Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 5.3: Một số acid béo thông thường trên động vật thuỷ sản

Bảng 5.3: Một số acid béo thông thường trên động vật thuỷ sản

Tải bản đầy đủ - 0trang

từ 20 carbon trở lên và có ít nhất 3 nối đôi như 20:3n-3; 22:4n-3;

20:2n-6; 22:3n-6 được gọi tên là HUFA (highly unsturated fatty

acid). Những HUFA và PUFA hiện diện rất phổ biến và phong phú

trong chuỗi thức ăn thủy vực

5.3. Sinh tổng hợp acid béo của động vật thủy sản



TOP



Động vật thủy sản có khả năng sinh tổng hợp một số acid béo

như các acid béo không no từ acetate, acid beo không no thành acid

béo không no một nối đôi. Tuy nhiên khác với thực vật động vật

thủy sản khơng có khả năng tăng số nối đơi về phía gốc methyl

(CH3) mà chỉ có thể cộng về phía gốc COOH, vì vậy các acid béo

khơng bảo hòa khơng thể được tổng hợp nếu thiếu tiền chất trong

thức ăn. Lý do là động vật thủy sản thiếu enzym desaturated.

Ví dụ:

Thực vật:



Động vật thủy sản:



Các thử nghiệm chứng tỏ trên cá, linolenic acid (18:3n-3) và linoleic

acid (18:2n-6) rất quan trọng và là tiền chất cho sự tổng hợp các

acid béo khác thuộc họ n3 và n6. Từ hai tiền chất 18:2n6 và 18:3n3

cá có thể sinh tổng hợp một loạt các acid béo họ n3 và n6 bằng

cách mỗi lần kéo dài thêm hai đơn vị carbon hay tăng số nối đơi lên

nhịp CH= CH-CH2-CH= CH về phía đầu carboxyl. Như vậy, có thể kết

luận trên cá và các động vật thủy sản linolenic acid và linoleic acid

là hai acid béo thiết yếu.

Một vài nghiên cứu cho thấy khả năng sinh tổng hợp acid béo

của giáp xác là yếu. Kanazawa và ctv (1979) đã nghiên cứu và

khám phá ra rằng P. japonicus có thể chuyển đổi 16:0 thành một

acid béo khơng no khác hoặc là acid béo có một nối đơi. Tuy nhiên,

rất ít hoặc khơng tìm thấy loại acid béo no 16:0 được đánh dấu

trong 18:2n-6, 18:3n-3, 20:5n-3 và 22:2n-6. Một vài nghiên cứu

khác cho biết giáp xác rất ít hoặc khơng có thể tổng hợp n-3 và n-6

HUFA từ n-6 và n-3 PUFA. Theo Read (1981), tôm P. indicus khả năng



giới hạn tổng hợp các acid béo mạch dài và chuyển hóa acid béo

nhóm linoleic và linolenic thành 20-22 C HUFA. Colvin (1976) khi so

sánh thành phần acid béo của tơm thí nghiệm và tơm ngồi tự

nhiên đã chứng minh khả năng giới hạn tổng hợp 18:2n-6 hoặc n-3

thành 20:n-6 hoặc 20:n-3 của tôm. Kết quả này cũng được chứng

minh tương tự trên tôm P. setiferus, P. azrecus và P. duorarum

(Bottino và ctv, 1980).



Từ những nghiên cứu này cho thấy tơm phải được cung cấp

nguồn lipid có thành phần acid béo thích hợp để gia tăng hiệu quả

sử dụng lipid trong thức ăn.



Hình 5.2 : Sơ đồ sinh tổng hợp các acid béo cao phân tử

không no trên Động vật thủy sản (Castell 1979)

6. NHU CẦU ACID BÉO THIẾT YẾU



TOP



Khi xem xét nhu cầu acid béo thiết yếu (essential fatty acid –

EFA) thường dựa vào thành phần acid béo của thức ăn tự nhiên nơi

ĐVTS sinh sống và thành phần acid béo của chính ĐVTS. Nhóm thức

ăn cơ sở của hệ sinh thái biển là tảo đơn bào, ở giai đoạn sinh

trưởng lipid chiếm 20% (trọng lượng khô), trong đó 50% là nhóm

acid béo n-3 cao phân tử không no (n-3 PUFA) như 20:5n-3, 22:6n-3.

Tảo đơn bào là thức ăn quan trọng của giáp xác, động vật nổi và

nhóm cá ăn thực vật ở biển. Do ĐVTS khơng có khả năng tổng hợp



các acid béo này nên việc cung cấp các acid béo này vào thức ăn

cho ĐVTS biển là cần thiết. Đối với nhóm tảo nước ngọt, nhóm acid

béo n-6 phong phú hơn tảo biển. Nhóm cá nước ngọt có nhiều acid

béo 18 carbon và n-6PUFA hơn cá biển.

