Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
VITAMIN TRONG THỨC ĂN THỦY SẢN

VITAMIN TRONG THỨC ĂN THỦY SẢN

Tải bản đầy đủ - 0trang

2. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG VITAMIN TRONG

THỨC ĂN THỦY SẢN

2.1. Điều kiện chế biến và bảo quản vitamin



TOP



Đa số các vitamin đều nhạy cảm với các điều kiện chế biến và bảo quản thức

ăn. Sự gia tăng nhiệt trong quá trình ép viên thức ăn thường phân hủy vitamin C,

vitamin B12 và Pyridoxine. Việc sử dụng các vitamin kháng nhiệt hay ép viên ở

nhiệt độ thức ăn khơng q cao trong q trình chế biến thức ăn sẽ giảm sự hao hụt

vitamin. Một phương pháp khácđược sử dụng là pha dung dịch “lipid-vitamin” và

phun áo ngoài bề mặt của viên thức ăn sau khi gia nhiệt.

Một số vitamin nhạy cảm với ánh sáng và tia UV như vitamin B12 hay

vitamin E sẽ bị mất đi khi tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng mặt trời. Các vitamin tan

trong chất béo như vitamin A, D, E, K sẽ bị biến chất khi điều kiện chế biến thức ăn

khơng tốt vì chất béo sẽ bị oxy hóa khi độ ẩm và nhiệt độ cao. Khi thức ăn có hàm

lượng lipid cao thì u cầu phải có hàm lượng vitamin E cao hạn chế q trình oxy

hóa lipid.

2.2. Khả năng tổng hợp vitamin



TOP



Khả năng tổng hợp vitamin của động vật thủy sản là rất kém, nhiều vitamin

không thể tổng hợp được như vitamin C, do đó việc cung cấp đầy đủ nhu cầu các

vitamin này là cần thiết. Một số vi sinh vật đường ruột của một số lồi cá như cá

chép, rơ phi, cá hồi có khả năng sinh tổng hợp vitamin nhóm B 12 nếu trong thức ăn

được cung cấp Co. Tuy nhiên khả năng sinh tổng hợp này có thể bị hạn chế nếu có

chất kháng sinh trong thức ăn. Cá nước ấm có khả năng tổng hợp vitamin bởi vi sinh

vật đường ruột tốt hơn ở cá vùng ơn đới.

2.3 Tập tính dinh dưỡng



TOP



Một trong những khó khăn để xác định nhu cầu về vitamin và giảm hiệu quả

sử dụng vitamin trong thức ăn thủy sản là tập tính bắt mồi. Những lồi thủy sản có

tập tính ăn chậm, đặc biệt là giáp xác các vitamin trong thức ăn sẽ bị rữa trôi vào môi

trường nên nhu cầu vitamin trong thức ăn sẽ phải tăng lên. Ngồi ra tập tính xé, cạp

mảnh thức ăn của giáp xác cũng góp phần vào việc thất thốt vitamin vào mơi trường

nước. Đối với những lồi thủy sản ăn lọc thức ăn tự nhiên sẽ sử dụng nguồn vitamin

rất phong phú trong nguồn thức ăn này.

2.4.Điều kiện nuôi dưỡng



TOP



Hình thức ni có ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu vitamin của động vật thủy

sản. Trong mơ hình ni quảng canh hay quảng canh cải tiến không cần cung cấp

vitamin vì ĐVTS có thể sử dụng vitamn thức ăn tự nhiên. Trong khi ở mơ hình ni



bán thâm canh, thâm canh và nuôi trong lồng bè, thức ăn tự nhiên rất giới hạn nên cần

phải cung cấp đầy đủ vitamin.



2.5. Điều kiện sinh lý của cá



TOP



Nhu cầu vitamin của động vật thủy sản thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển.

Ở giai đoạn ấu trùng, tôm cá cần được cung cấp lượng vitamin C nhiều hơn giai đoạn

trưởng thành và giai đoạn bố mẹ. Ở giai đoạn ấu trùng tôm càng xanh cần bổ sung

200 mg vitamin C/kg thức ăn, giai đoạn tôm giống cần bổ sung 100 mg/kg thức ăn.

