Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

chùy ở đầu cành hoặc kẽ lá. Cụm hoa hình chùy ở ngọn dài 15~20cm. Hoa màu

đỏ dài 15mm, xếp rất sít nhau. Quả dẹt, màu đỏ nâu dài 12cm, có 36 hạt. Quả

loại đậu, dẹt thường có một hạt màu nâu. Chặt cây có nhựa màu đỏ chảy ra như

máu.

1.1.4.Phân bố, sinh thái

Loài phân bố ở Ấn Độ, Mianma, Camphuchia, Lào và Việt Nam. Ở nước

ta, cây mọc ở bờ sơng, trong các rừng thưa trên đất granít hay bazan tới độ cao

dưới 800m, ở một số tỉnh như Hà Giang tới Quảng Nam - Đà Nắng, Đắc Lắc,

Bình Thuận, Đồng Nai, An Giang.

Nhiều năm trước, cây thường được khai thác ở các tỉnh Hòa Bình, Hà Tây

(cũ), Lạng Sơn, Cao Bằng và một số tỉnh vùng núi khác. Gần đây, kê huyết đằng

ở huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị bị khai thác triệt để trong vòng 3 tháng trở

lại đây với giá thu mua rất rẻ chỉ 3000đồng/ kg.

Cây huyết rồng lào ( kê huyết đằng) thường mọc hoang trên núi, là loại

cây dây leo nên chúng thường mọc dựa vào các thân cây to khác. Rễ hay dây

đều có thể tùy nghi sử dụng và có thể thu hái quanh năm, nhưng tốt nhất là vào

tháng 8-10, chặt tồn cây, phơi khơ, cắt bỏ lá và cành, có nơi cắt thành từng

đoạn ngắn hay miếng mỏng rồi mới phơi hoặc đem sấy khô. Theo Đông y, kê

huyết đằng có vị đắng, chát, hơi ngọt, tính ẩm khơng độc, có tác dụng bổ khí

huyết, thơng kinh lạc, mạnh gân xương, điều hòa kinh nguyệt, đau mình mẩy,

phong thấp đau lưng, đau xương khớp, chấn thương tụ máu, kinh nguyệt không

đều, thống kinh.

Ở các tỉnh của Trung Quốc như Triết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông,

Quảng Tây, Vân Nam, kê huyết đằng mọc dây thân gỗ quanh năm và quấn

quanh các thân cây khác. Nở hoa vào tháng 8 hàng năm, hoa nở giống như hoa

đậu dài, tán hoa có màu hoa hồng rất đẹp. Bề ngồi của cây khơng có vẻ gì thu

hút sự chú ý nhưng khi chặt thân cây, phần thân gỗ của cây xuất hiện màu nâu

đỏ nhạt, sau dần chuyển sang màu đỏ tươi giống màu máu gà. Sau khi kết đông

kết thành những chấm dạng sợi keo, màu đỏ sáng dần chuyển sang màu đen.

1.1.5.Bộ phận thu hái, sơ chế

Thu Hái, Sơ Chế:Thu hái quanh năm, tốt nhất vào tháng 8~10. Chặt cây

về, cắt bỏ cành lá, Chọn thứ to, chắc.

Bộ Phận Dùng:Dây vỏ mịn vàng. Khi tươi, cắt ngang có nước nhựa đỏ

như máu chảy ra. Khi khơ, tiết diện có nhiều vòng đen do nhựa khô lại.

6



Bào Chế: Rửa sạch, thái phiến, dùng sống (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Chọn thứ dây lớn và bé để riêng, ngâm thứ lớn độ 3 ngày, thứ bé ngâm 1~2 giờ

cho mềm, thái lát dày 2 ly, phơi khô.

Bảo Quản:Dễ mốc, cần để nơi khô ráo, mát, mùa mưa nên phơi sấy

thường xuyên.

1.2.Thành phần hóa học

+ Trong Kê huyết đằng có Milletol ((Trung Dược Học).

+ Trong rễ, vỏ và hạt có Glucozit, Tannin, chất nhựa (Dược Liệu Việt

Nam).



