Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Linolenic acid (Octadecatrienoic acid): 18: 3n-3hoặc 18:3D9,12,15

Linolenic acid (Octadecatrienoic acid): 18: 3n-3hoặc 18:3D9,12,15

Tải bản đầy đủ - 0trang

từ 20 carbon trở lên và có ít nhất 3 nối đôi như 20:3n-3; 22:4n-3;

20:2n-6; 22:3n-6 được gọi tên là HUFA (highly unsturated fatty

acid). Những HUFA và PUFA hiện diện rất phổ biến và phong phú

trong chuỗi thức ăn thủy vực

5.3. Sinh tổng hợp acid béo của động vật thủy sản



TOP



Động vật thủy sản có khả năng sinh tổng hợp một số acid béo

như các acid béo không no từ acetate, acid beo không no thành acid

béo không no một nối đôi. Tuy nhiên khác với thực vật động vật

thủy sản khơng có khả năng tăng số nối đơi về phía gốc methyl

(CH3) mà chỉ có thể cộng về phía gốc COOH, vì vậy các acid béo

khơng bảo hòa khơng thể được tổng hợp nếu thiếu tiền chất trong

thức ăn. Lý do là động vật thủy sản thiếu enzym desaturated.

Ví dụ:

Thực vật:



Động vật thủy sản:



Các thử nghiệm chứng tỏ trên cá, linolenic acid (18:3n-3) và linoleic

acid (18:2n-6) rất quan trọng và là tiền chất cho sự tổng hợp các

acid béo khác thuộc họ n3 và n6. Từ hai tiền chất 18:2n6 và 18:3n3

cá có thể sinh tổng hợp một loạt các acid béo họ n3 và n6 bằng

cách mỗi lần kéo dài thêm hai đơn vị carbon hay tăng số nối đơi lên

nhịp CH= CH-CH2-CH= CH về phía đầu carboxyl. Như vậy, có thể kết

luận trên cá và các động vật thủy sản linolenic acid và linoleic acid

là hai acid béo thiết yếu.

Một vài nghiên cứu cho thấy khả năng sinh tổng hợp acid béo

của giáp xác là yếu. Kanazawa và ctv (1979) đã nghiên cứu và

khám phá ra rằng P. japonicus có thể chuyển đổi 16:0 thành một

acid béo khơng no khác hoặc là acid béo có một nối đơi. Tuy nhiên,

rất ít hoặc khơng tìm thấy loại acid béo no 16:0 được đánh dấu

trong 18:2n-6, 18:3n-3, 20:5n-3 và 22:2n-6. Một vài nghiên cứu

khác cho biết giáp xác rất ít hoặc khơng có thể tổng hợp n-3 và n-6

HUFA từ n-6 và n-3 PUFA. Theo Read (1981), tôm P. indicus khả năng



giới hạn tổng hợp các acid béo mạch dài và chuyển hóa acid béo

nhóm linoleic và linolenic thành 20-22 C HUFA. Colvin (1976) khi so

sánh thành phần acid béo của tơm thí nghiệm và tơm ngồi tự

nhiên đã chứng minh khả năng giới hạn tổng hợp 18:2n-6 hoặc n-3

thành 20:n-6 hoặc 20:n-3 của tôm. Kết quả này cũng được chứng

minh tương tự trên tôm P. setiferus, P. azrecus và P. duorarum

(Bottino và ctv, 1980).



Từ những nghiên cứu này cho thấy tơm phải được cung cấp

nguồn lipid có thành phần acid béo thích hợp để gia tăng hiệu quả

sử dụng lipid trong thức ăn.



Hình 5.2 : Sơ đồ sinh tổng hợp các acid béo cao phân tử

không no trên Động vật thủy sản (Castell 1979)

6. NHU CẦU ACID BÉO THIẾT YẾU



TOP



Khi xem xét nhu cầu acid béo thiết yếu (essential fatty acid –

EFA) thường dựa vào thành phần acid béo của thức ăn tự nhiên nơi

ĐVTS sinh sống và thành phần acid béo của chính ĐVTS. Nhóm thức

ăn cơ sở của hệ sinh thái biển là tảo đơn bào, ở giai đoạn sinh

trưởng lipid chiếm 20% (trọng lượng khô), trong đó 50% là nhóm

acid béo n-3 cao phân tử không no (n-3 PUFA) như 20:5n-3, 22:6n-3.