Thủy sản trong thời kỳ sinh sản cần một lượng lớn vitamin A, E, C. Ngồi ra vitamin

C có tác dụng tăng khả năng chịu đựng trên tôm cá khi đánh bắt hay khi vận chuyển.

Khả năng đề kháng bệnh của thủy sản tăng lên khi bổ sung vitamin C, E, B6,

Panthothenic acid choline vào thức ăn.

2. 6.Chất kháng vitamin hiện diện trong thức ăn



TOP



Trong một số loại nguyên liệu làm thức ăn cho động vật thủy sản có chứa một

số chất kháng vitamin tự nhiên, các chất này là giảm hoạt tính và hiệu quả sử dụng

vitamin. Người ta ghi nhận sự hiện diện của chất kháng vitamin như enzyme

thiaminase hiện diện trong cá sống ức chế thiamine (B1) . Trong thức ăn chứa nhiều

chất béo sự oxy hóa sẽ hủy hoại các vitamin nhóm A, D, E và K tan trong chất béo.

3. TÍNH CHẤT VÀ NHU CẦU VITAMIN CHO ĐỘNG VẬT THỦY SẢN

Dựa vào đặc tính hòa tan mà vitamin được chia là hai nhóm chính. Nhóm

vitamin tan trong chất béo: vitamin A, D, E và K. Nhóm vitamin tan trong nước gồm:

nhóm vitamin B, Vitamin C, chiline và inositol. Mỗi một loại vitamin có cấu tạo,

chức năng riêng biệt. Nhu cầu vitamin được nghiên cứu trên một số đối tượng như cá

hồi, cá chép, cá nheo Mỹ và một số lồi tơm biển

3.1. Nhóm vitamin tan trong nước



TOP



Nhóm vitamin tan trong nước bao gồm nhóm vitamin B, vitamin C, chiline,

inositol, có một giá trị dinh dưỡng rõ rệt. Ngồi ra số hoạt tính của vitamin chưa xác

định rõ như p-aminobenzoic acid, lipoic acid, citrin cũng liệt kê vào nhóm vitamin

tan trong nước. Chức năng chính của nhóm này là coenzime trong q trình trao đổi

chất của tế bào. Một vài lồi cá nước ấm có khả năng tổng hợp một số vitamin này.

3.1.1 .Thiamin (Vitamin B1)



Vitamin B1 có tên hóa học là thiamin hay thiamin chlohydrate. Chức năng là

Co-enzymes trong biến dưỡng carbohydrate. Do đó thiamin cần thiết cho cá tăng

trưởng và hoạt động sinh sản bình thường. Nhu cầu thiamin được xác định tùy theo

mức năng lượng có trong thức ăn. Ở cá chép, nhu cầu vitamin B1 tăng khi tăng

lượng carbohydrat trong thức ăn. Thức ăn chứa nhiều năng lượng cần bổ sung thêm

vitamin. Cá ăn tạp có thể có nhu cầu B1 cao hơn cá ăn động vật. Nhu cầu vitamin

B1 ở cá thấp khoảng 1- 15 mg/kg, trong khi ở tôm biển mức đề nghị là 60 mg/kg

Các nghiên cứu cho thấy dấu hiệu bệnh lý khi ăn thức ăn thiếu vitamin B1

thường xuất hiện sau 8-10 tuần. Dấu hiệu rõ nhất là sinh trưởng của tôm cá giảm

nhanh

Dạng vitamin B1 thường được sử dụng bổ sung vào thức ăn là thiamin

mononitrate với tỉ lệ thiamin là 91-88%, đây là dạng vitamin bền. Tuy nhiên loại này

mất đi khoảng 80-90% nếu giữ ở nhiệt độ phòng trong 3 tháng. Qua ép viên mất đi từ

0-10%. Khi phối chế vào thức ăn để trong thời gian 7 tháng mất từ 11-12% (Slinger,

1979)



8m

g

4

m

g

2

mg



10

0



50

vết

2

8



4

6

10Thời gian cho

ăn (ngày)