+ Friedelan-3-Alpha-Ol, Daucosterol, Beta Sitosterol, 7-Oxo-BetaSitosterol, Formononetin, Ononin,Prunetin, Afrormosin, Daidzein, 3,7Dihydroxy-6-methoxy-dihydroflavonol, Epicatechin, Isoliquiritigenin, 2’, 4’, 3,

4-tetrahydroxy chalcone, Licochalcone, Medicagol, Protocatechuic acid, 9Methoxycoumestrol, Cajanin (Lâm Thành, Trung Thảo Dược 1989, 20 (2): 53).

+Trong rễ có: Stigmast-5-ene-3 Beta-7 Alpha-Diol), 5 Alpha-Stigmastane3 Beta, 6 Alpha-Diol (Fukuyama Y và cộng sự, Planta Med, 1988, 54 (1): 34).

1.3.Tác dụng, cơng dụng

1.3.1.Tác dụng dược lí

Theo Đơng y: Kê huyết đằng có vị ngọt, tính ấm, vào 3 y Can, Tâm,

Thận,có tác dụng bổ huyết hoạt huyết thư cân thông lạc. Chủ trị bần huyết

( thiếu máu), phụ nữ kinh nguyệt khơng điều hòa, bế kinh, phong tê thấp khớp

xương đau nhức, chân tay tê dại. Những năm gần đây còn được sử dụng để điều

trị chứng giảm bạch cầu do xạ trị.

Kê đằng huyết còn có tính năng đặc biệt là bổ huyết mà khơng gây nề trệ,

hành huyết mà không phá huyết ( xúc tiến tuần hồn máu nhưng khơng q

mạnh), thích hợp với những người huyết hư kèm theo ứ trệ. Có điều, tác dụng bổ

huyết của kê huyết đằng tương đối yếu, nên khi dùng làm thuốc bổ huyết thường

kết hợp với bài “Tứ vật thang”. Tác dụng thư cân hoạt lạc của kê huyết đằng

tương đối mạnh, nên là thuốc thường dùng chữa phong thấp khớp xương đau

7



nhức, lưng gối đau mỏi, gân cốt tê dại. Với những người huyết vốn hư lại mắc

các chứng đau nhức nói trên là càng thích hợp.

Theo Trung dược học:

Tác Dụng Lên Tim Mạch: nước sắc Kê huyết đằng ức chế tim ếch và làm

hạ huyết áp nơi chó và thỏ bị gây tê khi gây co mạch trong tĩnh mạch ở tai thỏ.

Tác Dụng Kháng Viêm: Cho uống cồn thuốc Kê huyết đằng thấy có hiệu

qủa tốt trên chuột: làm giảm viêm khớp gây ra bởi Formadehyde.

Tác Dụng Lên Hệ Thần Kinh Trung Ương: Tiêm Kê huyết đằng vào màng

bụng chuột thấy có tác dụng giảm đau và an thần.

Tác Dụng Trên Sự Chuyển Hóa Phosphate: thí nghiệm Kê huyết đằng trên

chuột nhắt thấy tăng chuyển hóa Phosphate trong thận và tử cung.

Theo Đơng Dược Học Thiết Yếu:Vị thuốc này là một trong các vị thuốc

thuộc loài dây ( đằng), sức hành huyết mạnh hơn bổ huyết. Khi chặt đứt đoạn

dây, nước cốt chảy ra đỏ như máu, lấy nước đó nấu thành cao gọi là Kê Huyết

Đằng Giao, sức bổ huyết mạnh hơn hoạt huyết Bổ huyết hoạt huyết có Đương

quy, Đan sâm, Kê huyết đằng. Đương quy là thuốc chủ yếu chữa về huyết, cũng

là thuốc khí trong huyết, sức bổ huyết mạnh hơn hoạt huyết, hơn nữa, Đương

quy tính ơn, thích hợp với người phần huyết thiên về hàn. Đan sâm thì khứ ứ

mạnh hơn bổ huyết, tính hàn, hợp với người phần huyết thiên về ơn. Kê huyết

đằng có thể hoạt huyết thông lạc, đi thẳng đến kinh lạc, bổ huyết bất túc trong

kinh lạc.

Theo Dược Liệu Việt Nam: “ Kê huyết đằng và Huyết đằng ở Việt Nam

hiện chưa được xác định chắc chắn, thuộc vào mấy loại. Nhân dân chỉ mới căn

cứ vào khi chặt cây thấy có những đám màu đỏ giống như máu thì lấy về dùng.