Tảo đơn bào là thức ăn quan trọng của giáp xác, động vật nổi và

nhóm cá ăn thực vật ở biển. Do ĐVTS khơng có khả năng tổng hợp



các acid béo này nên việc cung cấp các acid béo này vào thức ăn

cho ĐVTS biển là cần thiết. Đối với nhóm tảo nước ngọt, nhóm acid

béo n-6 phong phú hơn tảo biển. Nhóm cá nước ngọt có nhiều acid

béo 18 carbon và n-6PUFA hơn cá biển.

Tất cả các nghiên cứu trên ĐVTS đều cho thấy ĐVTS yêu cầu

acid béo n-3, như yêu cầu acid béo18:3n-3 là 1-2%. Yêu cầu đối với

các acid béo mạch dài hơn (HUFA) như 20:n-3, 22:5n-3, 22-6n-3

thấp hơn, khoảng 0.5%. Nhìn chung trong ĐVTS yêu cầu được cung

cấp cả hai nhóm acid béo n-3 PUFA và n-6 PUFA, tuy nhiên nhóm

ĐVTS biển yêu cầu n-3 nhiều hơn, ngược lại nhóm ĐVTS nước ngọt

yêu cầu n-6 nhiều hơn.

Tỷ lệ n-3/n-6 thay đổi tùy theo loài và

nguồn acid béo được cung cấp. Nhóm acid béo n-3 có chức năng

chủ yếu là sinh tổng hợp các acid béo mạch dài, trong khi nhóm n-6

được sử dụng như nguồn cung cấp và dự trữ năng lượng.

Đối với giai đoạn ấu trùng, lipid đóng vai trò quan trọng bởi nó

cung cấp các acid béo cần thiết. Các acid béo thiết yếu thì rất quan

trọng trong quá trình phát triển, trao đổi chất, sinh lý và xây dựng

cơ thể. Hàm lượng acid béo cần thiết ở giai đoạn ấu trùng cao hơn

giai đoạn trưởng thành. Lipid tổng số và acid béo cần thiết thì đóng

góp trong suốt quá trình biến thái của ấu trùng từ nauplii, zoea,

mysis, poslarvae của tôm sú.

Ở giai đoạn tôm giống, thức ăn chủ yếu của tôm là thức ăn

chế biến nên việc cung cấp các acid béo cho tôm là cần thiết. Mức

độ tăng trưởng của P. japonicus sẽ gia tăng khi bổ sung 1% của

18:2n-6 và 18:3n-3 vào thức ăn. Shewbart và Mies (1973) thử

nghiệm mức độ từ 0,5-5% 18:3n-6 vào thức ăn công nghiệp cho tôm

giống P. aztecus, kết quả là mức 2% cho tốc độ tăng trưởng cao

nhất, dưới mức 2% sẽ làm giảm khả năng tăng trưởng của lồi tơm

này. Read (1981) đã tìm thấy bổ sung 1% của 18:2n-6 hoặc 18:3n-3

vào thức ăn sẽ cải tiến được mức độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của

tôm P. indicus. Sinh trưởng của tôm P. japonicus ăn thức ăn chứa

nhiều 18:3n-3 thì tốt hơn là nhiều 18:2n-6 (Gury và ctv, 1976).

Trong khi đó Xu và ctv (1994) lại cho biết tốc độ sinh trưởng của

tôm P. chinensis được cải thiện khi kết hợp hai nhóm acid béo này

hơn là chỉ bổ sung một loại. Nhiều nghiên cứu cho thấy nhóm acid

béo 20-22 Cacbon-HUFA được coi là có giá trị dinh dưỡng cao hơn

nhóm 18 Carbon-PUFA. Xu (1994) cho biết tốc độ tăng trưởng của

tôm P. chinensis được gia tăng khi bổ sung thức ăn giàu HUFA.

Kazanawa và Teshima (1977) cho biết giá trị dinh dưỡng thấp

của dầu đậu nành là do hàm lượng HUFA của dầu này rất thấp, nên

phải kết hợp thêm dầu mực có hàm lượng HUFA cao để ương nuôi

tôm biển. Tỷ lệ sống, sinh trưởng của tôm he Nhật bản được cải



thiện khi bổ sung vào thức ăn 18:2n-6 kết hợp với 3% dầu giàu

HUFA.

