Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phân tích quy định pháp luật về hồ sơ và quy trình đề nghị hưởng trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc của NKT

Phân tích quy định pháp luật về hồ sơ và quy trình đề nghị hưởng trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc của NKT

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đối tượng được hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng bao gồm:

- Gia đình có người khuyết tật đặc biệt nặng đang trực tiếp ni dưỡng, chăm

sóc người đó;

- Người nhận ni dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng;

- Người khuyết tật quy định tại khoản 1 Điều này đang mang thai hoặc nuôi

con dưới 36 tháng tuổi.

Để được hưởng trợ cấp, hỗ trợ hàng tháng đối tượng phải đảm bảo thủ tục

với quy định về hồ sơ, trình tự xin hưởng trợ cấp, hỗ trợ.

Về hồ sơ đề nghị trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng được

quy định tại Điều 20 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP về quy định chi tiết và hướng

dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật, theo đó:

Hồ sơ đề nghị trợ cấp xã hội bao gồm: tờ khai thông tin của người khuyết tật

theo mẫu quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; bản sao Giấy xác

nhận khuyết tật; bản sao Sổ hộ khẩu; bản sao Giấy khai sinh hoặc chứng minh

nhân dân; bản sao Quyết định của cơ sở chăm sóc người khuyết tật về việc

chuyển người khuyết tật về gia đình đối với trường hợp đang sống trong cơ sở

bảo trợ xã hội; giấy xác nhận đang mang thai của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

có thẩm quyền theo quy định của Bộ Y tế, bản sao Giấy khai sinh của con đang

nuôi dưới 36 tháng tuổi đối với trường hợp đang mang thai, nuôi con dưới 36

tháng tuổi.

Hồ sơ đề nghị hỗ trợ kinh phí chăm sóc đối với gia đình có người khuyết tật

đặc biệt nặng bao gồm: tờ khai thơng tin hộ gia đình theo mẫu quy định của Bộ

Lao động - Thương binh và Xã hội; bản sao Giấy xác nhận khuyết tật; bản sao

Sổ hộ khẩu; tờ khai thông tin của người khuyết tật theo mẫu quy định của Bộ

Lao động - Thương binh và Xã hội đối với trường hợp người khuyết tật chưa

được hưởng trợ cấp xã hội hoặc bản sao Quyết định hưởng trợ cấp xã hội của

người khuyết tật đối với trường hợp người khuyết tật đang hưởng trợ cấp xã hội.



7



Hồ sơ đề nghị hỗ trợ kinh phí chăm sóc đối với người nhận ni dưỡng,

chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng bao gồm: đơn của người nhận ni

dưỡng, chăm sóc người khuyết tật có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường,

thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) về đủ điều kiện nhận ni dưỡng, chăm

sóc theo quy định tại Điều 19 Nghị định 28/2012/NĐ-CP; tờ khai thông tin

người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc theo mẫu quy định của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội; bản sao Sổ hộ khẩu và chứng minh nhân dân của người

nhận ni dưỡng, chăm sóc; tờ khai thông tin của người khuyết tật theo mẫu quy

định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; bản sao Sổ hộ khẩu của hộ gia

đình người khuyết tật, nếu có; bản sao Giấy xác nhận khuyết tật; bản sao Quyết

định trợ cấp xã hội hàng tháng của người khuyết tật đối với trường hợp người

khuyết tật đang hưởng trợ cấp xã hội.

Hồ sơ hỗ trợ kinh phí chăm sóc đối với người khuyết tật đang mang thai

hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi theo quy định như sau: trường hợp người

khuyết tật chưa được hưởng trợ cấp xã hội, hồ sơ theo quy định tại Khoản 1

Điều 20 Nghị định 28/2012/NĐ-CP; trường hợp người khuyết tật đang hưởng

trợ cấp xã hội hàng tháng, hồ sơ bao gồm: Bản sao Quyết định hưởng trợ cấp xã

hội hàng tháng; Giấy xác nhận đang mang thai của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

có thẩm quyền theo quy định của Bộ Y tế, bản sao Giấy khai sinh của con dưới

36 tháng tuổi.

Như vậy, có thể thấy các quy định pháp luật về hồ sơ đề nghị trợ cấp xã hội,

hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng rất rõ ràng, cụ thể, với mỗi đối tượng đều

có một quy định về hồ sơ khác nhau.

Về quy trình đề nghị hưởng trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng

tháng được quy định tại Khoản 1 Điều 21 Nghị định 28/2012/NĐ-CP, theo đó:

Thủ tục thực hiện trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc được quy định như

sau:



8



- Để được hưởng trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc thì người đề nghị trợ

cấp hoặc hỗ trợ kinh phí chăm sóc làm hồ sơ theo quy định tại Điều 20 Nghị

định 20/2012/NĐ-CP gửi Ủy ban nhân dân cấp xã;

- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Hội đồng xét duyệt

trợ cấp xã hội xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Hội đồng xét duyệt

trợ cấp xã hội) tổ chức họp, xét duyệt hồ sơ đối tượng và niêm yết công khai

kết luận tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và thông báo trên các phương tiện

thông tin đại chúng trong thời gian 07 ngày;

Khi hết thời gian niêm yết công khai, nếu không có ý kiến thắc mắc, khiếu

nại thì Hội đồng xét duyệt trợ cấp xã hội bổ sung biên bản họp Hội đồng xét

duyệt trợ cấp xã hội vào hồ sơ của đối tượng và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân

cấp xã có văn bản gửi Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội để xem xét, giải

quyết.