Hiện nay được khai thác nhiều ở Hà Sơn bình, Cao lạng và 1 số tỉnh miền núi

khác”.

1.3.2.Công dụng và cách dùng

Theo y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian, kê huyết đằng có vị đắng, chát,

hơi ngọt, tính ẩm khơng độc, có tác dụng bổ khí huyết, thơng kinh lạc, mạnh gân

xương, điều hòa kinh nguyệt, thường dùng trong những trường hợp sau



8



1.3.2.1.Chữa thiếu máu, hư lao

Kê huyết đằng 200-300g, tán nhỏ, ngâm với 1 lít rượu trong 7 -10 ngày.

Ngày uống 2 lần, mỗi lần 25ml. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác

như thục địa, đan sâm, hà thủ ô (liều lượng bằng nhau). Có thể dùng cao đặc cơ

từ nhựa, mỗi ngày uống 2 - 4g, pha với ít rượu.

1.3.2.2.Chữa tê thấp, nhức mỏi gân xương

Cách 1: Kê huyết đằng 12g, cây mua núi 12g, rễ gối hạc 12g, rễ phòng kỷ

10g, vỏ thân ngũ gia bì chân chim 10g, dây đau xương 10g. Tất cả thái nhỏ, phơi

khô, ngâm rượu uống. Ngày 50ml chia làm 2 lần.

Cách 2: Kê huyết đằng, độc hoạt, dây đau xương, thiên niên kiện, phòng

kỷ, rễ bưởi bung, chân chim, gai tầm xọng, cỏ xước, xấu hổ, quế chi, núc nác,

mỗi vị 4-6g, sắc hoặc nấu cao thêm đường uống.

1.3.2.3.Chữa đau dây thần kinh hông

Cách 1: Kê huyết đằng 20g, ngưu tất 12g, hồng hoa 12g, đào nhân 12g,

nghệ vàng 12g, nhọ nồi 10g, cam thảo 4g. Sắc với 400ml nước còn 100ml, uống

làm 2 lần trong ngày.

Cách 2: Kê huyết đằng 20g, dây đau xương 20g, ngưu tất 20g, cẩu tích

20g, cốt tối bổ 12g, ba kích 12g, thiên niên kiện 8g, cốt khỉ củ 8g. Sắc uống

ngày 1 tháng.

1.3.2.4.Chữa đau lưng

Kê huyết đằng 16g, rễ trinh nữ 16g, tỳ giải 16g, ý dĩ 16g, cỏ xước 12g,

quế chi 8g, rễ lá lốt 8g, thiên niên kiện 8g, trần bì 6g. Sắc uống.

1.3.2.5.Chữa đau các khớp tứ chi

Kê huyết đằng, ngũ gia bì hương, độc hoạt, uy linh tiên, tang chi mỗi vị

10 -12g. Sắc uống trong ngày.

1.3.2.6.Chữa viêm khớp dạng thấp

Kê huyết đằng, hy thiêm, thổ phục linh, rễ vòi voi mỗi vị 16g; ngưu tất,

sinh địa mỗi vị 12g; nam độc lực, rễ cà gai leo, rễ cây cúc ảo, huyết dụ mỗi vị

10g. Sắc uống ngày 1 thang.

1.3.2.7.Chữa kinh nguyệt không đều

Cách 1:Kê huyết đằng 10g, tô mộc 5g, nghệ vàng 4g. Tất cả thái nhỏ,

phơi khô, sắc uống làm một lần trong ngày. Phụ nữ có thai khơng được dùng.

Cách 2: Kê huyết đằng 16g, ích mẫu 16g, sinh địa 12g, nghệ 8g, xuyên

khung 8g, đào nhân 8g. Sắc uống trong ngày.

9



1.4.Tiêu chuẩn cơ sở của cây giống gốc Huyết rồng lào theo quy phạm kỹ

thuật xây dựng rừng giống và vườn gốc (QPN 15-93).

Hom thân rễ huyết rồng lào là cây giống sinh dưỡng được tuyển chọn từ

những dòng có năng suất cao có nguồn gốc trong tự nhiên. Ở Việt Nam huyết

rồng lào mọc hoang tại vùng núi các tỉnh Hòa Bình, Lạng Sơn, Thanh Hóa,

Nghệ An, Quảng Trị. Cây mọc tốt ở hầu hết các dạng đất, ở nơi có lượng mưa từ

1.500-2.000 mm/năm. Mọc tốt trên đất có độ PH từ 3-7, phân bố từ độ cao 800m

so với mực nước biển.

