Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 11.1: Cấu tạo và vòng đời của luân trùng

Hình 11.1: Cấu tạo và vòng đời của luân trùng

Tải bản đầy đủ - 0trang

đó, năm 1965, chúng được dùng rộng rãi cho lồi cá Pagrus major và là thức ăn có

giá trị cao. Hiện nay, ni sản xuất Brachionus plicatilis dòng S và L là mục tiêu của

nghề nuôi cá Pagrus major, Japanese flounder, Japanese sweet fish.. .Với qui mô sản

xuất lớn, nuôi ln trùng ở Trung Tâm Ni Cá có thể 4-8 triệu con/ngày.

Năng suất trung bình 30 con/ml/ngày.

Ở Hoa Kỳ, Theilaccker và McMaster đã công bố lần đầu tiên kết quả nghiên

cứu về Brachionus plicatilis là một thức ăn tuyệt vời cho ấu trùng cá biển vào năm

1971 (Wendy và Kenvan, 1991). Tuy nhiên, nuôi luân trùng đến nay vẫn ở qui mơ thí

nghiệm, chủ yếu phục vụ cho ương ni các loài Mullet, cá măng, Pacific threatfin và

mahimah, Red drum, cá chẽm trắng và California halibut. Sản lượng nuôi mỗ ngày

thường đạt 100-500 triệu con, năng suất trung bình 25,7-75 cá thể/ml/ngày.

Tại Trung Quốc, hầu hết các nghiên cứu về luân trùng Brachionus plicatilis

làm thức ăn cho ấu trùng cá biển được tiến hành từ năm 1980. Đến nay, nuôi luân

trùng với qui mô lớn là mục tiêu của nghề ni cá chẽm. Năng suất bình qn là 10

cá thể/ml/ngày (Chen, 1991).

Nuôi luân trùng ở Đài Loan đã trở thành nghề nuôi thương phẩm phục vụ cho

việc sản xuất của 11 lồi cá biển. Sản lượng trung bình ước đốn khoảng 1 tỉ cá

thể/ngày với năng suất là 12 cá thể/ml/ngày (Liao, 1991).

Sản xuất luân trùng ở Thái Lan cũng được Kong Keo báo cáo năm 1991, với

sản lượng 166 triệu con/ngày và năng suất là 30 cá thể/ml/ngày. Luân trùng đực dùng

làm thức ăn cho đối tượng nuôi thủy sản chính như: cá chẽm, cá mú, tơm càng xanh.

1.3. Ni Artemia



TOP



Ngồi các lồi tảo và ln trùng kể trên, trong ni trồng thủy sản còn sử dụng

Artemia như một nguồn thức ăn tự nhiên đặc biệt quan trọng. Mặc dù Artemia được

biết đến hàng thế kỷ nay, song vai trò quan trọng của nó đối với nghề ni thủy sản

đặc biệt là trong ương nuôi ấu trùng tôm cá chỉ được biết rõ từ những năm 1930 do

Seale (1933) và Rollefen (1939) cơng bố. Từì đó, Artemia được sử dụng mạnh mẽ

trong nghề ni trồng thủy sản.



Hình 11.2. Cấu tạo Artemia



Những năm 1950, Artemia được cung cấp thương mại đầu tiên bởi hai nguồn ở

Hoa Kỳ là Vịnh San Francisco (California) và Hồ nước mặn lớn (Great Salt Lake0 (ở

Utah). Lúc này, Artemia được bán cho nuôi cá cảnh với giá rất thấp (<10USD/kg).

Song, đến đầu những năm 1960, với việc nghiên cứu sản xuất giống cá và giáp xác

bắt đầu phát triển, thị trường Artemia đã có nhiều cơ hội lớn để mở rộng. Các dòng

Artemia San Francisco, Great Salt Lake, và Chaplin Lake (Canada) là những dòng

Artemia đầu tiên cho nghiên cứu và sản xuất giống thủy sản.

Trong khi việc nghiên cứu và sản xuất giống ngày càng trở nên phổ biến trên

thế giới, năng suất Artemia từ các hồ lại giảm, thế nhập khẩu tăng cao đã làm tăng

cao giá Artemia trong những năm giữa 1970 (50-100USD/kg).

Do thiếu Artemia, giá thành cao, nhu cầu mở rộng trại sản xuất thủy sản lại

lớn, đôi lúc, nhười ta có ý định khơng dùng Artemia và nghiên cứu sử dụng loại thức

ăn khác cho nuôi thủy sản.

