Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
MUỐI KHOÁNG TRONG THỨC ĂN THỦY SẢN

MUỐI KHOÁNG TRONG THỨC ĂN THỦY SẢN

Tải bản đầy đủ - 0trang

  Duy trì chức năng sinh lí thể hiện ở những muối kiềm ảnh hưởng đến sự

cân bằng acid và baze góp phần việc ổn định nồng độ thẩm thấu cơ thể cũng

như duy trì sự cân bằng nước.

  Dẫn truyền thần kinh và một số nguyên tố là thành phần cấu tạo một số

hormon như iod trong Thyroxine giúp cơ thể thích ứng điều kiện bên trong và

bên ngoài.

  Tham gia vào cấu tạo máu như Fe (hemoglobin), Cu (hemocyanin)

  Nồng độ thẩm thấu muối vơ cơ trong cơ thể và mơi trường ngồi khác

nhau lớn do đó cơ thể và mơi trường ln có q trình trao đổi muối khống

thơng qua da,mang, ruột...

3. KHỐNG ĐA LƯỢNG

3.1. Calci (Ca) và Phosphorus (P)



TOP



Ca và P cần thiết cho quá trình hình thành xương. Trong xương cá Ca chiếm tỉ

lệ cao. Ở vảy cá rô phi hàm lượng ca cũng chiếm đến 19 –21%. Hàm lượng Ca trong

một số loài cá giảm khi sinh sản và thức ăn thiếu Ca, điều này cho thấy Ca được hấp

thu từ vảy cho các hoạt động sinh lý. Tỉ lệ ca/P ở vảy và xương cá là 1.5 – 2.1 và tỉ lệ

Ca/P cả cơ thể là 0.7-1.6. Ngoài vai trò cấu trúc cơ bản của xương, Ca còn tham gia

vào quá trình động máu, co cơ, dẫn truyền truyền thơng tin thần kinh, duy trì áp suất

thẩm thấu. Trong khi đó P có vai trò trong q trình biến dưỡng các chất dinh dưỡng

trong cơ thể. P là chất cấu thành hợp chất cao năng Adenosine triphosphate (ATP),

Phospholipid, AND, ARN và một số coenzime. Vì vậy P tham gia vào quá trình trao

đổi năng lượng, điều khiển sinh sản, sinh trưởng …Phospho tham gia vào việc duy trì

ổn định pH trong cơ thể động vật thủy sản.

Đối với động vật trên cạn, Ca được lấy từ thức ăn, tuy nhiên ở động vật thủy

sản, đặc biệt là động vật biển có khả năng hấp thu Ca từ việc uống nước hoặc hấp thu

qua mang, da. Đối với cá biển sẽ hấp thu một lượng khoáng rất lớn từ nước biển như

Ca, Na, Cl, và Mg, nhưng rất ít P (Spoltte, 1970). Hàm lượng Ca hấp thu được ở cá

biển khoảng 40 – 52% so với lượng cung cấp từ thức ăn. Trái lại cá nước ngọt hầu

như không lấy được Ca từ thức ăn vì chúng ít uống nước. Khi hàm lượng P trong

nước biển thấp ít hơn 0.1 mg/l, do đó lượng P mà cá lấy được từ nước biển chỉ

khoảng 1% so với lượng P lấy từ thức ăn.

Như vậy, sự hấp thụ Ca có thể được cá tự điều chỉnh thông qua sự gia tăng hấp

thu từ môi trường nước chỉ khi nào nước quá mềm và thức ăn khơng cung cấp đủ Ca

thì vấn đề thiếu hụt Ca mới xảy ra. Do đó nhu cầu Ca của cá ít được chú ý tuy nhiên

cá được nuôi trong môi trường nước thật mềm lượng Ca trong thứcăn cũng rất cần

lưu ý vì hàm lượng Ca trong thức ăn thấp sẽ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng.