Cây dây leo, thân gỗ, khi chặt thân cây có dịch đỏ như màu máu chảy ra.

Thân cây được sử dụng để làm nguyên liệu làm thuốc.

1.4.1. Điều kiện gây trồng

Lượng mưa trung bình trên 1.000mm, tối thích 1.600mm, số tháng mưa

bình qn: 4 tháng, tối thích: 6 tháng.

Đất đai: Chủ yếu trồng trên loại đất feralit, tầng dầy tối thiểu 35cm, tối

ưu: 40 – 50 cm. Đất phù sa cổ, đất xám bạc màu, đất phèn lên luống khơng bị

ngập nước đều có thể trồng được.

1.4.2. Cây con giống

* Nguồn gốc xuất xứ, cơ sở pháp lý:

Huyết rồng lào được lấy từ rừng quốc gia Pù Mát, vườn quốc gia Hoàng

Liên Sơn,…

* Vườn vật liệu giống gốc:

Huyết rồng lào được trồng giá thể trong vườn thí nghiệm. Sau đó đem

trồng thành vườn vật liệu giống gốc hay còn gọi là vườn ươm. Vườn vật liệu

giống gốc chỉ được lấy cành hom từ 2-3 năm sau đó phải trồng thay thế bằng

cây giống mới.

*Tiêu chuẩn bầu và cây con :

+ Cành hom được cắt từ vườn vật liệu và giâm trong túi bầu PE

(polyetylen ), có đường kính thơng thường là 7 cm, chiều cao là 12 cm, được cắt

hai bên góc để thốt nước.

+ Hỗn hợp ruột bầu gồm các chất: Đất mùn, phân chuồng, phân lân, tro

trộn đều.

+ Tuổi cây con: 4 - 5 tháng.

+ Đường kính cổ rễ: 0.5 - 2,2 cm.

10



+ Chiều cao: 20 - 55 cm.

+ Cây sinh trưởng tốt, không sâu bệnh.

- Chú ý:

+ Cây con trước khi xuất nên tưới đủ ẩm. Khi bốc xếp vận chuyển phải

nhẹ nhàng, tránh làm vỡ bầu, gãy ngọn làm tổn thương đến cây con, cần loại bỏ

những cây không đạt tiêu chuẩn ngay tại vườn (ốm yếu, kém phẩm chất, cây sâu

bệnh ).

+ Khi chuyển đến nơi trồng rừng nếu không trồng hết trong ngày phải

được đưa xuống đất, xếp thành luống ngay ngắn, tưới nước chăm sóc.

1.4.3.Thiết kế và trồng ngồi vườn rừng

* Đất thiết kế trồng ngoài vườn rừng:

Là đất lâm nghiệp dùng để trồng rừng sản xuất hoặc rừng phòng hộ phù

hợp với cây. Trồng xung quanh các cây lâu năm để lấy chỗ bám cho thân Huyết

rồng lào.

* Chuẩn bị đất trồng rừng:

- Đất đồi núi nơi có độ dốc cao khơng thể làm cơ giới được thì phát dọn

tồn bộ thực bì bằng biện pháp thủ cơng và gom đống đốt có kiểm sốt.

- Đào hố trồng xung quanh các cây lâu năm.

*Thiết kế hệ thống đường băng cản lửa:

Dùng để ngăn cách lửa giữa các lô của rừng trồng kết hợp làm đường vận

chuyển, vận xuất phục vụ cho cơng tác trồng, chăm sóc và khai thác,…

- Tận dụng triệt để hệ thống sông, suối, đường giao thơng làm đường ranh

cản lửa.

- Tùy theo địa hình bằng phẳng hay đồi núi, điều kiện chăm sóc cơ giới

hay thủ công, lực lượng quản lý bảo vệ rừng mà thiết kế cự ly giữa các băng cản

lửa.

