Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Sơ đồ tác dụng của các enzyme lên sự tiêu hóa lipid (triglycerides)

Sơ đồ tác dụng của các enzyme lên sự tiêu hóa lipid (triglycerides)

Tải bản đầy đủ - 0trang

Teshima và Kazanawa (1983) cho biết tơm P. japonicus có khả

năng tiêu hóa 80% lipid từ thức ăn có hàm lượng lipid 8% với các

loại lipid: dầu động thực vật, palmitic acid, tripalmitin và lecithin từ

trứng. Triglycerol trong dầu đậu nành, dầu cá, dầu mực được tiêu

hóa dễ dàng 96,1- 98% đối với tôm sú giống (Merican và Shim,

1995). Tuy nhiên độ tiêu hóa giữa các nhóm acid béo cũng khác

nhau, khả năng tiêu hóa những lipid có hàm lượng acid béo no cao

thì kém hơn lipid hàm lượng acid béo khơng no mạch dài. Khả năng

tiêu hóa của mỗi loại acid béo chịu ảnh hưởng bởi hàm lượng acid

béo khác trong lipid (Harrison, 1990). Ở tơm sú, nhóm dầu cá biển

được tiêu hóa 91-100%, trong khi nhóm dầu đậu nành được tiêu hóa

78-95% và dầu cọ được tơm tiêu hóa kém nhất 63-93%.

Các thành phần khác trong thức ăn cũng ảnh hưởng đến độ

tiêu hóa lipid. Thức ăn có nhiều chất xơ sẽ làm giảm độ tiêu hóa,

hay lượng lipid trong thức ăn tăng lên quá cao và số lượng thức ăn

tăng lên có tác dụng giảm khả năng tiêu hóa của lipid. Ngồi ra

nhiệt độ có ảnh hưởng đến độ tiêu hóa của lipid.

4. NHU CẦU LIPID CỦA ĐỘNG VẬT THỦY SẢN



TOP



Nhu cầu lipid của động vật thủy sản được xác định dựa vào

nhu cầu về năng lượng, yêu cầu về acid béo cần thiết, nhu cầu về

phospholipid và cholesterol và đặc điểm sống và dự trữ lipid của

lồi. Tơm cá có nhu cầu năng lượng thấp hơn động vật trên cạn và

có thể sử dụng protein để làm năng lượng. Kết quả nghiên cứu về

nhu cầu lipid trong thức ăn cho giáp xác cho thấy tỷ lệ sống và sinh

trưởng của tôm đạt cao nhất là 5-8%. Đối với cá, hàm lượng lipid

thay đổi tùy theo loài, tuy nhiên mức đề nghị từ 6-10%.

Ngoài ra nhu cầu này phụ thuộc rất lớn vào hàm lượng và chất lượng protein,

hàm lượng và chất lượng của nguồn cung cấp năng lượng khác, và ngay cả chất

lượng của dầu. Tỉ lệ protein và lipid được đề nghị cho tôm cá là 6-7:1

Bảng 5.1. Mức sử dụng tối đa lipid trong thức ăn trên một số

loài cá

Giống loài

% lipid thức ăn

Giống lồi

% lipid thức ăn

Chép

12-15

Cá hồi

18-20

Rơ phi

< 10

13-18

Cá chẽm

Cá mú

7-10

13-14

Cá trơn Mỹ

Cá trê phi

Cá vền biển

7-10

12-15

Cá tra

Cá bơn

4-8

<15

Atlantic

Đối với tôm biển thì nguồn dầu cá biển, dầu mực, dầu nhuyễn

thể sẽ tốt hơn là nguồn dầu bắp, dầu đậu nành. Đối với tôm P.



japonicus tốc độ sinh trưởng sẽ gia tăng khi bổ sung 4% dầu cá trích

hay dầu hầu (Guary và ctv, 1976), trong khi đó ở tơm P. serratus là

4% dầu cá tuyết (Martin, 1980). Khi hàm lượng lipid quá cao làm

ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của tôm, (D’Abrano, 1997) cho biết

có mối tương quan chặt giữa hàm lượng lipid trong thức ăn và lipid

trong ruột, khi hàm lượng lipid trong thức ăn quá cao, dẫn tới hàm

lượng lipid trong ruột tăng và làm giảm khả năng trao đổi chất của

giáp xác, từ đó ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng.