Bảng 5.4: Tóm tắt nhu cầu các acid béo thiết yếu của một số lồi tơm cá

Lồi



Nhu cầuacid béo

(% trong khẩu phần khô)

Cá Nheo Mỹ

1 - 2% 18:3n3

hoặc 0.5-0.75% n-3 HUFA

Cá Chình Nhật

0.5% 18:2n6 + 0.5% 18:3n3

Rơphi

0.5 - 1% 18:2n6 hoặc 1% 20:4n-6

Chép

1% 18:2n6 + 1% 18:3n6

Cá bơn

0.6- 1% HUFA

Tôm he Nhật bản

1%18:2n6 + 1% 8:3n3 hoặc 0.5% HUFA

2% 18:3n-6

1% 18:2n6 hoặc 1% 18:3n3

Penaeus aztecus

Tôm càng xanh

18:2n-6 và 18:3-3 (12:1) hoặc 20:4n-6

Tôm sú

và 22:6n-3

2- 3% HUFA

Một số tác giả khi nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần lipid

lên sức sinh sản và tỷ lệ nở của trứng tôm Peneus chinensis cho

rằng có mối liên hệ chặt chẽ giữa acid béo, 20:5n-3 trong trứng và

sức sinh sản, giữa 22:6n-3 và tỷ lệ nở, vì vậy họ đề nghị bổ sung

HUFA vào thức ăn cho tôm bố mẹ. Alava và ctv (1993) cũng cho biết

thức ăn thiếu phospholipid hoặc HUFA đều làm chậm q trình phát

triển buồng trứng của tơm P. japonicus. Ngoài ra, mối liên hệ rất

chặt chẽ giữa 20:4n-6 và 20:5n-6 sự phát triển của buồng trứng

cũng được tìm thấy ở một số lồi tơm thuộc họ Penaedea ngồi tự

nhiên.

Xu và ctv (1994) thí nghiệm sử dụng thức ăn có bổ sung các

nguồn lipid khác nhau lên tôm P. chinensis, kết quả cho thấy sức

sinh sản của lồi tơm này gia tăng khi thức ăn được bổ sung dầu

gan cá, trong khi dầu đậu nành thì cho sức sinh sản thấp hơn.

 

-



Dấu hiệu thiếu acid béo thiết yếu của ĐVTS:





Giảm sinh trưởng

Tăng tỉ lệ chết

Giảm hiệu quả sử dụng thức ăn

Mòn vây đi (ngun nhân do Flexebacterium sp)

Thối hóa gan (sưng to, tái màu)

Giảm sinh sản (tỉ lệ nở của trứng và tỉ lệ sống ấu trùng,

bột thấp)



7. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THÀNH PHẦN ACID BÉO

TRONG ĐỘNG VẬT THỦY SẢN

7.1 Độ mặn



TOP



Động vật thủy sản nước ngọt có chứa nhiều acid béo n-6 hơn ĐVTS biển. tỉ lệ

n-6/n-3 là 0.37 ở cá nước ngọt và 0.16 ở cá biển. Tỉ lệ n6/n3 cũng khác nhau đối với

loài cá di cư từ biển vào sông hay ngược lại. Tỉ lệ n-6/n-3 thay đổi từ 0.14 lên 0.3

trong vòng 1 tháng di cư từ nước biển vào môi trường nước ngọt. Ngược lại ở tỉ lệ

này giảm từ 0.3 xuồng 0.1 khi cá di cư từ nước ngọt ra biển để sinh sản. Sự thay đổi

này xảy ra ở cả lipid dự trữ cũng như lipid cấu trúc (phospholipid). Sự thay đổi này

có thể do sự khác nhau về thành phần các acid béo trong thức ăn tự nhiên hoặc sự

khác nhau này nhằm đáp ứng nhu cầu sinh lý của cá để thích nghi với điều kiện sống

khác.



