Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 5.4: Tóm tắt nhu cầu các acid béo thiết yếu của một số loài tôm cá

Bảng 5.4: Tóm tắt nhu cầu các acid béo thiết yếu của một số loài tôm cá

Tải bản đầy đủ - 0trang

7. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THÀNH PHẦN ACID BÉO

TRONG ĐỘNG VẬT THỦY SẢN

7.1 Độ mặn



TOP



Động vật thủy sản nước ngọt có chứa nhiều acid béo n-6 hơn ĐVTS biển. tỉ lệ

n-6/n-3 là 0.37 ở cá nước ngọt và 0.16 ở cá biển. Tỉ lệ n6/n3 cũng khác nhau đối với

lồi cá di cư từ biển vào sơng hay ngược lại. Tỉ lệ n-6/n-3 thay đổi từ 0.14 lên 0.3

trong vòng 1 tháng di cư từ nước biển vào môi trường nước ngọt. Ngược lại ở tỉ lệ

này giảm từ 0.3 xuồng 0.1 khi cá di cư từ nước ngọt ra biển để sinh sản. Sự thay đổi

này xảy ra ở cả lipid dự trữ cũng như lipid cấu trúc (phospholipid). Sự thay đổi này

có thể do sự khác nhau về thành phần các acid béo trong thức ăn tự nhiên hoặc sự

khác nhau này nhằm đáp ứng nhu cầu sinh lý của cá để thích nghi với điều kiện sống

khác.



Bảng 5.5. Thành phần của các acid béo thay đổi khi cá di cư



Acid

béo

Bảo

hòa

1 nối

đơi

n- 6

n- 3

n-6/n- 3



Plecoglosus altivelis

Biển

nước

ngọt

TG

PL

TG

PL

34,9 31,8 35,1 53,8

27,4



16,1



32,0



35,9



4,4

31,7



2,2

49,4



7,2

23,9



3,2

6,9



0,14



0,04



0,30



0,46



Onchorhynchus masu

Nước ngọt

biển

TG

PL

TG

PL

31,9

37,5

31,0 36,

0

43,0

18,6

43,1 19,

2

5,7

4,0

23

1,5

18,6

39,8

23,2 43,

1

0,31

0,10

0,10 0,0

3



Tương tự, tôm nước ngọt, đại diện là tôm càng xanh cũng có tỉ

lệ n-6 PUFA cao hơn n-3 trong tổng số lipid, trong khi đó, tơm biển

có tỉ lệ n-3 PUFA cao hơn so với n-6 .

Bảng 5.6: Thành phần acid béo của tôm nước ngọt và tôm

biển (%lipid)

Acid béo

16:0

16:1n9



Tôm nước ngọt

26,0

6,4



Tôm biển

17,6

13,5



18:0

18:1n9

18:2n6

18:3n6 + 20:1n9

18:3n3

20:2n6

20:3n6 + 22:1n9

20:4n6

20:5n3

22:4n6

22:5n6

22:5n3

22:6n3

Tổng PUFA

Tổng n-6 PUFA

Tổng n-3 PUFA

7.2 Nhiệt độ



9,8

28,8

16,3

0,7

1,9

1,0

0,1

2,7

3,7

0,2

0,2

0,2

2,1

28,3

20,4

7,9



9,3

14,9

2,9

2,6

1,5

1,7

0,2

6,4

15,5

0,8

1,2

1,5

10,3

41,8

13,0

28,8

TOP



Nhiệt độ là một yếu tố môi trường ảnh hưởng quan trọng đến

tỉ lệ các acid béo trong lipd của cá. Nhiều thí nghiệm cho thấy ảnh

hưởng của nhiệt độ môi trường làm ảnh hưởng thành phần acid béo.

Tôm cá xứ lạnh thường chứa nhiều HUFA trong thành phần acid béo

hơn tôm cá nhiệt đới, như vậy tỷ số n6/n3 giảm theo sự giảm nhiệt

độ. Theo khuynh hướng trên tơm cá xứ lạnh có nhu cầu acid béo họ

n-3 cao hơn tôm cá xứ nhiệt đới và ngược lại cá xứ nhiệt đới có nhu

cầu cao hơn về acid béo n6. Như cá hồi, một loài cá xứ lạnh ngay

trong nước ngọt cũng có khuynh hướng gia tăng hàm lượng HUFA

của những acid béo nhánh dài C20 và C22 và tỉ lệ n6/n3 thấp hơn

những loài cá nhiệt đới. Do đó khi thay đổi nhiệt độ mơi trường nuôi

cần lưu ý thay đổi mức độ và tỉ lệ acid béo thiết yếu để ĐVTScó thể

sinh trưởng và phát triển trong điều kiện sống mới

7.3 Thức ăn



TOP



Tỉ lệ acid béo n6/n3 của acid béo cá thay đổi rất lớn theo tỉ lệ n6/n3 trong thức

ăn. Khi cho cá ăn thức ăn chứa nhiều n6 như mỡ bò, dầu thực vật, cá có khuynh

hướng thay đổi tỉ lệ n6/n3 tích lũy trong cơ thể bằng cách tăng tỉ lệ n6/n3 lên và

ngược lại khi cho cá ăn thức ăn chứa nhiều n3.