Trái ngược với Ca, P hầu như được lấy chủ yếu từ thức ăn, tỉ lệ P hấp thụ từ môi

trường nước rất thấp chỉ đạt 1/40 so với Ca. Lượng phosphorus hấp thu từ môi trường



nước lệ thuộc vào nhiều yếu tố môi trường, thức ăn, hàm lượng Ca trong nước và

giống lồi thủy sản có một ảnh hưởng đến sự hấp thu P

Dấu hiệu thiếu P chủ yếu là giảm sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và khống

trong xương, vảy, vỏ. Ngồi ra ở cá chép còn có dấu hiệu tăng hàm lượng mỡ, giảm

lượng nước trong cơ thể và lượng P trong máu.

@ Các dạng Ca và P động vật thủy sản có thể sử dụng:

Khả năng sử dụng và hấp thu Ca phụ thuộc vào dạng và hàm lượng Ca,

thành phần của thức ăn và cấu trúc hệ thống tiêu hóa của động vật thủy sản. Ở cá

chép khi hàm lượng Ca trong thức ăn là 0.68% thì cá có thể hấp thu được 58% (dạng

calcium lactate), 37% (tribasic calcium phosphate) và 27% ( calcim carbonat). Khả

năng hấp thu Ca của ĐVTS tăng khi sử dụng dạng Ca hòa tan. Khả năng hấp thu Ca

sẽ giảm 20-34% khi hàm lượng P tăng cao trong thức ăn.

Giống như Ca, hiệu quả sử dụng và hấp thu P phụ thuộc vào dạng P được sử

dụng, hàm lượng Ca và loài cá. Dạng monobasic phosphote Na và monobasic

phosphote K là dạng được sử dụng hiệu quả nhất đối với cá chép, rôphi, cá da trơn và

cá hồi. Khả năng sử dụng hỗn hợp Calci phophate thì biến động rất lớn. Dạng

monobasic calci phosphate thì được sử dụng hiệu quả nhất.

Trong khi dạng dibasic và tribasic thì ít hiệu quả hơn. Tuy nhiên khả năng sử

dụng các dạng P cũng thay đổi tùy theo loài. P trong bột cá có hiệu quả sử dụng đối

với cá khoảng 40%. P trong casein và men được sử dụng rất tốt bởi cá chép, cá da

trơn. Đối với P của thực vật hầu như động vật thủy sản không sử dụng được hoặc

hiệu quả sử dụng rất kém. P từ bột đậu nành được cá sử dụng 29-54%.

Tỉ lệ Ca/P được đề nghị cho một số loài đã được đề nghị: 0.56/1.1 cho tôm

hùm, 1:1 cho tôm he Nhật bản, 1: 1 hoặc 1:1.5 ở tôm sú. Mức Ca tối đa cho tôm là

2.3% trong thức ăn. Mức P từ 1-2%. Ở cá mức P được đề nghị là 0.29-0.8 tùy thuộc

vào loài và dạng P sử dụng.

Bảng 8.1. Giá trị sử dụng của các nguồn phosphorus đối với tôm cá

Dạng sử dụng

Mono basic Calcium phosphate

Di basic Calcium phosphate

Tri basic Calcium phosphate

Mono basis Potassium phosphate

Mono basis sodium phosphate

3.2. Magneium (MG)



Cá trơn



Cá chép



94 %

65 %

-



94%

46%

13%

-



Tôm thẻ chân

trắng

46.5

19.4

9.9

68

68.2

TOP



Mg được xác định là cần thiết cho một số lồi tơm cá. Chức năng chủ yếu của

Mg là giữ vai trò quan trọng trong các phản ứng phosphoryl hóa và một số hệ thống

enzyme. Trong gan, Mg tham gia vào việc tăng hoạt lực biến dưỡng. Hàm lượng Mg

trong nước biển tiêu chuẩn khá cao 1.350 mg/l và giáp xác và cá biển có khả năng

hấp thu và đào thải lượng Mg dư ra khỏi cơ thể. Hàm lượng Mg trong máu nhóm này

thường thấp hơn mơi trường ngồi và có thể chúng khơng cần cung cấp từ thức ăn

(Dall, 1983). Tuy nhiên, ở môi trường nồng độ muối thấp hoặc mơi trường nước ngọt