Tuy nhiên, với những nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng đầu tiên ở

Đại Học Ghen (Bỉ) đầu những năm 1970 đã cho biết rằng sự thiếu hụt trứng Artemia

chỉ là vấn đề tạm thời (Sorgeloos, 1976). Điều này cho được khẳng định khi việc sản

xuất trứng bào xác Artemia được bắt đầu với một số nguồn mới kể cả những nước thế

giới thứ ba. Điều này được thực hiện với sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, kể cả tư

nhân. Năm 1980, tình hình sản xuất Artemia trở nên thay đổi rõ rệt. Các sản phẩm

mới xuất hiện từ Argentina, Australia, Brazil, Colombia, Trung Quốc, Pháp, Thái

Lan. Tổng lượng Cyst tiêu thụ bởi các trại giống lúc ấy là 60 tấn.

Mặc dù do tình hình thời tiết thất thường, sản lượng Artemia đôi lúc dao động

lớn, nhưng dần dần cũng được ổn định. Những năm 1980, trứng Artmiea được tiêu

thụ hàng năm lên đến vài ba trăm tấn do sự mở rộng của các hoạt động trại giống.



Mặc dù nhu cầu Artemia đã được đáp ứng phần lớn, song, cần phải tăng cường sản

xuất với nhiều nguồn để có thể đáp ứng nhu cầu cao hơn trong thời gian tới. Mặc dù

đã có nhiều nguồn Artemia, song, nguồn trứng San Francisco chiếm đến 70% sản

lượng.

Tuy trứng Artemia thu từ tự nhiên chiếm phần lớn sản lượng, song, việc ni

Artemia thủ cơng trên ruộng muối cũng có ý nghĩa lớn ở các nước Đông Nam Á (Việt

Nam) và Châu Mỹ la Tinh để đáp ứng cho nhu cầu phát triển ở địa phương.

Hiện nay, sản lượng trứng Artemia trên thế giới hàng năm khoảng 2000 tấn

khô. Nguồn trứng thu từ hồ tự nhiên (Great Salt Lake) đang là nguồn chủ yếu.

2. VAI TRỊ CỦA MỘT SỐ LỒI THỨC ĂN TỰ NHIÊN TRONG NI TRỒNG

THỦY SẢN

2.1. Vi tảo



TOP



Đến nay, có khoảng trên 40 lồi tảo đã được phân lập, ni cấy và sử

dụng làm thức ăn cho ấu trùng các lồi thủy sản. Tùy thuộc vào chất lượng và

tính có sẵn của các loài tảo mà việc sử dụng chúng cho các đối tượng thủy sản

cũng khác nhau giữa các nơi trên thế giới. Tuy nhiên, có một số lồi tảo quan

trọng được nuôi và sử dụng phổ biến trên thế giới như ở bảng dưới đây.

Về phương thức sử dụng tảo, chúng thường được cho ăn trực tiếp hoặc gián

tiếp thông qua sinh vật trung gian khác, ở dạng tươi sống hay chế biến, thuần chủng

hay hỗn hợp nhiều loài. Mặc dù người ta thường áp dụng phương pháp cho đối tượng

ni thủy sản ăn chỉ một lồi tảo nào đó, nhưng Liao (1983) cho rằng: khơng có lồi

tảo đơn độc nào lại tốt nhất về mọi phương diện cho việc nuôi và sử dụng chúng làm

thức ăn cho ấu trùng tơm he. Tầm quan trọng của tảo chính là từ giá trị dinh dưỡng

của chúng.



Bảng 11.1: Lớp và giống tảo nuôi dùng làm thức ăn cho các đối tượng thủy sản

(Pauw và Person, 1991):

Lớp

Giống

Đối tượng cho ăn

Bacilariophyceae

Skeletonema

PL, BL, BP

Thalassiosira

PL, BL, BP

Phaeodactylum

PL, BL, BP, ML, BS

Chaetoceros

PL, BL, BP, BS

Cyclindrotheca

PL

Bellerochea

BP

Actinocysclus

BP

Nitzchia

BS

Cyclotella

BS



Haptophyceae



Isochrysis

Pseudoisochrysis

Dicrateria

Cricospaera

Coccolithus

Chrysophyceae

Monochrysis

Prasinophycease

Tetraselmis

Pyramimonas

Cyptophyceae

Chroomonas

Cryptomonas

Rhodomonas

Xanthophyceae

Olisthodiscus

Chlorophyceae

Carteria

Dunadiella

Chlamydomonas

Chlorococcum

Chlorella

Scenedesmus

Nannochloris

Brachiomonas

Cyanophyceae

Spirulina

PL, Ấu trừng tôm biển

BL, Ấu trùng nhuyễn thể

ML, Ấu trùng tôm nước ngọt

BP, Hậu ấu trùng nhuyễn thể



PL, BL, BP, ML, BS

BL, BP, ML

BP

BP

BP

BL, BP, BS, MR

PL, BL, BP, AL, BS

BL, BP

BP

BP

BL

BP

BP

BP, BS, MR

BL, BP, FZ, MR, BS

BP

BL, ML, BS, MR, FZ

FZ, MR, BS

BP, MR, SC

BP

PL, BP, BS, MR

AL, Ấu trùng bào ngư

MR, Luân trùng nước mặn

BS, Artemia

SC, Copepod nước mặn

FZ, Động vật phù du nước ngọt



Tuy nhiên, người ta chú ý đến giá trị dinh dưỡng của tảo không chỉ riêng thành

phần protein mà còn là thành phần acid béo, yếu tố dinh dưỡng không thể thiếu được

