Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHOLESTEROL VÀ NHU CẦU CHOLESTEROL

CHOLESTEROL VÀ NHU CẦU CHOLESTEROL

Tải bản đầy đủ - 0trang

nghiên cứu về nhu cầu các acid béo của ĐVTS đã được công bố và ứng dụng vào

thực tế sản xuất đem lại hiệu qủa cao. Nhiều nghiên cứu cho thấy lipid có ảnh hưởng

rất lớn đến sinh trưởng của ĐVTS, đặc biệt là ở giai đoạn ấu trùng và giống. Ở giai

đoạn nuôi vỗ thành thục thức ăn được bổ sung nguồn lipid thích hợp sẽ nâng cao sức

sinh sản của ĐVTS cũng như chất lượng của giống

Lipid là một hợp chất hữu cơ có chức năng và thành phần hóa học khác nhau

được ly trích từ động và thực vật nhờ các dung môi ether, chloroform, metanol... Sự

phân chia các nhóm lipid dựa trên tính chất vật lý hơn là cấu trúc hóa học, hiện chưa

có sự thống nhất chung về hệ thống phân loại lipid. Mac Donald và ctv (1988) đã

đưa ra một hệ thống phân loại lipid như sau:



Hình 5.1: Phân loại lipid theo Mac Donald và ctv (1988)

Lipid còn được chia thành hai nhóm lớn là phân cực và khơng phân cực.

Nhóm phân cực có thể hòa tan trong chloroform, trong khi nhóm khơng phân cực

(thường là phospholipid) hồ tan trong dung mơi là hexane. Nhóm lipid khơng phân

cực chủ yếu là nhóm cung cấp năng lượng: triglyceride, các sterol ester , alkyldiacyl

glycerol và sáp.

Nhóm phân cực gồm chủ yếu là nhóm phospholopid có nhiệm vụ vì nó tham

gia vào cấu trúc của tất cả các màng cơ bản và giữ vai trò quan trọng trong sự vận

chuyển và hấp thụ lipid và tham gia vào các quá trình biến dưỡng trung gian trong cơ

thể sinh vật: Phosphotidylserine (PS), Phosphotidylethanolamine (PE),

Phosphatidylcholine (PC), Plasmalogens,

Sphingomyaline, Cerebroside,

Ganglioside,Phosphotidylinositol (PI)

2. CHỨC NĂNG CỦA CÁC LIPID

2.1. Cung cấp năng lượng



TOP



Lipid là nguồn dinh dưỡng cung cấp năng lượng tốt nhất cho

ĐVTS, sự chia sẻ năng lượng từ protein của lipid được chứng minh

trên nhiều loài ĐVTS. Việc bổ sung lượng lipid thích hợp sẽ giảm nhu

cầu protein. Triglyceride là thành phần chính và chủ yếu cung cấp

ngun liệu cho q trình oxy hóa tạo năng lượng ở ĐVTS. Năng

lượng thức ăn không được sử dụng ngay mà thường được dự trữ

dưới dạng glycogen và mỡ. Động vật thủy sản dự trữ lipid với lượng

rất lớn ở gan, cơ, giáp xác ở gan tụy. Ngoài ra một số loài cá dự trữ

mỡ dưới dạng mô mỡ bao quanh ruột như cá chép, rơ phi, tạo thành

lá mỡ như ở basa.

2.2. Hoạt hóa



và cấu thành enzyme



TOP



Lipid, đặc biệt là phospholipid có khả năng hoạt hóa enzyme. Ví dụ

phosphattidyl choline có khả năng hoạt hóa enzyme glucose 6 phosphatase,

Adenogentriphosphatase (ATPase). Lipid là thành phần chính của nhiều hormon là

steroid. Ngồi ra một số PUFA acid béo cao phân tử không no (PUFA) là tiền thân

của prostaglandin ở tôm cá, prostaglandin là họ acid béo 5 mạch vòng, số lượng rất

nhỏ, hoạt động giống như hormone.