Tất cả các nghiên cứu trên ĐVTS đều cho thấy ĐVTS yêu cầu

acid béo n-3, như yêu cầu acid béo18:3n-3 là 1-2%. Yêu cầu đối với

các acid béo mạch dài hơn (HUFA) như 20:n-3, 22:5n-3, 22-6n-3

thấp hơn, khoảng 0.5%. Nhìn chung trong ĐVTS yêu cầu được cung

cấp cả hai nhóm acid béo n-3 PUFA và n-6 PUFA, tuy nhiên nhóm

ĐVTS biển yêu cầu n-3 nhiều hơn, ngược lại nhóm ĐVTS nước ngọt

yêu cầu n-6 nhiều hơn.

Tỷ lệ n-3/n-6 thay đổi tùy theo loài và

nguồn acid béo được cung cấp. Nhóm acid béo n-3 có chức năng

chủ yếu là sinh tổng hợp các acid béo mạch dài, trong khi nhóm n-6

được sử dụng như nguồn cung cấp và dự trữ năng lượng.

Đối với giai đoạn ấu trùng, lipid đóng vai trò quan trọng bởi nó

cung cấp các acid béo cần thiết. Các acid béo thiết yếu thì rất quan

trọng trong quá trình phát triển, trao đổi chất, sinh lý và xây dựng

cơ thể. Hàm lượng acid béo cần thiết ở giai đoạn ấu trùng cao hơn

giai đoạn trưởng thành. Lipid tổng số và acid béo cần thiết thì đóng

góp trong suốt quá trình biến thái của ấu trùng từ nauplii, zoea,

mysis, poslarvae của tôm sú.

Ở giai đoạn tôm giống, thức ăn chủ yếu của tôm là thức ăn

chế biến nên việc cung cấp các acid béo cho tôm là cần thiết. Mức

độ tăng trưởng của P. japonicus sẽ gia tăng khi bổ sung 1% của

18:2n-6 và 18:3n-3 vào thức ăn. Shewbart và Mies (1973) thử

nghiệm mức độ từ 0,5-5% 18:3n-6 vào thức ăn công nghiệp cho tôm

giống P. aztecus, kết quả là mức 2% cho tốc độ tăng trưởng cao

nhất, dưới mức 2% sẽ làm giảm khả năng tăng trưởng của lồi tơm

này. Read (1981) đã tìm thấy bổ sung 1% của 18:2n-6 hoặc 18:3n-3

vào thức ăn sẽ cải tiến được mức độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của

tôm P. indicus. Sinh trưởng của tôm P. japonicus ăn thức ăn chứa

nhiều 18:3n-3 thì tốt hơn là nhiều 18:2n-6 (Gury và ctv, 1976).

Trong khi đó Xu và ctv (1994) lại cho biết tốc độ sinh trưởng của

tôm P. chinensis được cải thiện khi kết hợp hai nhóm acid béo này

hơn là chỉ bổ sung một loại. Nhiều nghiên cứu cho thấy nhóm acid

béo 20-22 Cacbon-HUFA được coi là có giá trị dinh dưỡng cao hơn

nhóm 18 Carbon-PUFA. Xu (1994) cho biết tốc độ tăng trưởng của

tôm P. chinensis được gia tăng khi bổ sung thức ăn giàu HUFA.

Kazanawa và Teshima (1977) cho biết giá trị dinh dưỡng thấp

của dầu đậu nành là do hàm lượng HUFA của dầu này rất thấp, nên

phải kết hợp thêm dầu mực có hàm lượng HUFA cao để ương nuôi

tôm biển. Tỷ lệ sống, sinh trưởng của tôm he Nhật bản được cải



thiện khi bổ sung vào thức ăn 18:2n-6 kết hợp với 3% dầu giàu

HUFA.