Tôm chân trắng Penaeus vannamei cũng cho biết, khi sử dụng

thức ăn được bổ sung nhiều HUFA thì tơm giống cũng tích luỹ một

hàm lượng HUFA cao hơn so với các nghiệm thức khác. Kết quả này

cũng được ghi nhận trên tôm sú (Piedad-Pascual, 1986), ấu trùng và



hậu ấu trùng tôm càng xanh (Alam, 1995). Hàm lượng n-3 PUFA

trong lipid tôm biển là 41,5% trong khi tôm nước ngọt chỉ là 20,4%.

Trái lại n-6 PUFA ở tôm nước ngọt (20,4%) cao hơn tôm biển (13%).

Sự khác nhau này đã được một vài tác giả nghiên cứu và cho biết có

thể là do thức ăn của nhóm tơm nước ngọt chủ yếu là nhóm sống ở

khu vực nước ngọt, đặc biệt là nhóm thực vật, mà thành phần lipid

của thực vật chủ yếu là nhóm n-6 PUFA

8. PHOSPHOLIPID VÀ NHU CẦU PHOSPHOLIPID



TOP



Phospholipid là ester của các acid béo với phosphatidic acid.

Phospholipid là thành phần chính cấu tạo nên các màng cơ bản sinh

học trong đó hai đầu ưa nước sắp xếp quay mặt ra bên ngoài.

Phospholipid được phân chia thành hai nhóm tùy theo cấu trúc

có chứa gốc glycerol hay gốc sphingosyl. Glycerolphospholipid gồm

phosphatidyl choline (PA), phosphatidil ethanolamine (PE),

phosphatidyl inositol (PI), phosphatidyl serine (PS), phosphatidyl

glycerol (PG). Sphingosyl phổ biến nhất là sphigomyalin.

Phospholipid có một vai trò rất quan trọng trong dinh dưỡng vì

nó tham gia vào cấu trúc của tất cả các màng cơ bản và gữi vai trò

quan trọng trong sự vận chuyển và hấp thụ lipid và tham gia vào

các quá trình biến dưỡng trung gian trong cơ thể sinh vật.

Phospholipid hay lipid phân cực có vai trò quan trọng trong dinh

dưỡng cho động vật thủy sản, đặc biệt là giáp xác. Nó tham gia vào

cấu trúc của tất cả các màng tế bào cơ bản, giữ vai trò quan trọng

trong sự vận chuyển và hấp thu lipid, tham gia vào quá trình biến

dưỡng trung gian trong cơ thể sinh vật. Thường đối với thủy sản,

nguồn cung cấp phospholipid chủ yếu là lecithin từ dầu đậu nành.

Tất cả các loài giáp xác đều cần lecithin trong suốt quá trình phát

triển đặc biệt là giai đoạn ấu trùng (Harrison, 1990).

Ấu trùng tôm biển sẽ chết 100% ở giai đoạn mysis nếu cho ăn

thức ăn khơng có lecithin (Kazanawa và ctv, 1985). Teshima và

Kavazawa (1986) đã nghiên cứu ảnh hưởng hàm lượng lecithin lên

sinh trưởng của tôm he Nhật bản, kết quả cho thấy tốc độ tăng

trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn sẽ giảm khi thức được bổ sung

lecithin dưới 3%. Đối với tôm hùm triệu chứng của việc thiếu hụt

phospgholipid là tơm khơng có khả năng lột xác hoàn toàn ra khỏi

vỏ cũ được gọi là bệnh "molt death = bẩy lột xác”, bệnh này kéo dài

đến 90 ngày tuổi làm giảm tỷ lệ sống của ấu trùng (Coklin và ctv,

1980). Lecithin trích từ đậu nành và phosphostidylcholine (PC) đã

được chứng minh là cần thiết cho sự sinh trưởng của tôm P.

penicillatus (Jenn, 1989), tôm P. monodon (Piedad-Pascula, 1985) và

P. chinensis (Kazanawa, 1993). Piedad-Pascula (1985) tìm thấy rằng



tăng trọng của tôm sú giống sẽ gia tăng khi thức ăn bổ sung 2%

lecithin kết hợp với dầu cá Tuyết.