2.3. Tham gia cấu trúc màng tế bào



TOP



Lipid phân cực hay phospholipid có một vai trò rất quan trọng

trong dinh dưỡng vì nó tham gia vào cấu trúc của tất cả các màng

tế bào. Cấu trúc cơ bản của các màng tế bào này là hai lớp của

những phân tử phosphoglyceride trong đó đi khơng phân cực xếp

đối diện và chồng với đuôi kỵ nước của một phospholipids và chúng

xếp ở giữa màng cơ bản, trong khi hai chiều ưa nước xếp ở mặt

ngoài tạo nên hai bề mặt trong và ngoài của màng cơ bản. Trong

màng cơ bản những đại phân tử protein sắp xếp xuyên qua màng cơ

bản và liên quan đến khả năng vận chuyển những vật liệu qua

màng.

2.4. Hỗ trợ hấp thụ các lipid khác



TOP



Phospholipid giữ vai trò quan trọng trong sự vận chuyển và

hấp thụ lipid và tham gia vào các quá trình biến dưỡng trung gian

trong cơ thể sinh vật. Phospholipid đóng vai trò như chất nhũ tương

hóa giúp các acid béo, muối mật và các chất hòa tan trong chất béo

gắn vào các hạt micelle nhỏ li ti. Nhờ đặc tính có hai đầu phân cực:

kỵ nước và hiếu nước, nên các phospholipid nằm bên ngoài các hạt

micelle gắn các sản phẩm thủy phân của lipid vào. Sự vận chuyển



các hạt micelle qua màng tế bào nhờ liên kết của các hạt micelle

với hai lớp phospholipid của các màng cơ bản nên các sản phẩm

thủy phân của lipid được đưa qua màng tế bào và hấp thụ vào hệ

bạch huyết. Như vậy, phospholipd có một vai trò quan trọng trong

sự hấp thu chất béo.

2. 5. Vận chuyển các vitamin và một số chất khác



TOP



Lipid là dung mơi hòa tan các vitamin tan trong trong dầu như

A, D, E, K và hydrocarbon. Do đó trong khi hấp thu và vận chuyển

trong cơ thể lipid cũng mang theo các chất hòa tan trong lipid.

3. SỰ TIÊU HỐ VÀ HẤP THU LIPID

3.1. Sự tiêu hóa và hấp thu



TOP



Đối với cá, gan giữ vai trò quan trọng trong tiêu hóa lipid, gan

tiết ra mật và dự trữ trong túi mật, khi thức ăn đến ruột thì mật

được tiết vào ruột. Muối mật có tác dụng nhũ tương hóa chất béo và

làm tăng bề mặt tiếp xúc của lipid với enzym tiêu hóa.

Enzym tiêu hóa lipid được tìm thấy ở tụy, manh tràng và

ruột trước. Lipase phân giải triglyceride thành glycerol và các acid

béo. Có một số yếu tố kích thích hoạt lực Lipase bao gồm Ca2+,

Peptidase nhưng quan trọng nhất là những muối mật. Những muối

mật này có tác dụng như một chất tẩy ---> làm gia tăng diện tích

tiếp xúc của những chất béo từ đó làm gia tăng lực Lipase. Trong

trường hợp những lipid phức tạp còn có thêm một lượng phosphoric

acid và các bazơ. Các este của sterol được thủy phân tạo ra các acid

béo và sterol tự do.

Những sản phẩm của quá trình tiêu hóa dễ hòa tan trong nước

như các acid béo ngắn và choline được trong nước nên được hấp thụ

trực tiếp vào lớp mucosa ruột. Các acid béo có chuỗi carbon dài và

muối mật khơng hòa tan trong nước chúng liên kết tạo thành các

hạt nhỏ micelle có kích thước 50 - 100 A 0 phân tán nhỏ trong nước.

Những hạt micelle được hấp thu vào thành ruột qua các tế bào hấp

thụ. Trong thành ruột những monoglyceride và các acid béo chuỗi

carbon dài trên 14 đơn vị được tái tổng hợp thành triglycerides.

Các triglyceride tái tổng hợp cùng một lượng nhỏ phospholipid

và các cholesterol tự do qua thành ruột được vận chuyển trong hệ

mao mạch ở dạng liên kết với các phân tử protein tạo nên phức hệ

lipoprotein có kích thước nhỏ bé, thường được gọi là những

chylomicron. Các phức hệ chylomicrons được hấp thu qua hệ mao

mạch sau đó đến gan và các cơ quan như cơ để biến dưỡng tạo



năng lượng cho hoạt động hay đến các cơ quan dự trữ như màng

treo ruột hay gan.