Hình 7.1: Ảnh hưởng của vitamin B1 lên tỉ lệ sống của tôm he

3.1.2. Riboflavin ( Vitamin B2)

Vitamin B2 có tên hóa học là riboflavin. Riboflavin là thành phần cấu tạo của

flavin adenine dinucleotide (FAD) hay flavin mononucleotide (FMN) là coenzyme

cho nhiều phản ứng oxy hóa khử và trao đổi ion



Nhu cầu vitamin B2 khoảng 8-10mg/kg thức ăn cho loài cá chép và cá trơn và

25 mg/kg cho tôm.

Dấu hiệu bệnh lý khi ăn thức ăn thiếu vitamin B2 biểu hiện ở cá chép sau 3

tuần và ở cá trơn sau 8 tuần. Các dấu hiệu thường gặp giảm sinh trưởng, thiếu máu,

sợ ánh sáng, xuất huyết da, vây…Ở tơm thì nhạt màu, dễ bị kích thích, có dấu hiệu

khác thường trên vỏ.

Vitamin B2 là dễ bị mất đi qua quá trình chế biến và cho ăn. Khi ép đùn có

thể mất 26%, khi cho vào nước sau 20 phút mất đi 40% (Goldblatt, 1979)

3.1.3. Pyrodoxine ( Vitamin B6)

Vitamin B6 có tên hố học là pirodoxine. Nhóm vitamin B6 bao gồm

pyridoxine, pyridoxal, pyridoxamine và nhiều dẫn xuất khác trong đó pyridoxal có

hoạt tính sinh học cao nhất. Pyridoxine là coenzyme cho phản ứng decarboxyl hóa

cho các acid amin nên pyridoxine liên quan đến sự biến dưỡng protein. Dấu hiệu

thiếu vitamin B6 tăng lên khi thức ăn có hàm lượng protein cao. Vì vậy vitamin B6

đóng vai trò quan trọng đối với những lồi tơm cá động vật.

Nhu cầu vitamin B6 ở cá khoảng 5-10 mg/kg cho cá. Trong khi ở tôm được đề

nghị là 50 –60 mg/kg.

Dấu hiệu bệnh lý khi ăn thức ăn thiếu vitamin B6 biểu hiện ở cá chép sau 4-6

tuần và ở cá trơn sau 6- 8 tuần. Các dấu hiệu thường gặp rối loạn thần kinh, giảm khả

năng miễn dịch, thiếu máu…Ở tôm sẽ chậm sinh trưởng, tỉ lệ chết cao (Deshimaru,

1979)

Vitamin B6 được sử dụng bổ sung vào thức ăn dạng pyridoxine

hydrochloride. Hàm lượng vitamin B6 mất đi khoảng 7-10% qua quá trình ép viên và

bảo quản.

3.1.4. Pantothenic acid

Pantothenic acid tham gia cấu tạo acetyl coenzyme A là một bước trung gian

trong biến dưỡng carbohydrate, lipid và protein nó giữ vai trò quan trọng cho các

chức năng sinh lý của cá đang sinh trưởng.

Nhu cầu Pantothenic acid ở cá khoảng 30- 50 mg/kg thức ăn . Ở tôm mức đề

nghị là 70 - 75 mg/kg thức ăn.

Những biểu hiện thường gặp trên các loài cá khi thức ăn thiếu pantotheic acid

lâu là mang sần sùi, bỏ ăn, hoại tử, chậm lớn. Ở tôm tỉ lệ sống và sinh trưởng giảm.

Pantothenic acid được bổ sung vào thức ăn dưới dạng: calciun d -pantothenate

(92% hoạt tính) hoặc : calciun dl- pantothenate (46% hoạt tính). Hàm lượng

Pantothenic acid mất đi khoảng 10% qua quá trình ép viên

3.1.5. Vitamin PP

Vitamin PP bao gồm niacin, nicotinic acid và nicotinamide chúng có tác dụng

tương tự vì chúng có thể biến đổi qua lại trong quá trình biến dưỡng. Niacine là

thành phần của coenzyme nicotinamide adenine dinucleotide (NAD) và nicotinamide

adenine dinucleotide phosphate (NADP). Các coenzyme này liên quan đến các phản



ứng oxy hóa và khử trong q trình chuyển vận hydrogen và biến dưỡng của

carbohydrate, lipid và amino acid.