đối với ấu trùng của các loài hải sản. Trong nhiều trường hợp, tảo được báo cáo

không phải là thành phần thiết yếu trong khẩu phần ăn của các loài sinh vật biển,

nhưng thực tế, chúng có thể là nhân tố thúc đẩy sinh trưởng của đối tượng ni hoặc

có tác dụng như một vi khuẩn lọc nước (Fujimura và Okamoto, 1972; Barnabe, 1976;

Cohen, Finkel và Sussman, 1976; Maddox và Sandifer, 1977; Malecha, 1983 -trích

dẫn của Pauv và Persoone, 1991).

2.1.1. Chlorella

Chlorella được biết đến nhiều bởi vai trò quan trọng của nó về dinh dưỡng

cũng như là nhân tố môi trường trong nuôi trồng thủy sản. Việc dùng Chlorella vào

trong sản xuất đó là phương pháp nước xanh được áp dụng rộng rãi trong sản xuất

giống tơm càng, một số lồi cá và hai mảnh vỏ.

Khi ương ấu trùng tôm càng xanh, Cohen (1976) thấy rằng: sự hiện diện của

thực vật phiêu sinh có thể thúc đẩy sự tăng trưởng của ấu trùng tôm thông qua việc

loại bỏ NH3 và một số chất độc khác. Hơn nữa, Joshep (1977) cũng ghi nhận: sự bổ



sung tảo sẽ làm cho môi trường nước trở nên giàu dinh dưỡng, cung cấp những hợp

chất vi lượng mà thức ăn ban đầu và thức ăn bổ sung khơng có.

Chlorella cũng được chú ý nhiều trong sản xuất giống cua (Scylla serrata).

Mặc dù một số cơng trình nghiên cứu thu được tỉ lệ sống của cua chỉ ở mức giới hạn

(như thí nghiệm của Ong Kah Sin (1976) và Heasmen (1983), ương ấu trùng cua chỉ

dùng Artemia; hoặc thí nghiệm của Chen và Jeng (1980) có bổ sung Chlorella nhưng

khơng có tác dụng), song, Chlorella vẫn được dùng rộng rãi trong ương ấu trùng cua.

Brick (1974) đạt được tỉ lệ sống của cua cao nhất bằng cách thêm Chlorella vào môi

trường ương. Hơn nữa, ở Đài Loan, Nhật Bản, ấu trùng cua cũng được ương trong

mơi trường có bổ sung Chlorella (Cowan, 1983; Chen, 1991).

Liao (1991) báo cáo rằng: Ở Đài Loan khi ương ấu trùng cá măng, người ta bổ

sung Chlorella vào bể với mật độ: 50-350 x 10 4 tế bào/lít để duy trì chất lượng nước

và quần thể luân trùng-thức ăn chính của ấu trùng tơm, mặc dù tơm có ăn trực tiếp tảo

hay khơng chưa được chứng minh. Trong ương ấu trùng cá Grey mullet, Chlorella

cũng được thêm vào bể ấu trùng trong những ngày đầu tiên với mật độ 500-700 x 10 3

tế bào/ml.

Ngồi ra, Chlorella còn là thức ăn rất quan trọng trong ương nuôi luân trùng và

động vật phiêu sinh khác. Bên cạnh những loài Chlorella biển, loài Chlorella nước

ngọt, Chlorella vulgairs, cũng được thử nghiệm thành công làm thức ăn cho luân

trùng (Hirayama và ctv., 1988). Yamasaki và ctv. (1989) cũng chỉ ra rằng: hai dạng

đông lạnh của tảo Nannochloropsis sp. ( loài tảo Chlorella biển) đều cho kết quả

tương tự nhau về tốc độ tăng trưởng của quần thể luân trùng khi cho ăn hai dạng tảo

trên. Theo báo cáo, tốc độ tăng trưởng và sức sinh sản trung bình của luân trùng cao

nhất khi cho ăn Chlorella, tiếp theo là loài Isochrysis galbana (Nagata và Whyte,

1992). Mật độ quần thể, sản lượng và tốc độ sinh trưởng của luân trùng cũng tăng lên

theo sự gia tăng mật độ tảo ban đầu, đạt đến 40 x 10 6 tế bào /ml (James và ctv., 1986).

Với hàm lượng HUFA cao, Chlorella không chỉ là thức ăn quan trọng của luân trùng

mà còn được dùng để làm giàu acid béo cho luân trùng và một số động vật phù du

khác trước khi dùng chúng làm thức ăn cho cá và các lồi ni thủy sản khác.