thì tơm cá cần được cung cấp Mg từ thức ăn. Ở tôm thẻ chân trắng khi bổ sung

0.12% thức ăn tôm sẽ sinh trưởng tốt hơn (Liu, 1997), tôm he được đề nghị mức

0.3%

Một vài dấu hiệu bệnh lý khi thiếu Mg ở cá da trơn như giảm sinh trưởng, Đối

với cá khi thiếu Mg, giảm ăn, lờ đờ, tỉ lệ chết cao và hàm lượng Mg tích lũy trong cơ

thể giảm. Nhu cầu Mg ở cá cũng phụ thuộc vào hàm lượng Mg có trong nước, khi

hàm lượng Mg trong nước khoảng 1.35 – 3.5 g/lít thì nhu cầu Mg khoảng 0.04 g/kg

thức ăn

3.3. Các khoáng đa lượng khác



TOP



Các khoáng đa lượng như Na, Cl và K thì cần thiết cho các hoạt động sinh lý

của cơ thể động vật thủy sản. Tuy nhiên trong nước ngọt và nước biển đều có nhiều

các nguồn khống này, đặc biệt là nước biển. Chức năng chủ yếu là duy trì cân bằng

áp suất thẩm thấu của cơ thể, cần bằng acid – bazơ, dẫn truyền thần kinh, duy trì cấu

trúc màng tế bào.

Nhiều nghiên cứu cho thấy không cần bổ sung Na và Cl vào thức ăn. Khi hàm

lượng muối quá cao trong thức ăn (> 2%) có thể ảnh hưởng đến sinh trưởng của một

số lồi cá. Ở tơm he, hàm lượng K yêu cầu từ thức ăn là 0.9-1%. Tuy nhiên nhiều

nghiên cứu cho thấy do K có sẵn trong nước biển, trong nhiều nguồn nguyên liệu chế

biến thức ăn do đó khơng cần phải bổ sung dưới dạng khống vào thức ăn.

Đối với cá nước ngọt, hàm lượng K đơi khi khơng đủ, do đó cá cần một nhu

cầu K trong khoảng 0.3 – 0.8% tuỳ theo môi trường có nhiều hay ít K.

Bảng 8.2. Nhu các muối khống đa lượng trên một số loài cá (g/kg)

Giống loài

Cá trơn Mỹ

Cá chép

Cá rơ phi

Cá hồi ( Salmo gairdneri)

Cá chình (Anguiila anguiila)

Cá vền biển(Chrysophrys major)

* Cá ni trong nước khơng có Ca



Phosphorus

0.45

0.65

0.90

0.5-0.8

0.3



Calci Magnesium

0.45*

0.04

0.3

0.05

0.65*

0.06

0.05

0.05.

0.14

0.34



K

0.26



4. CÁC NGUYÊN TỐ VI LƯỢNG



TOP



Một số nguyên tố hiện diện với một số lượng rất nhỏ (10-12%) nhưng có ảnh

hưởng một cách rõ rệt đến các q trình trao đổi chất cơ thể đó là nguyên tố vi lượng

(như Fe,Cu, Zn,.. .)

Bảng 8.3. Nhu cầu một số khoáng vi lượng của một số tơm cá (ppm)

Lồi

Zn

Mn

Co

Cu

I

Fe Se

Cá hồi

20

6

Cá trơn Mỹ

20

2.4

5

0.6

0.25

Cá chép

15-30

13

3

30

Cá phi

25

12

0.10

3.5

150

Tôm thẻ chân trắng

16-32

0.2-0.4

4.1.



Sắt (Fe)



TOP



4.1.

Fe trong cơ thể tồn tại ở dạng hợp chất hữu cơ như Hemoglobin hay có thể ở dạng

vơ cơ như Fe dạng dự trữ. Fe giữ vai trò quan trọng trong quá trình hơ hấp. Thiếu Fe

cá sẽ giảm lượng hồng cầu và gan vàng. Trong khẩu phần thức ăn, Fe ở dạng vô cơ dễ

hấp thu hơn Fe hữu cơ và Fe có hố trị thấp hấp thu nhanh hơn Fe có hố trị cao.