Bảng 5.4: Tóm tắt nhu cầu các acid béo thiết yếu của một số lồi tơm cá

Lồi



Nhu cầuacid béo

(% trong khẩu phần khô)

Cá Nheo Mỹ

1 - 2% 18:3n3

hoặc 0.5-0.75% n-3 HUFA

Cá Chình Nhật

0.5% 18:2n6 + 0.5% 18:3n3

Rơphi

0.5 - 1% 18:2n6 hoặc 1% 20:4n-6

Chép

1% 18:2n6 + 1% 18:3n6

Cá bơn

0.6- 1% HUFA

Tôm he Nhật bản

1%18:2n6 + 1% 8:3n3 hoặc 0.5% HUFA

2% 18:3n-6

1% 18:2n6 hoặc 1% 18:3n3

Penaeus aztecus

Tôm càng xanh

18:2n-6 và 18:3-3 (12:1) hoặc 20:4n-6

Tôm sú

và 22:6n-3

2- 3% HUFA

Một số tác giả khi nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần lipid

lên sức sinh sản và tỷ lệ nở của trứng tôm Peneus chinensis cho

rằng có mối liên hệ chặt chẽ giữa acid béo, 20:5n-3 trong trứng và

sức sinh sản, giữa 22:6n-3 và tỷ lệ nở, vì vậy họ đề nghị bổ sung

HUFA vào thức ăn cho tôm bố mẹ. Alava và ctv (1993) cũng cho biết

thức ăn thiếu phospholipid hoặc HUFA đều làm chậm q trình phát

triển buồng trứng của tơm P. japonicus. Ngoài ra, mối liên hệ rất

chặt chẽ giữa 20:4n-6 và 20:5n-6 sự phát triển của buồng trứng

cũng được tìm thấy ở một số lồi tơm thuộc họ Penaedea ngồi tự

nhiên.

Xu và ctv (1994) thí nghiệm sử dụng thức ăn có bổ sung các

nguồn lipid khác nhau lên tôm P. chinensis, kết quả cho thấy sức

sinh sản của lồi tơm này gia tăng khi thức ăn được bổ sung dầu

gan cá, trong khi dầu đậu nành thì cho sức sinh sản thấp hơn.

 

-



Dấu hiệu thiếu acid béo thiết yếu của ĐVTS:





Giảm sinh trưởng

Tăng tỉ lệ chết

Giảm hiệu quả sử dụng thức ăn

Mòn vây đi (ngun nhân do Flexebacterium sp)

Thối hóa gan (sưng to, tái màu)

Giảm sinh sản (tỉ lệ nở của trứng và tỉ lệ sống ấu trùng,

bột thấp)



7. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THÀNH PHẦN ACID BÉO

TRONG ĐỘNG VẬT THỦY SẢN

7.1 Độ mặn



TOP



Động vật thủy sản nước ngọt có chứa nhiều acid béo n-6 hơn ĐVTS biển. tỉ lệ

n-6/n-3 là 0.37 ở cá nước ngọt và 0.16 ở cá biển. Tỉ lệ n6/n3 cũng khác nhau đối với

loài cá di cư từ biển vào sông hay ngược lại. Tỉ lệ n-6/n-3 thay đổi từ 0.14 lên 0.3

trong vòng 1 tháng di cư từ nước biển vào môi trường nước ngọt. Ngược lại ở tỉ lệ

này giảm từ 0.3 xuồng 0.1 khi cá di cư từ nước ngọt ra biển để sinh sản. Sự thay đổi

này xảy ra ở cả lipid dự trữ cũng như lipid cấu trúc (phospholipid). Sự thay đổi này

có thể do sự khác nhau về thành phần các acid béo trong thức ăn tự nhiên hoặc sự

khác nhau này nhằm đáp ứng nhu cầu sinh lý của cá để thích nghi với điều kiện sống

khác.



Bảng 5.5. Thành phần của các acid béo thay đổi khi cá di cư



Acid

béo

Bảo

hòa

1 nối

đơi

n- 6

n- 3

n-6/n- 3



Plecoglosus altivelis

Biển

nước

ngọt

TG

PL

TG

PL

34,9 31,8 35,1 53,8

27,4



16,1



32,0



35,9



4,4

31,7



2,2

49,4



7,2

23,9



3,2

6,9



0,14



0,04



0,30



0,46



Onchorhynchus masu

Nước ngọt

biển

TG

PL

TG

PL

31,9

37,5

31,0 36,

0

43,0

18,6

43,1 19,

2

5,7

4,0

23

1,5

18,6

39,8

23,2 43,

1

0,31

0,10

0,10 0,0

3



Tương tự, tôm nước ngọt, đại diện là tơm càng xanh cũng có tỉ

lệ n-6 PUFA cao hơn n-3 trong tổng số lipid, trong khi đó, tơm biển

có tỉ lệ n-3 PUFA cao hơn so với n-6 .

Bảng 5.6: Thành phần acid béo của tôm nước ngọt và tôm

biển (%lipid)

Acid béo

16:0

16:1n9



Tôm nước ngọt

26,0

6,4



Tôm biển

17,6

13,5



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 5.3: Một số acid béo thông thường trên động vật thuỷ sản

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×