, trước hết đội

ngũ nhà giáo cần yêu nghề, yêu trường, tận tụy, tôn trọng, yêu mến người học và

thường xuyên tự bồi dưỡng chuyên môn học hỏi đồng nghiệp. Có động cơ, thái

độ, trách nhiệm tốt, thực sự yên tâm với nghề mà mình đã chọn; tồn tâm, tồn ý

trong thực hiện nhiệm vụ, ln có tinh thần say mê, sáng tạo, quyết tâm vượt

mọi khó khăn để cống hiến sức lực, trí tuệ cho từng tiết giảng, bài giảng. Khắc

phục mọi khó khăn trong cuộc sống đời thường để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ

được giao.Yêu nghề, yêu người là một trong những phẩm chất hàng đầu của nhà

giáo cách mạng, càng yêu người bao nhiêu thì càng yêu nghề bấy nhiêu.

Nêu cao tinh thần tự học: Trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì “đức

và tài” của người thầy càng phải gắn bó chặt chẽ với nhau. Nhà giáo dục khơng

chỉ làm một việc là truyền thụ tri thức đã có sẵn mà phải trở thành nhà tổ chức

hoạt động nhận thức, định hướng nhận thức, gợi mở và xây dựng bản lĩnh chính

trị, lập trường bản chất giai cấp cơng nhân cho người học. Vì vậy, đội ngũ nhà

giáo phải thực sự là con người văn hóa cao, tâm, trí rộng, “vừa hồng vừa

chuyên”. Như vậy, yêu cầu trong thực hiện chức trách nhiệm vụ nặng nề và vinh

quang của mình, đội ngũ nhà giáo phải khơng ngừng “làm mới” chính mình về

tri thức, kĩ năng sư phạm và kinh nghiệm thực tiễn. Muốn làm được điều đó, đội

ngũ nhà giáo, phải không ngừng tự học tập để mở rộng hiểu biết của mình về cả

kiến thức chuyên ngành, liên ngành, khoa học xã hội nhân văn,… những tri thức

mới về khoa học sư phạm hiện đại, kĩ năng giảng dạy theo phương pháp tích

cực. Thực tế giảng dạy cho thấy rằng, một thầy, cô giáo không thể giảng dạy tốt

môn học của mình đảm nhiệm nếu chỉ nắm vững kiến thức mơn đó.Mà đội ngũ

16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đảng và Nhà nước luôn khẳng định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển; giáo dục vừa là mục tiêu vừa là động lực để phát triển kinh tế - xã hội. Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội trong 10 năm vừa

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x