Động vật thủy sản có thể hấp thu sắt qua mơi trường. Trong thức ăn có nguồn gốc

động vật có nhiều Fe thích hợp cho sự hấp thu của động vật thủy sản. Hàm lượng Fe

được đề nghị bổ sung vào thức ăn cho cá khoảng 60- 150 ppm

4. 2. Cu



TOP



Là thành phần nhiều enzyme có tính oxy hố và có vai trò quan trọng trong sự

hơ hấp, là thành phần của sắc tố đen (Melanin), kích thích q trình sử dụng Fe và là

chất xúc tác cho việc tạo thành Hemoglobin (Hb). Đối với giáp xác dấu hiệu thiếu Cu

là tôm giảm sinh trưởng, giảm hàm lượng Cu trong máu, gan tụy. Ở cá thiếu đồng

cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng và dễ bị nhiễm bệnh. Hàm lượng Cu đề nghị cho

tôm là 16-32 mg/kg thức ăn. hàm lượng Cu trong bột cá khá cao và là nguồn cung

cầp Cu tốt cho động vật thủy sản.

4.3. Kẽm (Zn)



TOP



Kẽm là thành phần cấu tạo enzyme Carbonicanhydrase (xúc tác phản ứng

hydrat hoá ) làm tăng khả năng vận chuyển CO 2. Ngồi ra Carbonicanhydrase còn

kích thích tiết HCl trong dạ dày. Khi thiếu Kẽm tôm cá giảm tăng tưởng và giảm sức

sinh sản. Nhu cầu kẽm cho cá từ 15 – 25 mg/kg. Và tôm là 15-20mg/kg thức ăn



Bảng 8.4. Tóm tắt nguồn gốc và vai trò chức năng một số khống vi lượng

Vi lượng

Fe (Sắt)



Nguồn cung cấp

-Mơi trường nước(-)

-Thức ăn gốc động vật như bột cá

-FeCl2, FeSO4

-Citrate

Cu ( Đồng)

-Môi trường nước(-)

-Thức ăn gốc động vật như bột cá

Kẽm(Zn)

-Môi trường nước(-)

-ZnSO4

- Thức ăn gốc động vật như bột cá

Mangan(Mn) -Môi trường nước(-)

-MnSO4

- Thức ăn gốc động vật như bột cá



Selenium(Se) -Môi trường nước(-)

-Na2SeO4

-Bột cá



Triệu chứng khi thiếu hụt

-Giảm lượng hồng cầu

-Gan vàng

-Giảm tăng tưởng

-Dễ cảm nhiễm bệnh

-Giảm tăng tưởng

-Giảm sức sinh sản

-Giảm tăng tưởng

-Giảm sức sinh sản

-Biến dạng cột sống

-Giảm hoạt tính một

enzyme



số



-Ơi dầu

-Giảm khả năng đề kháng

bệnh

-Giảm khả năng một số

enzyme



Bảng 8.5: Nhu cầu khoáng được đề nghị cho tơm biển

Khống

Khống đa lượng

Ca

P (hấp thu)

Mn

K

Khống vi lượng(mg/kg)

FE

Cu

Zn

Mg

Se

Co



u cầu

tối đa 2.3%

0.8%

0.2%

0.9%

tối đa 200 mg

35 mg

150 mg

20 mg

1 mg

0.05 mg



CHƯƠNG IX

NGUYÊN LIỆU CHẾ BIẾN THỨC ĂN THỦY SẢN

1. GIỚI THIỆU

2. NHĨM NGUN LIỆU CUNG CẤP PROTEIN

2.1. Nhóm protein động vật

2.2. Nhóm protein thực vật



2.3. Một số nhóm cung cấp protein khác

3. NHĨM NGUN LIỆU CUNG CẤP NĂNG LƯỢNG

3.1. Nhóm cung cấp tinh bột

3.2. Dầu động thực vật

4. CÁC CHẤT PHỤ GIA

4.1. Chất kết dính

4.2.Chất chống oxy hóa

4.3. Chất kháng nấm

4.4. Chất tạo mùi (chất dẫn dụ)

4.5. Sắc tố

4.6. Premix vitamin - khống

4.7. Enzime tiêu hóa

4.8. Acid amin tổng hợp

5. CÁC CHẤT PHẢN DINH DƯỠNG VÀ CÁC CHẤT ĐỘCTRONG NGUYÊN

LIỆU CHẾ BIẾN THỨC ĂN THỦY SẢN



I. GIỚI THIỆU



TOP



Chất lượng nguyên liệu là vấn đề then chốt trong thức ăn thủy sản. Lựa chọn

nguyên liệu thích hợp để phối chế thức ăn cho động vật thủy sản cần phải hội đủ hai

điều kiện cơ bản là chất lượng và giá thành. Vì vậy việc hiểu biết về thành phần, tính

chất của từng loại nguyên liệu sử dụng trong phối chế thức ăn là rất cần thiết.