2.1.2. Dunaliella

Tảo Dunaliella có chứa hàm lượng glycerol và β-caroten cao nên được xem là

đối tượng nuôi đầy triển vọng, dùng làm thức ăn không chỉ trong nghề ni thủy sản

mà còn nhiều lĩnh vực khác. Trong các lồi thuộc giống Dunaliella, lồi D. salina có

hàm lượng β-caroten cao nhất (Borowithzka, 1990), chiếm 20% trọng lượng khơ

(Kranzfelder, 1991). Trong ni thủy sản, Dunaliella đóng vai trò trong chế độ dinh

dưỡng của nhuyễn thể nhưng với mức độ khác nhau tùy theo loài nhuyễn thể. Fidalgo

và ctv. (1994) chỉ ra rằng: khi cho nghêu ăn 3 loại tảo khác nhau (Tetraselmis

suecica, Dunaliella tertiolecta và Phaedodactylum tricornutum) thì nghiệm thức cho

ăn Dunaliella tertiolecta nghêu có hàm lượng carbohydrate gia tăng.

Quan sát q trình tiêu hóa của ấu trùng Strombus gigas với 8 loại tảo khác

nhau (Isochrysis galbana, Tetraselmis chuii, T. seucica, Dunaliella tertiolecta,



Chlamidomonas cocoides, Thalassiosira fluviatilis, Chlorella sp., và Chaetoceros

sp.), Aranda (1994) thấy rằng: q trình tiêu hóa tảo Tetraselmis chuii, Chaetoceros

sp. và Chlorella sp. nhanh hơn so với 5 lồi tảo còn lại. Sự tiêu hóa tảo Chaetoceros

sp. và Chlorella sp. nhanh hơn so với tảo D. tertiolecta...Khi ương ấu trùng Mytilus

galloprovincialis với các loài tảo: Dunaliella tertiolecta, T. seucica, I. Galbana, P.

tricornutum, dạng đơn lẻ hay hỗn hợp, kết quả cho thấy: tỉ lệ sống và sức tăng trưởng

của ấu trùng thấp nhất ở nghiệm thức cho ăn hỗn hợp T. seucica và I. Galbana

(Moskera và ctv., 1989). Dunaliella khơng chỉ có vai trò quan trọng trong ương ni

nhuyễn thể mà chúng còn dùng làm thức ăn cho một số loài cá biển, cho Artemia và

động vật phiêu sinh khác.

2.1.3. Spirulina

Cùng với Chlorella và Dunaliella, Spirulina cũng là loài tảo rất giàu protein,

acid amin thiết yếu, acid béo, khoáng, vitamin và các hợp chất carotenoid nên chúng

được xem là nguồn dinh dưỡng rất tốt trong nuôi thủy sản. Mustafa và ctv. (1994) báo

cáo: Spirulina được thêm vào làm thức ăn bổ sung cho Pagrus major với tỉ lệ 5% đã

làm tăng tốc độ tăng trưởng của cá, hiệu quả chuyển đổi thức ăn và hiệu suất sử dụng

protein mà thành phần protein có trong thịt cá khơng bị ảnh hưởng xấu. So với

những loại tảo có kích thước lớn được thí nghiệm trước đó thì lồi Spirulina ảnh

hưởng tốt nhất đến sự tăng trưởng và sử dụng thức ăn của cá Red sea beam. El(1994) cũng cho biết: tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá Silver

sea beam khác nhau không có ý nghĩa giữa nghiệm thức có bổ sung 50% Spirulina

trong khẩu phần ăn với nghiệm thức đối chứng 100% bột cá. Tuy nhiên, thay 75%

Spirulina thì có ảnh hưởng bất lợi.

Trong thí nghiệm về ảnh hưởng của khẩu phần ăn có bổ sung Spirulina cho cá

chép bột (Catla catla, Labeo rohita, Cirrhinus mrigal, Hypophthalmichtys molitrix,

Ctenopharigodon idella và Cyprinus carpio), Ayyappan và ctv. (1991) nhận xét:

nghiệm thức cho ăn bổ sung 80% Chlorella cho kết quả tốt nhất. Chow và ctv (1990)

khi nghiên cứu về tốc độ tăng trưởng, tính ăn ngon miệng, hoạt động của men tiêu

hóa protein (protease) và men tiêu hóa tinh bột (amylase) nêu lên: khơng có sự khác

nhau có ý nghĩa giữa các nhóm cá cho ăn thức ăn đối chứng và thức ăn bổ sung

Spirulina. Spirulina cũng được đề nghị thay thế một phần bột cá trong chế độ ăn của

cá rô phi O. mossambicus.