* Mật độ thiết kế:

Thiết kế trồng rừng với cự ly hàng trồng theo cây tự nhiên; cây huyết rồng

cách cây tự nhiên có thể là 50 cm hoặc 70 cm. Tương ứng với các mật độ trồng

là :

+ Mật độ: 2000 cây/ha (cự ly cây 50 cm đến 70 cm )



11



*Đào hố trồng:

Hố phải được đào trước khi chuyển cây Huyết rồng lào từ vườn ươm ra

trồng ngoài vườn rừng, cự ly đúng theo thiết kế

Phân bón: phân được trộn đều dưới đáy hố với lớp đất mặt, sau đó phủ

thêm một lớp để khi trồng rễ cây không tiếp xúc trực tiếp với phân.

* Thời vụ trồng rừng:

- Trồng vào đầu mùa mưa: Tháng 9 đến tháng 10 hàng năm theo điều kiện

khí hậu của địa điểm trồng.

- Phải kết thúc trước mùa mưa chính 1,5 -2 tháng, khơng được trồng vào

cuối mùa mưa chính.

* Kỹ thuật trồng:

- Trước khi bỏ cây xuống hố cần phải xé tuí bầu. Chú ý: cẩn thận không

được làm vỡ bầu sẽ làm ảnh hưởng đến bộ rễ của cây con.

- Đất trong hố được trộn đều và lấp bổ sung cho đầy, đặt cây con vào giữa

hố, để mặt bầu thấp hơn miệng hố 3-4cm, giữ cây thẳng đứng sau đó lấp đất,

dùng tay ấn chặt lớp đất mặt vào gốc cây.

1.4.4. Chăm sóc ni dưỡng, bảo vệ cây Huyết rồng lào ngồi vườn rừng

* Chăm sóc rừng trồng:

- Sau khi trồng 1 tuần đến 10 ngày, tiến hành kiểm tra phát hiện cây chết

để trồng dặm kịp thời.

- Một tháng sau khi trồng phải tiến hành dãy cỏ theo hàng cây, kết hợp

vun gốc với bón phân. Vun gốc theo dạng hình nón ( đường kính 50-60cm; cao

20cm). Cuối mùa mưa tiến hành phát dọn cỏ theo hàng, chặt bỏ dây leo, cây bụi,

tiến hành đốt cỏ và lá rụng vào ban đêm lúc có sương xuống, trời lặng gió để

hạn chế ngọn lửa.

- Năm thứ hai tiếp tục dãy cỏ theo hàng, cuốc hố hai bên gốc bón phân

khoảng 1-2 lần vào đầu và cuối mùa mưa. Cũng tiến hành cày chăm sóc hoặc

phát dọn thủ cơng như năm thứ nhất.

- Các năm tiếp theo vào mùa mưa tùy theo lượng thực bì mà tiến hành

chăm sóc từ 1 đến 2 lần: Phát cỏ, chặt bỏ dây leo, cây bụi, cày chăm sóc phòng

chống cháy rừng.



12



* Bảo vệ, phòng chống cháy rừng

- Tuyên truyền ý thức bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng cho người dân

xung quanh khu rừng.

- Nơi không thể cơ giới được thì phát dọn bằng biện pháp thủ cơng, gom

đống thực bì và lá rụng thành những đống nhỏ, cách xa nhau và đốt có kiểm

sốt.

- Thường xun bảo dưỡng đường băng cản lửa, cào và đốt sạch thực bì,

lá rụng trên các băng cách lửa để thuận tiện cho việc đi lại trong việc quản lý

bảo vệ, phòng chống cháy rừng.

- Xây dựng chòi canh lửa rừng và phân công người trực thường xuyên để

kịp thời phát hiện và ngăn chặn các vụ cháy rừng.

- Quan hệ mật thiết với chính quyền địa phương trong việc quản lý bảo vệ

rừng và phòng chống cháy rừng. Đơn vị quản lý rừng phải chuẩn bị đầy đủ

những trang thiết bị dụng cụ, nhân lực cần thiết phòng khi có cháy rừng thì kịp

thời dập tắt.

Huyết rồng lào giâm hom là sản phẩm của quá trình nghiên cứu khoa học

chọn giống cây thuốc, các cây huyết rồng lào đầu dòng được tiến hành ni cấy

mơ để duy trì nguồn gien tốt, có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt.