Nhu cầu vitamin PP là 14 mg/kg cho cá chép, 28 mg/kg cho cá trơn. Ở tôm

mức được đề nghị là 40 mg/kg thức ăn.

Dấu hiệu thiếu vitamin PP ở cá là lở loét da và vi cá, tỉ lệ chết cao, xuất huyết

da và biến dạng xương hàm. Vitamin PP có trong thức ăn thực vật và một số mơ động

vật. Tuy nhiên đa số vitamin PP trong thực vật ở dạng khó hấp thu đối với các lồi cá.

Hàm lượng vitamin PP mất đi khoảng 20% qua quá trình ép viên (Anonymous,

1981)

3.1.6. Biotin

Biotin có tác dụng như chất chuyển vận CO2 trong chuỗi phản ứng carboxyl

hóa và khử carboxyl. Các enzyme chứa biotin hoạt hoá các phản ứng trên bao gồm

acetyl-CoA carboxylase, pyruvate carboxylase và propyonyl-coA carboxylase. Như

vậy. Biotin tham gia vào quá trình sinh tổng hợp các acid béo chuỗi dài và purine.

Nhu cầu biotin cho cá là 1.5–2 mg/kg , cho tôm là 1 mg/kg thức ăn. Một số

lồi cá có khả năng tổng hợp biotin nhờ hệ vi khuẩn đường ruột như ở cá nheo.

Biểu hiện của cá khi thiếu biotin chậm tăng trưởng, màu sắc cá nhạt hơn, cá rất

nhạy với tiếng động khi thức ăn thiếu biotin lâu dài. Ở tôm khi thiếu Biotin là tỉ lệ

sống thấp, sinh trưởng chậm.

Biotin hiện diện phổ biến trong thức ăn thực động vật. Cám gạo, cám mì, bột

thịt, bột cá, bột bắp, bánh dầu các loại là nguồn cung cấp đáng kể biotin. Dạng biotin

thường được sử dụng bổ sung vào thức ăn là d-biotin. Qua quá trình ép viên hàm

lượng bitoin trong thức ăn mất đi khoảng 15% (Anonymous, 1981).

3.1.7. Vitamin B12

Vitamin B12 được biết như là cyanocobalamin, trong thành phần có Co. Cả

động vật và thực vật đều khơng có khả năng tổng hợp Vitamin B12. Vitamin B12 cần

cho quá trình thành thục và phát triển phôi. Đối với tôm, Vitamin B12 giữ vai trò

quan trọng trong tổng hợp nucleotic, protein, biến dưỡng carbohydrat và chất béo.

Vitamin B12 có thể được tổng hợp bởi vi khuẩn đường ruột của một số loài cá như cá

trơn,

Nghiên cứu nhu cầu vitamin B12 cho tơm cá còn rất hạn chế, nhu cầu cho cá

hồi được đề nghị là 0.015 –0.2 mg/kg, đối với tôm là 0.2mg/kg thức ăn Vitamin B12

có thể được tổng hợp bởi vi khuẩn đường ruột bởi một số loài cá như cá trơn, cá rô

phi, cáchép. Biểu hiện thiếu vitamin B12 chưa thể hiện rõ ở các loài, biểu hiện

thường thấy là giảm sinh trưởng. Qua quá trình chế biến, hàm lượng vitamin B12

không bị ảnh hưởng.

3.1.8. Choline và inositol

Choline và inositol thuộc nhóm vitamin tan nước, nhưng khác với nhóm này là

khơng tham gia vào thành phần coenzime. Choline có chức năng là thành phần

phosphotydylcholine tham gia vào cấu trúc màng sinh học và sử dụng lipid trong cơ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

VITAMIN TRONG THỨC ĂN THỦY SẢN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×