Stripped jack fish cũng được nghiên cứ về ảnh hưởng của các chế độ ăn với tỉ

lệ bổ sung Spirulina khác nhua và người ta tìm ra rằng: Spirulina có ảnh hưởng đến

sự tích lũy mỡ của cá và chỉ nên bổ sung Spirulina ở mức 5% để duy trì sự sinh

trưởng bình thường của cá (Watanabe và ctv., 1990).

Boonyarapalin và ctv. (1989) nghiên cứu về sự thay đổi màu sắc của cá rô phi

đỏ Oreoromic niloticus với các nguồn bổ sung sắc tố khác nhau, gồm: Spirulina

marigold, Pepal meal, bột đầu tôm, bột nghệ và thức ăn đối chứng, ông thấy rằng:

tương ứng với các loại thức ăn trên, màu sắc của cá rô phi thay đổi: nâu đỏ, vàng lam,

lam, cam và hơi cam. Thêm vào đó, sắc tố của cá chép trở nên đậm hơn khi cho cá ăn

với khẩu phần có bổ sung 10% Spirulina. Nguồn cung cấp sắc tố khác là Marigold



petal chỉ cho sự biến đổi màu nhẹ (Wutiporn-Phromkunthong, 1984). Sự biến đổi

màu sắc của tôm sú nuôi cũng được Okada và ctv. nghiên cứu. Với cá nguồn bổ sung

carotenoid khác nhau trong khẩu phần ăn của tôm từ: β-caroten, Spirulina, Phaffia và

krill oil, ông nhận thấy: Spirulina cho kết quả tốt nhất về sự gia tăng hàm lượng

caroten trong vỏ của tôm. Đặc biệt, nên cho tôm ăn với chế độ ăn chiếm 3%

Spirulina trong 1 tháng trước khi thu hoạch.

Nghiên cứu về ảnh hưởng của các nguồn protein khác nhau trong khẩu phần

ăn của tôm thẻ (Penaeus indicus), Ali (1992) phát hiện: Spirulina và đậu phộng cho

sức tăng trưởng của tôm tốt hơn có ý nghĩa so với bánh dầu dừa và gingerly cakes;

hiệu quả sử dụng protein thô và giá trị sinh h5c của Spirulina cao hơn có ý nghĩa so

với đậu phộng. Khi ương ấu trùng tôm he (Penaeus) từ gia đoạn Zoea 1đến Mysis 2,

Gu và ctv. (1989) thấy rằng: ấu trùng được cho ăn Spirulina apletensis và S. platensis

cộng với bột đậu nành, đạt kích cỡ 663-757 µm, dài hơn có ý nghĩa so với thức ăn đối

chứng chỉ dùng bột đậu nành. Tỉ lệ tôm của nghiệm thức trên đạt 48-53%, cao hơn rất

nhiều so với lơ đối chứng (11%).

2.1.4. Tảo khuê

Trong lớp tảo khuê, loài Skeletonema costatum từ khi được phân lập lần đầu

tiên bởi Masue (1941) đã được dùng rộng rãi và là thức ăn rất quan trọng củâu trùng

tơm biển. Hudinaga đã đạt được thành công đầu tiên trong việc sử dụng tảo này làm

thức ăn cho ấu trùng tôm, tỉ lệ sống ở giai đoạn Mysis đạt 30% cao hơn rất nhiều so

với các kết quả trước đây, chỉ đạt 1% (Liao, 1983). Từ kết quả đó, nhiều lồi tảo

khn khác như: Chaetoceros sp., Thlasiosira, Isochrysis,... cũng được nghiên cứu

làm nguồn thức ăn cho ấu trùng tơm. Tùy theo từng lồi tảo và đạc điểm của chúng

mà mỗi lồi đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng đối với ấu trùng tôm.

Trong q trình phát triển của lĩnh vực sản xuất tơm giống, người ta đã chế

biến ra nhiều loại thức ăn nhân tạo để thay thế một phần hoặc toàn bộ tảo khuê. Tuy

nhiên, đến nay tảo khuê vẫn được xem là thức ăn tươi sống rất quan trọng của ấu

trùng tôm. Le way và ctv. (1993) đã nghiên cứu về ảnh hưởng của các nguồn thức ăn

tươi sống và nhân tạo đến sự tăng trưởng, tỉ lệ sống, hoạt động của enzym tiêu hóa

và thành phần của protein trong cơ thể của tôm he Nhật Bản, kết quả cho thấy: ấu

trùng Zoea sử dụng tảo Chaetoceros gracilis và thức ăn nhân tạo có sức tăng trưởng

tương đương nhau, nhưng đến giai đoạn Mysis, nếu cho ăn thức ăn nhân tạo thì sẽ

dẫn đến trọng lượng khơ và hàm lượng protein trong cơ thể của PL1 thấp hơn so với

ấu trùng cho ăn hỗn hợp Chaetoceros và Artemia.