Sơ đồ tác dụng của các enzyme lên sự tiêu hóa lipid (triglycerides)

(Theo Moreau,1988)

Triglycerides



Lipase



Muối

mật



Tụ

y

tạ

ng

Gan



Acid

béo



Glycer

ol



HẤP THU



Đối vối giáp xác, có cả hai enzym tiêu hóa lipid là lipise và esterase. Đối với

enzime phân giải chất béo ở Astacas là esterase có tác động mạnh trên những ester

của acid béo bậc thấp hoặc những alcohol. Ngược lại ở tôm hùm, enzime phân giải

chất mỡ là lipase vì nó tác động lên mỡ mạnh hơn những ester. Nhưng trong cùng

một lồi có khi enzime phân giải chất mỡ là esterase nhưng cũng có lipase như ở tơm

sú .

3.2. Độ tiêu hóa lipid trong thức ăn



TOP



Chất lượng của lipid được đánh giá dựa vào thành phần và

hàm lượng acid béo trong thức ăn. Lipid trong thức ăn có độ tiêu

hóa cao trung bình 85% - 90%. Độ tiêu hóa lipid thay đổi theo nhiều

yếu tố. Trước hết là tính chất của acid béo cấu tạo nên lipid đó và tỉ lệ

của lipid trong thức ăn.



Teshima và Kazanawa (1983) cho biết tơm P. japonicus có khả

năng tiêu hóa 80% lipid từ thức ăn có hàm lượng lipid 8% với các

loại lipid: dầu động thực vật, palmitic acid, tripalmitin và lecithin từ

trứng. Triglycerol trong dầu đậu nành, dầu cá, dầu mực được tiêu

hóa dễ dàng 96,1- 98% đối với tôm sú giống (Merican và Shim,

1995). Tuy nhiên độ tiêu hóa giữa các nhóm acid béo cũng khác

nhau, khả năng tiêu hóa những lipid có hàm lượng acid béo no cao

thì kém hơn lipid hàm lượng acid béo khơng no mạch dài. Khả năng

tiêu hóa của mỗi loại acid béo chịu ảnh hưởng bởi hàm lượng acid

béo khác trong lipid (Harrison, 1990). Ở tơm sú, nhóm dầu cá biển

được tiêu hóa 91-100%, trong khi nhóm dầu đậu nành được tiêu hóa

78-95% và dầu cọ được tơm tiêu hóa kém nhất 63-93%.

Các thành phần khác trong thức ăn cũng ảnh hưởng đến độ

tiêu hóa lipid. Thức ăn có nhiều chất xơ sẽ làm giảm độ tiêu hóa,

hay lượng lipid trong thức ăn tăng lên quá cao và số lượng thức ăn

tăng lên có tác dụng giảm khả năng tiêu hóa của lipid. Ngồi ra

nhiệt độ có ảnh hưởng đến độ tiêu hóa của lipid.

4. NHU CẦU LIPID CỦA ĐỘNG VẬT THỦY SẢN



TOP



Nhu cầu lipid của động vật thủy sản được xác định dựa vào

nhu cầu về năng lượng, yêu cầu về acid béo cần thiết, nhu cầu về

phospholipid và cholesterol và đặc điểm sống và dự trữ lipid của

lồi. Tơm cá có nhu cầu năng lượng thấp hơn động vật trên cạn và

có thể sử dụng protein để làm năng lượng. Kết quả nghiên cứu về

nhu cầu lipid trong thức ăn cho giáp xác cho thấy tỷ lệ sống và sinh

trưởng của tôm đạt cao nhất là 5-8%. Đối với cá, hàm lượng lipid

thay đổi tùy theo loài, tuy nhiên mức đề nghị từ 6-10%.