Trong sản xuất thức ăn cho động vật người ta thường phân chia theo khối

lượng và mục đích sử dụng. Trong cơng thức thức ăn, các nguồn ngun liệu được

phân chia như sau:













 Nhóm cung cấp đạm: bột cá, bột tơm, bột đậu nành …

 Nhóm cung cấp năng lượng: cám, tấm, bột mì…

 Nhóm cung cấp chất khống: bột xương, bột sò, premix khống

 Nhóm cung cấp vitamin: bao gồm nhiều loại vitamin có thể có trong

ngun liệu hoặc premix vitamin

•  Nhóm chất bổ sung: nhóm chất hỗ trợ dinh dưỡng, nhóm chất bảo quản và

duy trì giá trị dinh dưỡng, nhóm chất hỗ trợ tiêu hóa, tăng trưởng….

2. NHĨM NGUN LIỆU CUNG CẤP PROTEIN



TOP



Nhu cầu protein của động vật thủy sản khoảng 25-55%, cao hơn nhiều so với

gia súc và gia cầm. Chính vì vậy trong chế biến thức ăn thủy sản, nguồn nguyên liệu

cung cấp protein luôn là yếu tố được quan tâm đầu tiên.

Nguyên liệu cung cấp protein có hàm lượng protein lớn hơn 30%, được chia

làm hai nhóm phụ thuộc vào nguồn gốc: protein động vật và protein thực vật.

2.1. Nhóm protein động vật



TOP



Nguồn protein động vật có hàm lượng protein từ 50% trở lên và thường được

động vật thủy sản sử dụng hiệu quả hơn nguồn protein thực vật. Các nguồn protein

động vật thường được sử dụng trong thức ăn thủy sản là: Bột cá, bột đầu tôm, bột

huyết, bột mực, bột nhuyễn thể…., trong đó bột cá được xem là nguồn protein thích

hợp nhất cho tất cả các lồi tơm cá ni.



2.1.1. Bột cá

Bột cá là nguồn cung cấp protein tốt nhất cho các lồi tơm cá. Bột cá có hàm

lượng protein cao, trung bình từ 45 –60%, có loại hơn 70% và chủ yếu được làm từ

cá biển. Bột cá chứa đầy đủ các acid amin cần thiết cho động vật thủy sản (EAAI:

>0.92). Đặc biệt trong thành phần lipid của bột cá có nhiều acid béo cao phân tử

khơng no (HUFA). Trong bột cá có hàm lượng vitamin A và D cao và thích hợp cho

việc bổ sung vitamin A trong thức ăn. Bột cá làm cho thức ăn trở nên có mùi hấp dẫn

và tính ngon miệng của thức ăn. Hàm lượng khoáng trong bột cá ln lớn hơn 16%

và là nguồn khống được động vật thủy sản sử dụng hiệu quả. Năng lượng thô của

bột cá khoảng 4100-4200 kcalo/kg. Ngoài ra, một số nghiên cứu cho thấy trong bột cá

có chứa chất kích thích sinh trưởng, đây là nguyên nhân chính khi thay thế bột cá

bằng các nguồn protein động vật khác kết quả khơng hồn tồn đạt được như sử dụng

bột cá.

Tuy nhiên một vấn đề gặp phải ở bột cá trong chế biến thức ăn là: trong một số

bột cá có thể chứa chất kháng vitamin B1 (thiaminase), giá thành cao và nguồn

nguyên liệu rất biến động.



Bột cá được chia làm hai loại: bột cá nhạt (độ mặn dưới 5%, protein >50%) và

bột cá mặn. Trong chế biến thức ăn cho động vật thủy sản chỉ sử dụng bột cá nhạt.