Trong thí ngiệm so sánh về sự ảnh hưởng của 9 loại thức ăn nhân tạo dùng

thay cho tảo khuê (Chaetoceros) làm thức ăn cho ấu trùng tôm, Utama và ctv. (1992)

nhận thấy: sự giảm mật độ tảo từ 50.000 xuống còn 5.000 tế bào/ml do việc thay thế

tảo bằng thức ăn nhân tạo vẫn cho kết quả tốt, tỉ lệ sống của ấu trùng tôm giữa các

nghiệm thức vẫn không khác nhau, nhưng mật đột tảo không thể thấp hơn 5.000 tế

bào/ml. Hơn nữa, Chu (1991) cũng nhận thấy: ấu trùng tôm Metapenaeus ensis và

Penaeus chinese cho ăn thức ăn nhân tạo bị chậm lớn và tỉ lệ sống luôn thấp hơn so

với tơm cho ăn Chaetoceros garcilis và Artemia. Thêm vào đó, Cao và ctv. (1990) khi



so sánh về ảnh hưởng của các loại tảo khác nhau làm thức ăn cho ấu trùng tôm

Penaeus orietalis phát hiện rằng: ấu trùng Zoea không thể sử dụng trực tiếp chỉ một

loài tảo Tetraselmis seucica hoặc Dunaliella salina được dùng đơn lẻ cho sự sinh

trưởng và phát triển của chúng. Âúu trùng Zoea chỉ được cho ăn tảp

Phaeaeodactylum tricornutum không thể phát triển đến giai đoạn Zoea 3. Hai dòng

của lồi tảo Chaetoceros muelleri là thức ăn tốt cho ấu trùng Zoea và khi dùng phối

hợp chúng với Skeletonema costatum hoặc Dunaliella salina sẽ làm tăng tỉ lệ sống

của ấu trùng.

Kết quả thí nghiệm của Chu (1989) cho thấy: chỉ dùng một loài tảo

Chaetoceros gracilis có thể cung cấp chế độ ăn đầy đủ dinh dưỡng cho ấu trùng tôm

Metapenaeus ensis từ giai đoạn Zoea đến PL6 với tỉ lệ sống đạt 35-63%. Việc bổ

sung Artemia không làm cải thiện được tỉ lệ sống của ấu trùng tôm.

Khi đánh giá về ảnh hưởng của 3 loại tảo: Bidulphia sinensis, thalaassiosira

rotula và Skeletonema costatum đối với sự phát triển và tỉ lệ sống của 7 nhóm giáp

xác mười chân: Pagurus berhardus, Cancer padurus, Hyas coarctatus, Hyas

araneus, Carcinus maenas, Liocarcinus holsatus và Necora puber, Harm thấy rằng:

sự phát triển của ấu trùng dường như tùy thuộc vào kích cỡ của tảo. Âúu trùng của

chúng lột xác tốt khi cho ăn tảo Bidulphia sinensis, loài lớn nhất trong các lồi tảo thí

nghiệm, và chúng lột xác ít khi cho ăn Skeletonema costatum, tảo có cỡ nhỏ nhất.

Trong sản xuất giống cua biển, Portunus trituberculatus, Jo và ctv. (1993) thí nghiệm

dùng các lồi tảo Nanochloropsis oculata và Chaetoceros sp. làm thức ăn cho ấu

trùng cua, thấy rằng: tảo Chaetoceros cho kết quả tốt nhất. Thí nghiệm ương ấu trùng

cua Scylla serrata của Zainodin (1991) cũng cho biết: ấu trùng cua có cho ăn bổ sung

tảo Skeletonema và Isochrysis ở giai đoạn sớm sẽ cho kết quả tốt hơn so với khơng

cho ăn thêm tảo.

Bên cạnh đó, tảo kh còn đóng vai trò qua trọng trong ni nhuyễn thể.

Okauchi (1990) thí nghiệm tìm hiểu về vai trò của tảo đối với spat của trai (Pintctada

fucata) và ông nêu lên: sức tăng trưởng của spat cho ăn đơn độc chỉ có tảo Isochrysis

aff. galbana thấp hơn so với spat cho ăn kết hợp Isochrysis galbana và Chaetoceros

garcilis. Laing và ctv. (1990) nghiên cứu về giá trị dinh dưỡng của tảo khô lồi

Nannochloris sp. and Tetraselmis seucica so với lơ đối chứng gồm hỗn hợp tảo

Chaetoceros calcitral và T-ISO dùng làm thức ăn cho ấu trùng nghêu Manila (Tapes

philipinarum), ông thấy rằng: ấu trùng nghêu cho ăn tảo khơ có sức tăng trưởng bằng

hoặc cao hơn so với cho ăn dạng tươi sống, nhưng thấp hơn so với lơ đối chứng.