Bảng 5.5. Thành phần của các acid béo thay đổi khi cá di cư



Acid

béo

Bảo

hòa

1 nối

đơi

n- 6

n- 3

n-6/n- 3



Plecoglosus altivelis

Biển

nước

ngọt

TG

PL

TG

PL

34,9 31,8 35,1 53,8

27,4



16,1



32,0



35,9



4,4

31,7



2,2

49,4



7,2

23,9



3,2

6,9



0,14



0,04



0,30



0,46



Onchorhynchus masu

Nước ngọt

biển

TG

PL

TG

PL

31,9

37,5

31,0 36,

0

43,0

18,6

43,1 19,

2

5,7

4,0

23

1,5

18,6

39,8

23,2 43,

1

0,31

0,10

0,10 0,0

3



Tương tự, tôm nước ngọt, đại diện là tơm càng xanh cũng có tỉ

lệ n-6 PUFA cao hơn n-3 trong tổng số lipid, trong khi đó, tơm biển

có tỉ lệ n-3 PUFA cao hơn so với n-6 .

Bảng 5.6: Thành phần acid béo của tôm nước ngọt và tôm

biển (%lipid)

Acid béo

16:0

16:1n9



Tôm nước ngọt

26,0

6,4



Tôm biển

17,6

13,5



18:0

18:1n9

18:2n6

18:3n6 + 20:1n9

18:3n3

20:2n6

20:3n6 + 22:1n9

20:4n6

20:5n3

22:4n6

22:5n6

22:5n3

22:6n3

Tổng PUFA

Tổng n-6 PUFA

Tổng n-3 PUFA

7.2 Nhiệt độ



9,8

28,8

16,3

0,7

1,9

1,0

0,1

2,7

3,7

0,2

0,2

0,2

2,1

28,3

20,4

7,9



9,3

14,9

2,9

2,6

1,5

1,7

0,2

6,4

15,5

0,8

1,2

1,5

10,3

41,8

13,0

28,8

TOP



Nhiệt độ là một yếu tố môi trường ảnh hưởng quan trọng đến

tỉ lệ các acid béo trong lipd của cá. Nhiều thí nghiệm cho thấy ảnh

hưởng của nhiệt độ môi trường làm ảnh hưởng thành phần acid béo.

Tôm cá xứ lạnh thường chứa nhiều HUFA trong thành phần acid béo

hơn tôm cá nhiệt đới, như vậy tỷ số n6/n3 giảm theo sự giảm nhiệt

độ. Theo khuynh hướng trên tôm cá xứ lạnh có nhu cầu acid béo họ

n-3 cao hơn tôm cá xứ nhiệt đới và ngược lại cá xứ nhiệt đới có nhu

cầu cao hơn về acid béo n6. Như cá hồi, một loài cá xứ lạnh ngay

trong nước ngọt cũng có khuynh hướng gia tăng hàm lượng HUFA

của những acid béo nhánh dài C20 và C22 và tỉ lệ n6/n3 thấp hơn

những loài cá nhiệt đới. Do đó khi thay đổi nhiệt độ mơi trường ni

cần lưu ý thay đổi mức độ và tỉ lệ acid béo thiết yếu để ĐVTScó thể

sinh trưởng và phát triển trong điều kiện sống mới

7.3 Thức ăn



TOP



Tỉ lệ acid béo n6/n3 của acid béo cá thay đổi rất lớn theo tỉ lệ n6/n3 trong thức

ăn. Khi cho cá ăn thức ăn chứa nhiều n6 như mỡ bò, dầu thực vật, cá có khuynh

hướng thay đổi tỉ lệ n6/n3 tích lũy trong cơ thể bằng cách tăng tỉ lệ n6/n3 lên và

ngược lại khi cho cá ăn thức ăn chứa nhiều n3.

Tôm chân trắng Penaeus vannamei cũng cho biết, khi sử dụng

thức ăn được bổ sung nhiều HUFA thì tơm giống cũng tích luỹ một

hàm lượng HUFA cao hơn so với các nghiệm thức khác. Kết quả này

cũng được ghi nhận trên tôm sú (Piedad-Pascual, 1986), ấu trùng và



hậu ấu trùng tôm càng xanh (Alam, 1995). Hàm lượng n-3 PUFA

trong lipid tôm biển là 41,5% trong khi tôm nước ngọt chỉ là 20,4%.