Bột cá thường được làm từ cá trích, cá mòi và cá cơm. Chất lượng bột cá phụ thuộc

vào loài, độ tươi của nguyên liệu tươi, phương thức chế biến và bảo quản



Bảng 9.1 : Thành phần sinh hóa (%) của một số

loại bột cá

Nguồn bột cá

Cá Anchovy

Cá trích

Cá mòi

Cá trắng

Bột cá Peru

Bột cá Kiên giang



Protein

65

72.7

62.6

65

66.9

59.2



Lipid

9

9.1

10.1

5

0.67

8.24



Khống

16

10.1

19.2

20

15.2

24.5





0.7

0.13

0.12



Ẩm độ

10

8.1

8.1

10

8.7

8.2



2.1.2. Bột đầu tơm:

Bột đầu đầu tôm là sản phẩm của các nhà máy chế biến thuỷ sản, bột đầu

tơm cung cấp vào thức ăn ngồi mục đích cung cấp protein còn là nguồn cung cấp

khống và một số chất dinh dưỡng khác. Bột đầu tôm khơng được xem là nguồn cung

cấp protein chính cho động vật thủy sản do hàm lượng protein thấp 35-40%. Bột đầu

tôm thường được sử dụng trong chế biến thức ăn cho tơm. Bột đầu tơm là nguồn cung

cấp khống, chlesterol, astaxanthin cho tôm. Hàm lượng astaxanthin trong bột đầu

tôm (>100ppp). Ngồi ra bột đầu tơm giàu chitin là chất cần thiết cho q trình hình

thành vỏ của tơm. Mục đích bổ sung bột đầu tôm vào thức ăn cũng nhằm cải thiện

mùi vị hấp dẫn của thức ăn. Chất lượng của bột đầu tơm rất biến động phụ thuộc vào

lồi, phương thức chế biến và bảo quản. Đối với thức ăn cho tôm không nên bổ sung

quá 15% vào công thức ăn

2.1.3. Bột thịt, bột thịt xương

Bột thịt có hàm lượng protein cao tương đương bột cá (50-60%). Bột thịt

xương thì có hàm lượng protein thấp hơn. Hàm lượng protein của hai loại này phụ

thuộc vào chất lượng nguồn gốc nguyên liệu chế biến. Bột thịt thường được chế biến

từ sản phẩm của lò mổ, bao gồm tất cả những phần không dùng làm thức ăn cho

người như: ruột già, gân, móng, thức ăn trong dạ dày, gân, móng và lơng. Nhìn chung

giá trị protein của cả hai loại bột này đều không cao, hàm lượng methionin thấp nên

hiệu quả sử dụng không cao khi làm thức ăn cho động vật thuỷ sản. hàm lượng Ca ở

bột thịt xương (8.8 –12%) cao hơn bột thịt (Ca <3%). Hàm lượng bột thịt xương

được đề nghị sử dụng trong thức ăn cho tôm không quá 15%.

2.1.3. Bột huyết

Bột huyết là sản phẩm của lò mổ gia súc. Bột huyết có hàm lượng protein

rất cao, lớn hơn 80%. Bột huyết rất giàu lysine (9-11%), tuy nhiên thiếu Isoleusine và

Methionin. Khả năng tiêu hóa bột huyết của động vật thuỷ sản thấp. Protein và acid



amin trong bột huyết dễ bị phân hủy trong quá trình chế biến. Bột huyết rất dễ bị hư

trong quá trình tồn trữ. Hàm lượng bột huyết được đề nghị sử dụng trong thức ăn cho

tôm không quá 10%.

2.1.3. Bột phụ phẩm gia cầm và bột lông vũ

Bột phụ phẩm phẩm gia cầm là sản phẩm của lò mổ gia cầm: lông, ruột , phổi…

Hàm lượng protein khoảng 58 –60%, lipid 13 –15%. Độ tiêu hóa protein thấp hơn

70% Bột lơng vũ có thành phần chủ yếu là protein nên hàm lượng protein đạt 8085%. Tuy nhiên thành phần protein chủ yếu là keratin có độ tiêu hóa rất thấp, do đó

bột lơng vũ khơng qua xử lý hầu như không sử dụng được. Bột lông vũ qua xử lý

bằng hơi nước hoặc acid có thể được sử dụng, tuy nhiên bột này thiếu methionin lẫn

lysine. Protein của bột lông vũ mà cá có khả năng tiêu hóa thấp (khoảng 50%).