Trường hợp có khiếu nại, tố cáo của cơng dân thì trong thời hạn 10 ngày, Hội

đồng xét duyệt trợ cấp xã hội tiến hành xác minh, thẩm tra, kết luận cụ thể, cơng

khai trước nhân dân và có văn bản kết luận của Hội đồng xét duyệt trợ cấp xã

hội để bổ sung vào hồ sơ của đối tượng.

- Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày, nhận đủ hồ sơ đề nghị của Chủ

tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội có

trách nhiệm thẩm định, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã,

thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) quyết định hoặc có

thơng báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã về lý do không được trợ cấp xã hội

hoặc hỗ trợ kinh phí chăm sóc;

- Trong thời hạn 03 ngày làm việc, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có

trách nhiệm xem xét và ký Quyết định trợ cấp xã hội hoặc hỗ trợ kinh phí

chăm sóc.

Như vậy, các quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục hưởng trợ cấp của

người khuyết tật khá chặt chẽ. Thực tế hoàn cảnh sống cụ thể và những khó

khăn của người khuyết tật trong cuộc sống thể hiện rõ trong cộng đồng và điều

9



này cũng được chuyển tải trong thủ tục xét duyệt ở các cấp địa phương. Mặt

khác, vì là khoản trợ cấp có tính xã hội áp dụng đối với những đối tượng đặc

biệt khó khăn nên cũng có sự tác động lớn đến ý thức của bản thân và thân nhân

người thụ hưởng, nếu khơng thực sự khó khăn, không thực sự cần thiết họ cũng

không lạm dụng hoặc trục lợi khoản trợ cấp mang đầy ý nghĩa nhân đạo này.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, các quy định pháp luật về hồ sơ và quy trình đề nghị

hưởng trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc của người khuyết tật còn nhiều

hạn chế như trình tự lòng vòng làm cho nhiều người khuyết tật khơng nhận được

trợ cấp xã hội. Một ví dụ cụ thể: Gia đình anh Lù Trạng, 46 tuổi, NKT ở bản Cá,

phường Chiềng An (TP Sơn La, Sơn La). Năm 2010, anh Trạng bị tai biến do

bệnh packinson, không đi lại được. Không may cho hai đứa con sinh đôi của anh

là cháu Lù Bảo Kim và Lù Bảo Ngân, sinh năm 2004, cũng bị di chứng của bố,

chân tay co giật, nằm một chỗ, trông rất thương tâm. Hai cháu đã được cơng

nhận là người khuyết tật và được hưởng đúng chính sách chế độ. Riêng trường

hợp của anh Trạng vẫn chưa được hưởng chế độ gì. Vợ anh Trạng cho biết: Năm

2011, gia đình đã làm đơn, gửi phường nhưng khơng có hồi âm. Năm 2013, gia

đình lại tiếp tục làm đơn, hội đồng thẩm định của phường đã xác nhận anh là

NKT nặng, nhưng đến nay vẫn chưa được hưởng chính sách trợ cấp hằng tháng.

Cán bộ Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội TP Sơn La cho biết hồ sơ của

anh Lù Trạng vẫn còn nằm ở phường Chiềng An, nên thành phố chưa có cơ sở

cho hưởng chế độ. Anh Trạng nằm trong đợt rà soát, thẩm định lại mức độ

khuyết tật. Vậy là đến nay đã sáu năm, từ ngày anh bị tai biến thành người

khuyết tật, do thủ tục hồ sơ lòng vòng, đến nay anh Trạng vẫn chưa được hưởng

chính sách của Nhà nước.3

Để thực hiện tốt các quy định pháp luật về hồ sơ và quy trình đề nghị hưởng

trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc của người khuyết tật thì chính quyền địa

phương cần tun truyền rộng rãi các quy định pháp luật này tới mọi người dân

nhất là người khuyết tật để họ biết, hiểu rõ để thực hiện cho đúng, cho nhanh,

3 Đức Tuấn, Báo nhân dân, Bất cập trong thực hiện chính sách đối với người khuyết tật ở Sơn La, 2015.



10



đảm bảo được lợi ích của chính họ. Ngoài ra, cần hoàn thiện hơn các quy định

pháp luật về các quy định pháp luật về hồ sơ và quy trình đề nghị hưởng trợ cấp

xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc của người khuyết tật để người khuyết tật dễ

thực hiện hơn đảm bảo được lợi ích của những người khuyết tật.



C. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật người khuyết tật, NXB

CAND, năm 2011.

2. Luật người khuyết tật 2010.

3. Đức Tuấn, Báo nhân dân, Bất cập trong thực hiện chính sách đối với

người khuyết tật ở Sơn La, 2015.

4. http://vovworld.vn/vi-vn/Van-hoa-Xa-hoi-Doi-song/Giup-nguoi-khuyettat-tiep-can-va-su-dung-cac-cong-trinh-cong-cong/332209.vov

5. Báo điện tử Vnexpress.



11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phân tích quy định pháp luật về hồ sơ và quy trình đề nghị hưởng trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc của NKT

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×