Trái lại n-6 PUFA ở tôm nước ngọt (20,4%) cao hơn tôm biển (13%).

Sự khác nhau này đã được một vài tác giả nghiên cứu và cho biết có

thể là do thức ăn của nhóm tơm nước ngọt chủ yếu là nhóm sống ở

khu vực nước ngọt, đặc biệt là nhóm thực vật, mà thành phần lipid

của thực vật chủ yếu là nhóm n-6 PUFA

8. PHOSPHOLIPID VÀ NHU CẦU PHOSPHOLIPID



TOP



Phospholipid là ester của các acid béo với phosphatidic acid.

Phospholipid là thành phần chính cấu tạo nên các màng cơ bản sinh

học trong đó hai đầu ưa nước sắp xếp quay mặt ra bên ngồi.

Phospholipid được phân chia thành hai nhóm tùy theo cấu trúc

có chứa gốc glycerol hay gốc sphingosyl. Glycerolphospholipid gồm

phosphatidyl choline (PA), phosphatidil ethanolamine (PE),

phosphatidyl inositol (PI), phosphatidyl serine (PS), phosphatidyl

glycerol (PG). Sphingosyl phổ biến nhất là sphigomyalin.

Phospholipid có một vai trò rất quan trọng trong dinh dưỡng vì

nó tham gia vào cấu trúc của tất cả các màng cơ bản và gữi vai trò

quan trọng trong sự vận chuyển và hấp thụ lipid và tham gia vào

các quá trình biến dưỡng trung gian trong cơ thể sinh vật.

Phospholipid hay lipid phân cực có vai trò quan trọng trong dinh

dưỡng cho động vật thủy sản, đặc biệt là giáp xác. Nó tham gia vào

cấu trúc của tất cả các màng tế bào cơ bản, giữ vai trò quan trọng

trong sự vận chuyển và hấp thu lipid, tham gia vào quá trình biến

dưỡng trung gian trong cơ thể sinh vật. Thường đối với thủy sản,

nguồn cung cấp phospholipid chủ yếu là lecithin từ dầu đậu nành.

Tất cả các loài giáp xác đều cần lecithin trong suốt quá trình phát

triển đặc biệt là giai đoạn ấu trùng (Harrison, 1990).

Ấu trùng tôm biển sẽ chết 100% ở giai đoạn mysis nếu cho ăn

thức ăn khơng có lecithin (Kazanawa và ctv, 1985). Teshima và

Kavazawa (1986) đã nghiên cứu ảnh hưởng hàm lượng lecithin lên

sinh trưởng của tôm he Nhật bản, kết quả cho thấy tốc độ tăng

trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn sẽ giảm khi thức được bổ sung

lecithin dưới 3%. Đối với tôm hùm triệu chứng của việc thiếu hụt

phospgholipid là tơm khơng có khả năng lột xác hồn toàn ra khỏi

vỏ cũ được gọi là bệnh "molt death = bẩy lột xác”, bệnh này kéo dài

đến 90 ngày tuổi làm giảm tỷ lệ sống của ấu trùng (Coklin và ctv,

1980). Lecithin trích từ đậu nành và phosphostidylcholine (PC) đã

được chứng minh là cần thiết cho sự sinh trưởng của tôm P.

penicillatus (Jenn, 1989), tôm P. monodon (Piedad-Pascula, 1985) và

P. chinensis (Kazanawa, 1993). Piedad-Pascula (1985) tìm thấy rằng



tăng trọng của tôm sú giống sẽ gia tăng khi thức ăn bổ sung 2%

lecithin kết hợp với dầu cá Tuyết.

Bảng 5.7: Các kết quả nghiên cứu về nhu cầu lecithin cho

giáp xác

Loại tôm



Nguồn phospholipid



Mức tối ưu Tác giả

(%)

Tôm

hùm Lecithin đậu nành

7.5

Conklin và ctv

(giống)

(Hỗn hợp dầu đậu

(1980)

nành, PC, PE và một số

loại khác

He Nhật bản Lecithin đậu nành (hỗn 3

Teshima



(P. japonicus) hợp PC (24%), PE (30%)

ctv (1983)

và một số thứ khác)

Tôm sú

Lecithin đậu nành

2%

Piedad(P. monodon)

Pascula, 1985

P. stylirostris Lecithin đậu nành

1.5

Bray và ctv

(1990)

* PC: phosphostidylcholine, PE: Phosphatidylethanolamine.