Bảng 5.2: Nhu cầu lipid của một số lồi tơm cá

Lồi



Nguồn lipid



Homarus

americanus

Procambar

us acutus



Dầu gan cá



Mức lipid



Mức

nhất

10, 5%



tốt Tác giả



1, 5,

15

Dầu cá

0,3, 6, 9,

9% hoặc

12, 15

mức lipid

cao hơn

Dầu gan cá 3, 6, 9, 12 6%

He Nhật bản

+ Dầu đậu

nành

Tôm

càng Dầu gan cá 0, 2, 4, 6, 6%

xanh

và dầu bắp 8, 10, 12

(1:1)

Dầu

mực, 6-7.5

Tôm sú

dầu cá



Castell



Covey (1975)

Davis



Robinson

(1986)

Deshimaru

và ctv (1979)

Sheen và D’

Abramo

(1991)

Abramo

(1997)



5. ACID BÉO (FATTY ACID)

Sự khác biệt giữa các loại lipid là thành phần và tỉ lệ các acid béo.Trong tự

nhiên có khoảng hơn 100 acid béo, các acid béo khác nhau về độ dài và mức độ

không no. Acid béo tồn tại rất ít ở trạng thái tự do hoặc izonized gọi là acylate, còn

lại phần lớn là trạng thái ester hóa như kết hợp của các loại lipid.

5.1 Cách gọi rút gọn của acid béo:



TOP



Chỉ số đầu tiên biểu thị số lượng carbon trong chuỗi

acid béo

Chỉ số thứ hai chỉ số lượng nối đôi trong chuỗi acid

béo

Chỉ số thứ ba, sau n hoặc  cho biết vị trí đầu tiên

của nối đôi kể từ gốc methyl (CH 3), đây là điểm khác biệt ở dinh

dưỡng ĐVTS. Trong sinh hóa và các nhà dinh dưỡng động vật thì vị

trí nối đơi bắt đầu từ gốc carboxylic (COOH).



Ví dụ:

Oleic acid (Octadecenoic acid): 18: 1n –9 hoặc 18:19

CH3-(CH2)7-(CH= CH)-(CH2)7-COOH

Linoleic acid (Octadecadienoic acid): 18:2n-6 hoặc 18:29,12

CH3-(CH2)4-(CH-CH)-CH2-(CH= CH)-(CH2)7-COOH

Linolenic acid (Octadecatrienoic acid): 18: 3n-3hoặc 18:39,12,15

CH3-CH2-CH= CH-CH2-CH= CH-CH2-CH= CH-(CH2)7-COOH

Bảng 5.3: Một số acid béo thông thường trên động vật thuỷ sản

St

t

01

02

03

04

05

06

07

08



Tên

gọi Tên thông thường

nhanh

14:0

Myristic

16:0

Palmitic

18:0

Stearic

18:1n-9

Oleic

18:2n-6

Linoleic

18:3n-3

Linolenic

20:4n-6

Arachidonic (AA)

20:5n-3

Eicosapentaenoic

(EPA)

09 22:6n-3

Docosahexenoic

(DHA)



Tên qui ước quốc tế

Tetradecanonic

Hexadecanoic

Octadecenoic

Cis-9-octadecenoic

9,12-octadecadienoic

9,12,15-octadecatrienoic

5,8,11,14-eicosatetraenoic

5,8,11,14,17eicosapentaenoic

4,7,10,13,16,19docosahexenoic



Dựa vào vị trí nối đơi đầu tiên so với gốc methyl, các acid béo

được xếp vào các họ:

Palmitoleic acid (n7) :16:1n7; 18:1n7.