Trong thí nghiệm so sánh về ảnh hưởng của việc sử dụng tảo đơn lẻ và hổn hợp đến

sức tăng trưởng của spat loài Placopecten magellanicus, Gillis và ctv. nhận thấy: hổn

hợp thức ăn gồm 3 loài tảo Isochrysis galbana, Chaetoceros muelleri và Isochrysis

aff. galbana cho sức tăng trưởng của spat cao hơn có ý nghĩa so với hỗn hợp 2 lồi.

Zhang và ctv. đã ương ấu trùng mussel Mytilus edulis với các loại thức ăn khác

nhau, bao gồm: Phaeaeodactylum tricornutum, Chaetoceros mulleris, Platymonas

subcordiformis, Nannochloris oculatas, Dicrateria zhanjiangensis, men bia, bột đậu

nành, kết quả là: tảo Phaeaeodactylum có thể sử dụng cho ấu trùng ở các giai đoạn

đầu, sức tăng trưởng của ấu trùng tương đương với các thức ăn khác nhưng tỉ lệ sống



thì cao hơn. Ấu trùng có thể sử dụng Chaetoceros ở giai đoạn nhỏ, lồi tảo

Platymonas chỉ thích hợp cho ấu trùng lớn. N. oculata cho ăn không hiệu quả và bột

đậu nành làm chậm quá trình sinh trưởng.

2.2. Luân trùng (Rotifer)



TOP



Cùng với các loài vi tảo đề cập ở trên, luân trùng cũng là thức ăn tươi sống rất

quan trọng trong ương nuôi ấu trùng tôm, cá. Luân trùng, Brachionus plicatilis là

thức ăn rất lý tưởng của ấu trùng do chúng có kích thước nhỏ, bơi chậm và sống lơ

lửng trong nước, có thể ni chúng ở mật độ cao, cho năng suất ni cao và có thể

được làm giàu với acid béo và chất kháng sinh ... .(Wendy và ctv., 1991).

Theo trích dẫn của Wendy (1991) từ kết quả nghiên cứu của Nagata (1989):

Brachionus plicatilis được sử dụng rất rộng rãi trên thế giới trong ương ni ấu trùng

của trên 60 lồi cá biển và 18 loài giáp xác. Zheng và ctv. (1994) nghiên cứu về khả

năng tiêu hóa, hấp thụ và sử dụng các thức ăn khác nhau gồm Brachionus plicatilis,

Artemia và Platymonas subcordiformis của tôm he Nhật Bản và ông đề nghị:

Brachionus plicatilis là một trong những loại thức ăn thích hợp nhất cho ấu trùng tôm

he ở giai đoạn Mysis 3/ Tỉ lệ sống và sức tăng trưởng của ấu trùng tôm Penaeus

semisulcatus cho ăn Artemia hoặc Brachionus plicatilis cũng được Sarmocha nghiên

cứu, ông thấy rằng: ấu trùng tôm cho ăn luân trùng có thể đạt tỉ lệ sống cao, nhưng

năng lượng lấy vào giảm vì trọng lượng khơ của ln trùng thấp hơn. Thêm vào đó,

Brachionus plicatilis còn được dùng rộng rãi làm thức ăn trong ương ấu trùng tôm

Penaeus monodon, P. indicus và P. merguiensis cho kết quả tốt.

Đánh giá về khả năng thay thế Artemia của luân trùng Brachionus plicatilis

trong ương ấu trùng tôm càng xanh Macrobrachium rosenbergii, Lovett và ctv.

(1988) nhận thấy việc bổ sung Brachionus plicatilis không làm tăng nhanh q trình

phát triển của ấu trùng tơm. Âúu trùng cho ăn lượng Brachionus plicatilis giới hạn có

tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng thấp hơn có ý nghĩa so với ấu trùng cho ăn Artemia.

Cho đến nay, hầu hết các nghiên cứu đều chứng minh rằng: luân trùng , Brachionus

plicatilis, là thức ăn rất quan trọng cho ấu trùng cua, đặc biệt là ở giai đoạn đầu của

ấu trùng.

Robin và ctv. (1991) đã so sánh về ảnh hưởng của 3 loài luân trùng được làm

giàu với microcapsules, micro-particles và lipid emulsion dùng làm thức ăn cho ấu

trùng Turbot, ông cho biết: luân trùng được làm giàu với lipid có chứa hàm lượng

acid béo chưa no n-3 cao hơn gấp đôi so với các cách làm giàu khác. Tuy nhiên, tốc

độ tăng trưởng và tỉ lệ sống của ấu trùng cho ăn loại luân trùng này dường như thấp

hơn so với các loại khác. microcapsules, micro-particles cung cấp những chất dinh

dưỡng khác, ngoài lipid, hiệu quả hơn. Cũng với thí nghiệm ương ấu trùng Turbot

(Opstad và ctv, 1991) quan sát thấy tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ sống của ấu trùng cho

ăn luân trùng và Artemia đã được làm giàu với 7 hỗn hợp khác nhau thì khơng khác

nhau có ý nghĩa, chỉ trừ trường hợp thức ăn được làm giàu với trứng cá tuyết được

xem là tốt nhất.