Bảng 9.2: Thành phần sinh hoá một số nguồn

protein động vật

Nguồn



Chất khơ



Protein



Lipid







Bột thịt

Bột lơng vũ

Bột đầu tơm

Bột máu

Bột nhuyễn

thể



94

93

88

93

92



50.9

83.3

39.5

93

34.8



9.7

5.4

3.2

1.4

2.1



2.4

1.2

12.8

1.1

11.6



2.2. Nhóm protein thực vật:



Muối

khoáng

29.2

2.9

27.2

7.1

44.66

TOP



Nguồn cung cấp protein thực vật quan trọng là những hạt có dầu như đậu

nành, đậu phộng (lạc), hạt bơng vải…Nhóm protein thực vật hiện nay được sử dụng

nhiều trong thức ăn thuỷ sản với mục đích thay thế nguồn protein bột cá, nhằm giảm

giá thành thức ăn. Tuy nhiên khi sử dụng các nguồn protein thực vật sẽ gặp phải một

số trở ngại như: độ tiêu hóa thấp, thường chứa các chất kháng dinh dưỡng và độc tố,

không cân đối về acid amin, thường thiếu lysin và methionin.

2.2.1.Bột đậu nành

Bột đậu nành được xem là nguồn protein thực vật thay thế cho bột cá tốt nhất

trong thức ăn cho động vật thuỷ sản. Nhiều nghiên cứu cho thấy bột đậu nành có thể

thay thế 60-80% bột cá trong khẩu phần thức ăn, ở cá rô phi O. niloticus có thể thay

thế 100%. Trong thức ăn cho tơm bột đậu nành có thể được sử dụng đến 25%.

Bột đậu nành được sử dụng làm thức ăn cho động vật hiện nay chủ yếu là bột

đậu nành ly trích dầu có hàm lượng protein khoảng 47-50%, lipid khơng q 2%. Bột



đậu nành thiếu methionin, cystin, chỉ số acid amin thiết yếu (EAAI) của bột đậu nành

đối với tôm sú là 0.87.

Hạn chế của bột đậu nành là bột đậu nành chứa nhiều loại độc tố đặc biệt là

chất ức chế enzime tiêu hóa protein : anti – trypsine, chất này ức chế hoạt động của

enzime tiêu hóa protein là trypsin và chymontrypsine. Các anti-tripsine mất hoạt tính

khi quan sử lý nhiệt ở 105 oC trong 30 phút, tuy nhiên giá trị dinh dưỡng của protein

của đậu nành sẽ giảm. Việc sử lý này cũng giúp làm phân hủy chất haemagglutinin

trong đậu nành, đây là chất có tác dụng gắn với Hb của hồng cầu làm ảnh hưởng đến

khả năng vận chuyển Oxy của Hb.

2.2.2. Bánh dầu đậu phộng (lạc)

Bánh dầu đậu phộng là phụ phẩm của quá trình ép dầu. Tùy theo công nghệ ép

mà chất lượng bánh dầu khác nhau. Hàm lượng protein của bánh dầu đậu phộng

khoảng 45%. Hàm lượng chất béo khoảng 2% (ép công nghiệp ), 8-10% (ép thủ

công). Thành phần và hàm lượng acid amin của bánh dầu đậu phộng không tốt bằng

bánh dầu đậu nành. Bánh dầu đậu phộng thiếu methionin và lysis.

Một hạn chế lớn nhất đối với việc sử dụng bánh dầu đậu phộng là dễ bị mọc

nấm Aspergilus flavus. Nấm này tiết ra độc tố aflatoxine và hàm lượng aflatoxin

trong bành dầu đậu phộng thường rất cao. Đây là loại độc tố làm ảnh hưởng đến sinh

trưởng, tỉ lệ sống và gây độc cho động vật thủy sản.