Ngoài ra nhu cầu này phụ thuộc rất lớn vào hàm lượng và chất lượng protein,

hàm lượng và chất lượng của nguồn cung cấp năng lượng khác, và ngay cả chất

lượng của dầu. Tỉ lệ protein và lipid được đề nghị cho tôm cá là 6-7:1

Bảng 5.1. Mức sử dụng tối đa lipid trong thức ăn trên một số

loài cá

Giống loài

% lipid thức ăn

Giống loài

% lipid thức ăn

Chép

12-15

Cá hồi

18-20

Rô phi

< 10

13-18

Cá chẽm

Cá mú

7-10

13-14

Cá trơn Mỹ

Cá trê phi

Cá vền biển

7-10

12-15

Cá tra

Cá bơn

4-8

<15

Atlantic

Đối với tơm biển thì nguồn dầu cá biển, dầu mực, dầu nhuyễn

thể sẽ tốt hơn là nguồn dầu bắp, dầu đậu nành. Đối với tôm P.



japonicus tốc độ sinh trưởng sẽ gia tăng khi bổ sung 4% dầu cá trích

hay dầu hầu (Guary và ctv, 1976), trong khi đó ở tơm P. serratus là

4% dầu cá tuyết (Martin, 1980). Khi hàm lượng lipid quá cao làm

ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của tôm, (D’Abrano, 1997) cho biết

có mối tương quan chặt giữa hàm lượng lipid trong thức ăn và lipid

trong ruột, khi hàm lượng lipid trong thức ăn quá cao, dẫn tới hàm

lượng lipid trong ruột tăng và làm giảm khả năng trao đổi chất của

giáp xác, từ đó ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng.

Bảng 5.2: Nhu cầu lipid của một số lồi tơm cá

Loài



Nguồn lipid



Homarus

americanus

Procambar

us acutus



Dầu gan cá



Mức lipid



Mức

nhất

10, 5%



tốt Tác giả



1, 5,

15

Dầu cá

0,3, 6, 9,

9% hoặc

12, 15

mức lipid

cao hơn

Dầu gan cá 3, 6, 9, 12 6%

He Nhật bản

+ Dầu đậu

nành

Tôm

càng Dầu gan cá 0, 2, 4, 6, 6%

xanh

và dầu bắp 8, 10, 12

(1:1)

Dầu

mực, 6-7.5

Tôm sú

dầu cá



Castell



Covey (1975)

Davis



Robinson

(1986)

Deshimaru

và ctv (1979)

Sheen và D’

Abramo

(1991)

Abramo

(1997)



5. ACID BÉO (FATTY ACID)

Sự khác biệt giữa các loại lipid là thành phần và tỉ lệ các acid béo.Trong tự

nhiên có khoảng hơn 100 acid béo, các acid béo khác nhau về độ dài và mức độ

không no. Acid béo tồn tại rất ít ở trạng thái tự do hoặc izonized gọi là acylate, còn

lại phần lớn là trạng thái ester hóa như kết hợp của các loại lipid.

5.1 Cách gọi rút gọn của acid béo:



TOP



Chỉ số đầu tiên biểu thị số lượng carbon trong chuỗi

acid béo

Chỉ số thứ hai chỉ số lượng nối đôi trong chuỗi acid

béo

Chỉ số thứ ba, sau n hoặc  cho biết vị trí đầu tiên

của nối đôi kể từ gốc methyl (CH 3), đây là điểm khác biệt ở dinh

dưỡng ĐVTS. Trong sinh hóa và các nhà dinh dưỡng động vật thì vị

trí nối đơi bắt đầu từ gốc carboxylic (COOH).



Ví dụ:

Oleic acid (Octadecenoic acid): 18: 1n –9 hoặc 18:19

CH3-(CH2)7-(CH= CH)-(CH2)7-COOH

Linoleic acid (Octadecadienoic acid): 18:2n-6 hoặc 18:29,12

CH3-(CH2)4-(CH-CH)-CH2-(CH= CH)-(CH2)7-COOH

Linolenic acid (Octadecatrienoic acid): 18: 3n-3hoặc 18:39,12,15

CH3-CH2-CH= CH-CH2-CH= CH-CH2-CH= CH-(CH2)7-COOH

Bảng 5.3: Một số acid béo thông thường trên động vật thuỷ sản

St

t

01

02

03

04

05

06

07

08



Tên

gọi Tên thông thường

nhanh

14:0

Myristic

16:0

Palmitic

18:0

Stearic

18:1n-9

Oleic

18:2n-6

Linoleic

18:3n-3

Linolenic

20:4n-6

Arachidonic (AA)

20:5n-3

Eicosapentaenoic

(EPA)

09 22:6n-3

Docosahexenoic

(DHA)



Tên qui ước quốc tế

Tetradecanonic

Hexadecanoic

Octadecenoic

Cis-9-octadecenoic

9,12-octadecadienoic

9,12,15-octadecatrienoic

5,8,11,14-eicosatetraenoic

5,8,11,14,17eicosapentaenoic

4,7,10,13,16,19docosahexenoic



Dựa vào vị trí nối đơi đầu tiên so với gốc methyl, các acid béo

được xếp vào các họ:

Palmitoleic acid (n7) :16:1n7; 18:1n7.