Khi ương ấu trùng cá đối bằng thức ăn tươi sống luân trùng được cho ăn men

bánh mì và/hoặc Nannochloris oculatas, Tamaru (1993) nhận thấy: tốc độ tăng

trưởng và tỉ lệ sống của ấu trùng sử dụng luân trùng được ni bằng men bánh mì

thấp hơn so với ấu trùng sử dụng luân trùng được cho ăn bằng men và Nannochloris

oculatas.

Nghiên cứu về sức tăng trưởng và năng suất của cá măng bột (Chanos

chanos) được cho ăn luân trùng dạng tươi sống và đông lạnh, Villegas (1991) thấy

rằng: không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai dạng thức ăn này. Cũng theo kết quả

nghiên cứu ương cá măng năm 1990 của tác giả trên, ấu trùng cá măng ăn luân trùng

được nuôi với 3 loại tảo khác nhau, Tetraselmis tetrahele, Isochrysis galbana và

Chlorella biển, có tốc độ tăng trưởng khác nhau có ý nghĩa giữa các nghiệm thức.

Cruz và ctv. (1989) báo cáo: cá bột rô phi cho ăn kết hợp thức ăn chế biến với

luân trùng đạt được trọng lượng cuối, tốc độ tăng trưởng hàng ngày và năng suất cao

hơn có ý nghĩa so với cá bột chỉ cho ăn một loại thức ăn, hoặc luân trùng hoặc thức

ăn chế biến. Việc sử dụng luân trùng làm thức ăn cho cá bột mặc dù không làm tăng tỉ

lệ sống của cá, nhưng nó lại làm tăng tốc độ tăng trưởng và năng suất cá bột.

2.3. Artemia



TOP



Artemia làm thức ăn cho tôm biển: Artemia là thức ăn rất quan trọng trong

ương nuôi ấu trùng và hậu ấu trùng tôm biển. Artemia bắt đầu cho ăn khi ấu trùng đạt

đến giai đoaün Mysis1 hay ngay cả Zoae2-3. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy rằng,

thành phần dinh dưỡng của những nguồn Artemia khác nhau và ngay cả ở những đợt

sản xuất khác nhau là khác nhau. Amat nghiên cứu ảnh hưởng của các nguồn Artemia

khác nhau lên ấu trùng một số lồi tơm biển đã cho thấy rằng kết quả tốt nhất ở tơm

ăn Artemia có thành phần HUFA cao nhất.

Việc sản xuất giống tôm càng xanh cũng phụ thuộc căn bản vào nguồn

Artemia. Không như tôm biển, ấu tơm càng xanh có thể bắt đầu cho ăn từ giai đoạn

đầu với Artemia mơiï nở. Tuy nhiên, cũng giống như tôm biển, trong ương nuôi ấu

trùng tôm càng xanh, ngoài Artremia cần bổ sung thêm các nguồn thức ăn nhân tạo

khác để tăng cường dinh dưỡng và nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng.

Đối vơi cá biển, trong sản xuất giống, Artemia thường được bắt đầu cho ăn

một tuần sau khi cho ăn bằng Rotifer với kích cỡ nhỏ. Lượng Artemia cần cho sản

xuất giống cá thường tốn hao nhiều hơn so với sản xuất giống tôm biển và tôm càng

xanh. Kết quả sản xuất giống cá biển được nâng cao rất có ý nghĩa khi Artemia được

làm giàu hóa HUFA.

Đối với cá nước ngọt, rất nhiều lồi cá được ương ni trực tiếp ở ao sau khi

hết giai doạn nỗng hồn. Ấu trùng cá sẽ sử dụng nguồn thức ăn tự nhiên trong ao

như tảo, động vật phù du được gây ni bằng cách bón phân. Tuy nhiên, cũng có

nhiều lồi cá cần được ương ni trên bể như cá Basa, cá tra, cá lăng ... và vì thế

Artemia là thức ăn rất quan trọng cho sản xuất giống những loài cá này.



Ngoài ra, trong nghề nuôi nuôi cá cảnh, cả ấu trùng Artemia và Artemia trưởng

thành đều được sử dụng cho mục đích sản xuất giống hay ni.

Mặc dù Artemia có giá trị dinh dưỡng rất cao và có một số lồi có thể dựa vào

nguồn thức ăn là Atermia đơn độc, song, trong sản xuất giống, việc bổ sung các

nguồn thức ăn nhân tạo hay làm giàu hoá Artemia là điều rất cần thiết và rất phổ biến.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 11.1: Cấu tạo và vòng đời của luân trùng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×