Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 5:CÁC CỤM PHỤ TRỢ TRONG NHÀ MÁY

CHƯƠNG 5:CÁC CỤM PHỤ TRỢ TRONG NHÀ MÁY

Tải bản đầy đủ - 0trang

động lớp vật liệu lọc sẽ bị dơ, lúc đó chênh lệch áp suất ra vào sẽ tăng khoảng 1-3m H 2O.

Khi đó ta cần phải tái sinh lọc. Quá trình tái sinh kết thúc khi chênh lệch áp suất nhỏ hơn

0,1bar.

Có 2 cách tái sinh:

 Lấy nước sạch bình lọc này tái sinh bình lọc kia

 Lấy trực tiếp

5.1.2.3. Xử lý vi sinh

Nhằm tiêu diệt các vi sinh vật có hại cho con người. Để khử khuẩn ta dùng nước

Javel (Na2ClO) 0,5-4mg/l (thực tế là dùng khoảng 1,5lit/ngày/hồ)

5.1.3. Qui trình cơng nghệ

Tại A03 có 2 hồ nước dung tích khoảng 500m3/hồ dung để chứa nước từ giếng bơm

về sau khi đã xử lý độ PH và độ cứng ở các giếng. tại đây quá trình lắng sẽ xảy ra dưới tác

dụng trợ giúp của phèn, sau đó được bơm qua hệ thống các bình lọc và được khử trùng

trước khi đi vào tuyến ống phân phối đến nơi sử dụng.

Hiện nay có 2 hồ luân phiên hoạt động.

5.1.4. Sơ đồ hệ thống nước công nghệ:

5.1.5. Các sự cố thường gặp:

Thông thường ở cụm A03 chỉ gặp các sự cố như sau:

 Mất áp bơm do hụt nước hay do hở trên tuyến ống hút.

 Chênh lệch áp trên các lọc tới mức hạn làm giảm hiệu suất lọc

 Các sự cố về điện như cháy rơle hay các van điện từ

 Nước yếu do sử dụng nhiều cần chạy thêm tăng cường thêm bơm

Các sự cố trên điều phải được khắc phục, sửa chữa kịp thời để không gây trở ngại

cho công tác sản xuất nhà máy.

5.2. ĐUỐC:

5.2.1.Nhiệm vụ

Tách và thu hồi phần naphta ngưng tụ.

Dòng off-gas từ cụm condensate và mini ra đuốc trong thành phần có chứa nhiều khí

khơng ngưng và hơi naphta. Hơi naphta được thu hồi nhờ bình knock-out drum rồi sau đó

59



được bơm vào bồn sản phẩm, khí được đốt cháy để tránh sử ô nhiễm cho môi trường xung

quanh nhờ hệ thống quạt gió và đánh lửa mồi.

5.2.2 Nguyên tắc hoạt động:

 Triệt tiêu động năng của các hạt ngưng tụ trong dòng off-gas.

 Tăng cường khả năng kết tụ tạo ra các hạt có kích thước lớn hơn mà chúng có khả năng

ngưng tụ.

 Hơi bão hòa từ V14 và B01 (với điều kiện van tắt của 2 bình này đang đóng) ra đuốc sẽ

ngưng một phần dọc tuyến ống, tuy nhiên do áp lực của dòng khí chúng khơng thể tách

được làm 2 pha mà dưới dạng các hạt bụi lỏng. để thu hồi chúng ta cần phải triệt tiêu

động năng và cho chúng va đập vào thành bình knock-out, lúc đó vận tốc các hạt bụi lỏng

sẽ bị triệt tiêu, chúng sẽ liên tiếp bám vào thành bình và chảy xuống đáy bình.





Một số lưu ý khi vận hành đuốc:



 Chạy quạt gió, đốt gas mồi khi lò E, F01 bắt đầu đốt.

 Đảm bảo áp gas sau regulator đủ để duy trì tia lửa mồi.

 Khi hệ condensate và mini đang vận hành thường xuyên theo dõi ngọn lửa, áp gas, phát

hiện kịp thời các sự cố.

5.2.3. Các sự cố thường gặp:

Bảng các sự cố thường gặp trong hệ thống đuốc

Sự cố



Tràn lỏng



Nguyên nhân



Biện pháp khắc phục

Xử lý tại các đuốc bằng cách bơm



Do sự cố condensate (tràn bình



naphta liên tục để giữ mực bồn thu



V14) và mini (tràn bình B01)



hồi thấp đồng thời cho xã naphta

phụ tại knock- out drum



Áp tại bình

knock-out tăng

q cao

Đuốc cháy có

khói



Nghẹt tuyến hơi ra đuốc tại

thiết bị ngăn lửa cháy ngược

Do nguyên liệu có nhiều thành



Ngừng hệ tạm thời để vệ sinh.

Ngừng hệ tạm thời để vệ sinh



phần nhẹ nhờ lượng naphta ra

bồn nhiều, cháy khơng hết.