Bảng 5.7: Các kết quả nghiên cứu về nhu cầu lecithin cho

giáp xác

Loại tôm



Nguồn phospholipid



Mức tối ưu Tác giả

(%)

Tôm

hùm Lecithin đậu nành

7.5

Conklin và ctv

(giống)

(Hỗn hợp dầu đậu

(1980)

nành, PC, PE và một số

loại khác

He Nhật bản Lecithin đậu nành (hỗn 3

Teshima



(P. japonicus) hợp PC (24%), PE (30%)

ctv (1983)

và một số thứ khác)

Tôm sú

Lecithin đậu nành

2%

Piedad(P. monodon)

Pascula, 1985

P. stylirostris Lecithin đậu nành

1.5

Bray và ctv

(1990)

* PC: phosphostidylcholine, PE: Phosphatidylethanolamine.

9. CHOLESTEROL VÀ NHU CẦU CHOLESTEROL



TOP



Sterol là một rượu có vòng chứa bộ khung 1,2 - cyclopentanophenthrene chứa

27 - 30 nguyên tử carbon với gốc OH ở vị trí C3 và một nhánh ngang chứa tối thiểu

bảy carbon ở vị trí C17. Trong sterol, cholesterol là một thành phần chính cấu tạo

màng tế bào và là tiền chất của nhiều hormon sinh dục như progesterone,

testosterone... và các muối mật.

Giáp xác phải lấy sterol từ thức ăn, mà duy nhất là từ lipid của

thức ăn (Kanazawa và ctv, 1971; Castell và ctv, 1975). Một vài dạng

của sterol là Cholesterol, phytosterol, isofucosterol, stigmasterol...

Trong đó cholesterol được xem như là loại có ảnh hưởng lớn nhất

đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của nhiều loại giáp xác (Teshima và

Kanazawa, 1983). Một số loài giáp xác như cua và tơm hùm sẽ

chuyển hố cholesterol ngoại sinh thành cholesteryl esters,

corticoids, kích thích tố sinh dục, và kích thích tố lột xác (Kanazawa,

1985; Teshima và Kanazawa, 1971). Thí nghiệm của Teshima và ctv

(1982) trên tôm P. japonicus cho thấy, khi bổ sung 1% cholesterol

vào thức ăn cho lồi tơm này đã làm gia tăng tỷ lệ sống cũng như

tốc độ tăng trưởng. Nhu cầu cholesterol của tôm sú P. monodon

được đề nghị bởi Wu (1986) là 0,5%.

@ Một vài lưu ý khi thức ăn bị oxy hóa lipid (ơi dầu)



Một điểm cần lưu ý khi sử dụng lipid trong thức ăn cho động vật

thủy sản là do nguồn lipid cung cấp trong thức ăn của yếu là các

loại lipid có hàm lượng PUFA cao nên dễ dàng bị oxy hóa trong

khơng khí. Chất béo bị oxy hóa gây ra một số ảnh hưởng xấu lên

ĐVTS

-



Lipid bị oxy hóa giảm lượng acid béo cần thiết cho ĐVTS

Gây độc cho ĐVTS, nguyên nhân là q trình oxy hóa

chất béo tạo các sản phẩm như andehyt, ketons ...đây là

những chất gây độc cho ĐVTS.

Quá trình oxy hóa lipid sẽ làm cho thức ăn cò mùi hơi, vị

khó ăn nên ảnh hưởng đến sự bắt mồi, hiệu quả sử dụng

thức ăn.

Sản phẩm ĐVTS khi sử dụng thức ăn bị oxy hóa có mùi

hơi khó chịu, mỡ tích lũy sẽ bị vàng hay nâu sậm

Một số dưỡng chất cần thiết bị phân hủy ( Vitamin A,

B6, C, D, E và carotenoid)

Giá trị dinh dưỡng của thức ăn giảm



@ Một số dấu hiệu khi ĐVTS sử dụng thức ăn có chứa chất

béo bị oxy hóa

-



Xuất huyết, lượng hồng cầu giảm và cá có triệu chứng

thiếu máu.

Trương bụng và phồng gan

Giảm ăn và FCR tăng cao

Sinh trưởng chậm

Mòn vây và teo cơ

Tăng tỉ lệ chết



Để tránh hiện tượng oxy hóa chất béo nên sử dụng chất kháng

oxy hóa. Các chất kháng oxy hóa như vitamin E, phenols, quinones,

tocopherols và gallic acid, ascorbic acid, citric acid. Tuy nhiên trong

thực tế sản xuất người ta thường dùng các chất kháng oxy hóa nhân

tạo như:

  BHT (Butylated Hydroxy Toluen):

200ppm

  BHA (Butylated Hydroxy Anisole):

200ppm

  Ethoxyquin

150 ppm



Ngoài ra thức ăn cần được bảo quản nơi khơ ráo, thống mát

để tránh hiện tượng oxy hóa.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 5.4: Tóm tắt nhu cầu các acid béo thiết yếu của một số loài tôm cá

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×