2.2.3. Bánh dầu bông vải

Bánh dầu bông vải hiện đang được một số nơi sử dụng làm thức ăn cho động

vật nuôi. Đặc điểm của bánh dầu bơng vải là có hàm lượng protein 40 - 50%, hàm

lượng lipid 4-5%, hàm lượng xơ khá cao (>12%). Hàm lượng acid amin Cystin,

Methionin, lysine, Ca và PO4 của bánh dầu bơng vải thì thấp, nhưng giàu vitamin B1.

Ngồi ra bánh dầu bơng vải chứa 0.03-0.2% gossypol, chất này ức chế hoạt động của

men tiêu hóa và giảm tính ngon miệng của thức ăn đối với động vật thủy sản.

Bảng 9.3 : Thành phần dinh dưỡng của một số nguồn protein thực vật



Thành phần

Trọng lượng khơ

Protein

Lipid

Trích khơng đạm

Khống

Năng lượng thơ

(MJ/kg)

Năng lượng tiêu hóa

(MJ/kg)



Bánh dầu

đậu nành

88

45-48

1.9

28.5

6.2

17.5



Bánh dầu

bơng vải

91

41

1.4

29.1

6.5

17.9



Bánh dầu

dừa

90

21.5

1.6

43.9

7.0

16.1



Bánh dầu

đậu phộng

89

45-48

1.1

4.5

-



13.5



9.1



-



-



TOP



2.3. Một số nhóm cung cấp protein khác



Trong thức ăn sử dụng nuôi thủy sản, một số nguồn protein như nấm men, tảo

đơn bào cũng là nguồn cung cấp protein cho động vật thủy sản. Các nguồn nguyên

liệu này có thể được sử dụng trực tiếp làm thức ăn cho động vật thủy sản hoặc gián

tiếp thông qua việc làm nguồn thức ăn để nuôi các động vật sống làm thức ăn cho cá

như luân trùng, artemia….

2. 3. NHĨM NGUN LIỆU CUNG CẤP NĂNG LƯỢNG

Nhóm ngun liệu cung cấp năng lượng gồm có nhóm cung cấp carbohyrat

(chủ yếu là nhóm thực vật cung cấp tinh bột) và nhóm dầu mỡ (dầu động vật và thực

vật)



TOP



3.1. Nhóm cung cấp tinh bột



Tinh bột là thành phần chủ yếu trong mô của các loại khoai củ, ngũ cốc và phụ

phẩm nơng nghiệp như cám gạo, cám mì…

Đặc điểm chung của nhóm cung cấp tinh bột:

•  Hàm lượng protein thấp (khơng q 20%), acid amin khơng cân đối

•  Lipid thấp khoảng từ 2-5%. Tuy nhiên cám gạo có hàm lượng lipid cao

10-15%.

•  Hàm lượng chất xơ cao, đặc biệt là cám gạo, hàm lượng xơ biến động từ

11- 20% tùy theo chất lượng cám do đó ít được sử dụng làm thức ăn cho tơm.

•  Hàm lượng khống trong nhóm này thấp và khơng thích hợp cho động vật

thủy sản.

Khả năng sử dụng các nguồn tinh bột làm thức ăn cho động vật thủy sản tùy

thuộc vào đối tượng ni. Đối với nhóm ăn thiên về động vật, lượng tinh bột không

sử dụng quá 20%. Trong các nguồn tinh bột thì nguồn tinh bột từ bột mì được xem là

nguồn tinh bột tốt nhất làm thức ăn cho tôm. Hạn chế sử dụng bột bắp, cám gạo làm

thức ăn cho tơm.

Cám gạo li trích dầu hiện cũng đang được sử dụng làm thức ăn cho nuôi thủy

sản. Ưu điểm của nó là có hàm lượng protein cao hơn và lipid thấp hơn so với cám

gạo thường, do đó thuận lợi hơn cho việc phối chế vào cơng thức thức ăn cho động

vật thủy sản.

Bảng 9.4 : Thành phần sinh hóa một số nguồn thực vật cung cấp tinh bột:



Nguồn

Bắp vàng



Độ khơ

88



Protein Lipid

8.5

3.6





2.3



Khống

1.3



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

MUỐI KHOÁNG TRONG THỨC ĂN THỦY SẢN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×