13



II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nội dung nghiên cứu

- Xác định chiều cao của cây giống

- Xác định đường kính cây giống

- Xác định đặc điểm bộ lá

- Xác định đặc điểm bộ rễ

- Xác định tiêu chuẩn cây giống gốc

2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: Vườn quốc gia Pù Mát - Nghệ An

- Thời gian: 2013-2014

2.3. Phương pháp nghiên cứu

- Khảo sát thực tế bằng các phiếu theo dõi với các thiết bị đo:

+ Thước dây

+ Thước Panme



14



PHẦN III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1.Xác định chiều cao cây giống

Thân cây trồng nói chung và cây Huyết rồng lào nói riêng là bộ phận nâng

đỡ tồn cây. Thân là nơi trung gian vận chuyển các dòng nhựa nguyên và nhựa

luyện trong cây. Việc nghiên cứu xác định chiều cao của cây giống không chỉ

đơn thuần cho ta biết khả năng sinh trưởng phát triển của cây mà còn phản ánh

một số đặc điểm nơng sinh học khác của cây như: khả năng chống đổ, số lá trên

cây, số cành, …

Bảng 3.1. Chiều cao cây giống gốc Huyết rồng lào theo độ tuổi

Tuổi cây

giống gốc



Số lượng

(cây)



Chiều cao cây

TB±SE(m)



Min - Max



Tuổi 5



30



15 ±0,45



13,35 – 16,75



Tuổi 6



30



17,5±0,65



15,25 – 18,23



Tuổi 7



30



18±0,35



17,12 – 19,42



3.2. Xác định đường kính thân

Đường kính thân: đường kính được đo trên thân cây trồng cách cổ rễ

15cm, nếu tại điểm 15cm đường kính thân lớn hơn 10cm thì đo ở điểm 30cm

tính từ cổ rễ theo tiêu chuẩn vườn ươm của Mỹ năm 2004.Đường kính thân cây

giá được theo dõi bằng cách dùng thước palme. Tiến hành đo đường kính thân

giống gốc Huyết rồng lào cho kết quả như bảng sau:

Bảng 3.2. Đường kính cây giống gốc Huyết rồng lào theo độ tuổi

Tuổi cây

giống gốc



Số lượng

(cây)



Đường kính cây

TB±SE

(cm)



Min – Max



Tuổi 5



30



2,95± 0,52



2,36 – 3,23



Tuổi 6



30



3,55±0,32



3,39 – 3,88



Tuổi 7



30



4,60±0.28



4,25 – 4,82



15



Hình 1. Hình ảnh đường kính thân cây giống gốc Huyết rồng lào

3.3.Xác định đặc điểm bộ lá

Để đánh giá về giống người ta thường chú ý đến bộ lá của giống và để kết

luận giống có bộ lá tốt thì sự đánh giá đó được thơng qua đặc điểm của hệ lá.

Những nghiên cứu trước đây cho ta thấy được sự tương quan chặt chẽ giữa kích

thước hệ lá và sự tích lũy chất khơ. Khi diện tích lá tăng nhanh thì sự tăng

trưởng phát triển cũng tăng nhanh và khả năng tích lũy chất khơ cũng lớn. Từ đó

cho ta thấy được sự quang hợp của cây giống. Sự quan tâm về kích thước của lá

nhằm dự báo về năng suất của cây giống. Mặt khác kích thước của hệ lá ln

biến đổi theo điều kiện thời tiết, từng thời kì và chế độ dinh dưỡng khác nhau.

Để đánh giá về hệ lá, chúng tôi tiến hành đo chiều dài và chiều rộng lá cho kết

quả như bảng sau:

Bảng 3.3. Chiều dài và đường kính lá của cây giống gốc Huyết rồng lào theo độ

tuổi

Tuổi cây

giống

gốc



Số

Chiều dài lá

lượng

TB±SE

(cây)

(cm)



Min – Max



Chiều rộng

lá TB±SE

(cm)



Min – Max



Tuổi 5



30



14,74 ± 0,35



13,09 - 15,23



7,55 ± 0,35



6,81 - 7,98



Tuổi 6



30



15,44 ± 0,45



14,2 - 16,02



8,00 ± 0,71



7,79 - 8,87



Tuổi 7



30



15,55 ± 0,28



14,8 – 16,12



8,20 ± 0,45



7,34 - 9,21



Ngoài ra, để đánh giá về hệ thống lá người ta cũng chú ý đến cuống lá và

để kết luận giống có bộ lá tốt thì sự đánh giá đó được thơng qua đặc điểm chiều

16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×