Oleic acid (n9)

: 18:1n9; 20:1n9.

Linoleic acid (n6)

: 18:2n6; 18:3n6; 20:3n6; 20:4n6; 22:4n6.

Linolenic acid (n3) : 18:3n3; 20:5n3; 22:5n3; 22:6n3.

5.2. Thành phần acid béo trong sinh vật thủy sinh:



TOP



Là các acid béo mạch dài gồm từ 4-24 carbon và một nhóm

carboxyl. Đối với động vật thủy sinh hầu hết các acid béo chứa đựng

từ 12-22 carbon dạng mạch thẳng. Khác với động vật trên cạn, lipid

của động vật thủy sản chứa nhiều các acid béo cao phân tử khơng

no, đặc biệt là nhóm n-3, n-6. Những linoleic acid (n-6) và linolenic

acid (n-3), tức là nhóm acid béo khơng no có mạch carbon dài từ

18C trở lên và có ít nhất 2 nối đơi

được gọi tên là PUFA

(polyunsaturated fatty acid) và những acid béo có chuỗi carbon dài



từ 20 carbon trở lên và có ít nhất 3 nối đôi như 20:3n-3; 22:4n-3;

20:2n-6; 22:3n-6 được gọi tên là HUFA (highly unsturated fatty

acid). Những HUFA và PUFA hiện diện rất phổ biến và phong phú

trong chuỗi thức ăn thủy vực

5.3. Sinh tổng hợp acid béo của động vật thủy sản



TOP



Động vật thủy sản có khả năng sinh tổng hợp một số acid béo

như các acid béo không no từ acetate, acid beo không no thành acid

béo không no một nối đôi. Tuy nhiên khác với thực vật động vật

thủy sản khơng có khả năng tăng số nối đơi về phía gốc methyl

(CH3) mà chỉ có thể cộng về phía gốc COOH, vì vậy các acid béo

khơng bảo hòa không thể được tổng hợp nếu thiếu tiền chất trong

thức ăn. Lý do là động vật thủy sản thiếu enzym desaturated.

Ví dụ:

Thực vật:



Động vật thủy sản:



Các thử nghiệm chứng tỏ trên cá, linolenic acid (18:3n-3) và linoleic

acid (18:2n-6) rất quan trọng và là tiền chất cho sự tổng hợp các

acid béo khác thuộc họ n3 và n6. Từ hai tiền chất 18:2n6 và 18:3n3

cá có thể sinh tổng hợp một loạt các acid béo họ n3 và n6 bằng

cách mỗi lần kéo dài thêm hai đơn vị carbon hay tăng số nối đơi lên

nhịp CH= CH-CH2-CH= CH về phía đầu carboxyl. Như vậy, có thể kết

luận trên cá và các động vật thủy sản linolenic acid và linoleic acid

là hai acid béo thiết yếu.

Một vài nghiên cứu cho thấy khả năng sinh tổng hợp acid béo

của giáp xác là yếu. Kanazawa và ctv (1979) đã nghiên cứu và

khám phá ra rằng P. japonicus có thể chuyển đổi 16:0 thành một

acid béo khơng no khác hoặc là acid béo có một nối đơi. Tuy nhiên,

rất ít hoặc khơng tìm thấy loại acid béo no 16:0 được đánh dấu

trong 18:2n-6, 18:3n-3, 20:5n-3 và 22:2n-6. Một vài nghiên cứu

khác cho biết giáp xác rất ít hoặc khơng có thể tổng hợp n-3 và n-6

HUFA từ n-6 và n-3 PUFA. Theo Read (1981), tôm P. indicus khả năng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Sơ đồ tác dụng của các enzyme lên sự tiêu hóa lipid (triglycerides)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×