9. CHOLESTEROL VÀ NHU CẦU CHOLESTEROL



TOP



Sterol là một rượu có vòng chứa bộ khung 1,2 - cyclopentanophenthrene chứa

27 - 30 nguyên tử carbon với gốc OH ở vị trí C3 và một nhánh ngang chứa tối thiểu

bảy carbon ở vị trí C17. Trong sterol, cholesterol là một thành phần chính cấu tạo

màng tế bào và là tiền chất của nhiều hormon sinh dục như progesterone,

testosterone... và các muối mật.

Giáp xác phải lấy sterol từ thức ăn, mà duy nhất là từ lipid của

thức ăn (Kanazawa và ctv, 1971; Castell và ctv, 1975). Một vài dạng

của sterol là Cholesterol, phytosterol, isofucosterol, stigmasterol...

Trong đó cholesterol được xem như là loại có ảnh hưởng lớn nhất

đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của nhiều loại giáp xác (Teshima và

Kanazawa, 1983). Một số lồi giáp xác như cua và tơm hùm sẽ

chuyển hố cholesterol ngoại sinh thành cholesteryl esters,

corticoids, kích thích tố sinh dục, và kích thích tố lột xác (Kanazawa,

1985; Teshima và Kanazawa, 1971). Thí nghiệm của Teshima và ctv

(1982) trên tôm P. japonicus cho thấy, khi bổ sung 1% cholesterol

vào thức ăn cho lồi tơm này đã làm gia tăng tỷ lệ sống cũng như

tốc độ tăng trưởng. Nhu cầu cholesterol của tôm sú P. monodon

được đề nghị bởi Wu (1986) là 0,5%.

@ Một vài lưu ý khi thức ăn bị oxy hóa lipid (ơi dầu)



Một điểm cần lưu ý khi sử dụng lipid trong thức ăn cho động vật

thủy sản là do nguồn lipid cung cấp trong thức ăn của yếu là các

loại lipid có hàm lượng PUFA cao nên dễ dàng bị oxy hóa trong

khơng khí. Chất béo bị oxy hóa gây ra một số ảnh hưởng xấu lên

ĐVTS

-



Lipid bị oxy hóa giảm lượng acid béo cần thiết cho ĐVTS

Gây độc cho ĐVTS, nguyên nhân là quá trình oxy hóa

chất béo tạo các sản phẩm như andehyt, ketons ...đây là

những chất gây độc cho ĐVTS.

Quá trình oxy hóa lipid sẽ làm cho thức ăn cò mùi hơi, vị

khó ăn nên ảnh hưởng đến sự bắt mồi, hiệu quả sử dụng

thức ăn.

Sản phẩm ĐVTS khi sử dụng thức ăn bị oxy hóa có mùi

hơi khó chịu, mỡ tích lũy sẽ bị vàng hay nâu sậm

Một số dưỡng chất cần thiết bị phân hủy ( Vitamin A,

B6, C, D, E và carotenoid)

Giá trị dinh dưỡng của thức ăn giảm



@ Một số dấu hiệu khi ĐVTS sử dụng thức ăn có chứa chất

béo bị oxy hóa

-



Xuất huyết, lượng hồng cầu giảm và cá có triệu chứng

thiếu máu.

Trương bụng và phồng gan

Giảm ăn và FCR tăng cao

Sinh trưởng chậm

Mòn vây và teo cơ

Tăng tỉ lệ chết



Để tránh hiện tượng oxy hóa chất béo nên sử dụng chất kháng

oxy hóa. Các chất kháng oxy hóa như vitamin E, phenols, quinones,

tocopherols và gallic acid, ascorbic acid, citric acid. Tuy nhiên trong

thực tế sản xuất người ta thường dùng các chất kháng oxy hóa nhân

tạo như:

  BHT (Butylated Hydroxy Toluen):

200ppm

  BHA (Butylated Hydroxy Anisole):

200ppm

  Ethoxyquin

150 ppm



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Linolenic acid (Octadecatrienoic acid): 18: 3n-3hoặc 18:3D9,12,15

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×