Oleic acid (n9)

: 18:1n9; 20:1n9.

Linoleic acid (n6)

: 18:2n6; 18:3n6; 20:3n6; 20:4n6; 22:4n6.

Linolenic acid (n3) : 18:3n3; 20:5n3; 22:5n3; 22:6n3.

5.2. Thành phần acid béo trong sinh vật thủy sinh:



TOP



Là các acid béo mạch dài gồm từ 4-24 carbon và một nhóm

carboxyl. Đối với động vật thủy sinh hầu hết các acid béo chứa đựng

từ 12-22 carbon dạng mạch thẳng. Khác với động vật trên cạn, lipid

của động vật thủy sản chứa nhiều các acid béo cao phân tử khơng

no, đặc biệt là nhóm n-3, n-6. Những linoleic acid (n-6) và linolenic

acid (n-3), tức là nhóm acid béo khơng no có mạch carbon dài từ

18C trở lên và có ít nhất 2 nối đơi

được gọi tên là PUFA

(polyunsaturated fatty acid) và những acid béo có chuỗi carbon dài



từ 20 carbon trở lên và có ít nhất 3 nối đôi như 20:3n-3; 22:4n-3;

20:2n-6; 22:3n-6 được gọi tên là HUFA (highly unsturated fatty

acid). Những HUFA và PUFA hiện diện rất phổ biến và phong phú

trong chuỗi thức ăn thủy vực

5.3. Sinh tổng hợp acid béo của động vật thủy sản



TOP



Động vật thủy sản có khả năng sinh tổng hợp một số acid béo

như các acid béo không no từ acetate, acid beo không no thành acid

béo không no một nối đôi. Tuy nhiên khác với thực vật động vật

thủy sản khơng có khả năng tăng số nối đơi về phía gốc methyl

(CH3) mà chỉ có thể cộng về phía gốc COOH, vì vậy các acid béo

khơng bảo hòa khơng thể được tổng hợp nếu thiếu tiền chất trong

thức ăn. Lý do là động vật thủy sản thiếu enzym desaturated.

Ví dụ:

Thực vật:



Động vật thủy sản:



Các thử nghiệm chứng tỏ trên cá, linolenic acid (18:3n-3) và linoleic

acid (18:2n-6) rất quan trọng và là tiền chất cho sự tổng hợp các

acid béo khác thuộc họ n3 và n6. Từ hai tiền chất 18:2n6 và 18:3n3

cá có thể sinh tổng hợp một loạt các acid béo họ n3 và n6 bằng

cách mỗi lần kéo dài thêm hai đơn vị carbon hay tăng số nối đơi lên

nhịp CH= CH-CH2-CH= CH về phía đầu carboxyl. Như vậy, có thể kết

luận trên cá và các động vật thủy sản linolenic acid và linoleic acid

là hai acid béo thiết yếu.

Một vài nghiên cứu cho thấy khả năng sinh tổng hợp acid béo

của giáp xác là yếu. Kanazawa và ctv (1979) đã nghiên cứu và

khám phá ra rằng P. japonicus có thể chuyển đổi 16:0 thành một

acid béo khơng no khác hoặc là acid béo có một nối đơi. Tuy nhiên,

rất ít hoặc khơng tìm thấy loại acid béo no 16:0 được đánh dấu

trong 18:2n-6, 18:3n-3, 20:5n-3 và 22:2n-6. Một vài nghiên cứu

khác cho biết giáp xác rất ít hoặc khơng có thể tổng hợp n-3 và n-6

HUFA từ n-6 và n-3 PUFA. Theo Read (1981), tôm P. indicus khả năng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHOLESTEROL VÀ NHU CẦU CHOLESTEROL

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×