Do quạt gió: motor quạt có sự

60



cố, không chạy được do dây

Bơm naphta bị

mất áp

Tắt lửa mồi



co-roa chùng cẩn can chỉnh

Do loc bơm bị dơ

Do naphta bay hơi trong buồng

bơm

Đường gas mồi bị nghẹt hay

lượng gas mồi ít



Súc lọc

Làm mát buổng thu hồi

Ngừng hệ tạm thời để vệ sinh



5.3. Cầu cảng

5.3.1 Giới thiệu

 Vị trí cảng: 10 45’10N- 10 647’E

 Địa điểm tọa hoa tiêu: 10 20’N- 107 03’E

 Cỡ tàu lớn nhất nhận được: 25.000DWT

5.3.3. Cầu bến

Cầu cảng

A

B



Dài , m

80

77



Sâu , m

10

10



Loại tàu/ hàng

Xăng dầu

LPG



5.3.4.Kho bãi

Tổng diện tích: 280.000m2

Kho: 141.117m2

Bồn bể: 204.000m2

5.4. Đường ống

5.4.1. Đường ống

Đường ống trong NMLD có nhiệm vụ vận chuyển nguyên liệu, sản phẩm từ nơi này

đến nơi khác. Nó được dùng để nối các bồn bể lại với nhau, vận chuyển nguyên liệu vào

tháp chưng luyện, từ tàu dầu vào bồn chứa, từ bồn chứa lên xe bồn…

Đường ống trong NMLD CÁT LÁI được thiết kế và lắp đặt sao cho ngắn, kinh tế và

đáp ứng được các chất về cơ, hóa lý. ở đây ta chỉ quan tâm đến khả năng bị ăn mòn và

phương pháp chống ăn mòn đường ống.

5.4.2.Ăn mòn đường ống

5.4.2.1.Phân loại

61



Có 2 loại

-



Ăn mòn bên trong: q trình ăn mòn bên trong phụ thuộc vào việc hoạt động của



đường ống, được chia thành những loại sau:

 Ăn mòn ngọt:gây ra bởi sự hiện diện của cacbondioxit tan trong lưu chất, hay còn gọi là

ăn mòn cacbon acid, chủ yếu là ăn mòn cục bộ và ăn mòn lỗ.

 Ăn mòn chua: do hydrogen sulphite, q trình này có thể gây ra hỏng hóc rất nhanh do

làm nứt lớp thép của đường ống.

 Ăn mòn do vi sinh vật: do quá trình triển của vi sinh vật trong đường ống.

-



Ăn mòn bên ngồi: ăn mòn bên ngồi chủ yếu một q trình ăn mòn điện hóa



5.4.2.2.Các yếu tố ảnh hưởng đến ăn mòn đường ống:

 Nước: khi tỉ lệ nước trong dầu ít, và vận tốc di chuyển trong dầu đủ lớn, nước bị cuốn

theo dòng chảy của dầu và không thấm ướt bề mặt thép nên khơng xảy ra q trình ăn

mòn. Khi vận tốc thấp hơn giá trị định mức, nước và dầu tách rời và bắt đầu xảy ra q

trình ăn mòn. Lượng nước giới hạn có thể được mang theo dầu trước khi trở thành một

pha liên tục đươc ước tính tùy theo loại và bản chất của dầu, khoảng 20-30% nước trong

dầu thì khơng tạo ra q trình ăn mòn.

 CO2: trên 600C, sự hiện diện của CO2 dẫn đến sự hình thành cacbonat bảo vệ, ngăn chặn

q trình ăn mòn tiếp diễn, tuy nhiên lớp này dễ bị xói mòn, nếu tốc độ xối mòn thấp,

thép sẽ tạo thành các lớp cacbonat thay thế. Tuy nhiên khi vận tốc xói mòn cao, lớp

cacbonat thay thế khơng hình thành kịp, q trình ăn mòn sẽ xảy ra, hiện tượng này gọi là

quá trình ăn mòn, xói mòn.

 Ảnh hưởng của vật rắn trong đường ống: sự hiện diện của những chất rắn trong đường

ống, đặc biệt là cát, do phá vỡ lớp siderite, q trình ăn mòn diễn ra nhanh và có thể gây

ra thủng lô trong vài tuần. hư hỏng thấy rõ nhất tại vị trí cong hay những khu vực có dòng

chảy tối cao.

 Vi sinh vật: đường ống dẫn dầu và nước có thể chịu sự ăn mòn từ quá trình phát triển

của vi khuẩn khử Sulphate (SRB: sulphate reducing bacteri). Loại vi khuẩn này phát triển

cùng nhiều loại vi khuẩn khác. SRB là một vi khuẩn yếm khí, nó tận dụng nguồn acid béo

có trong nước và sử dụng oxi gốc sulphate để oxi hóa các acid béo. Những vi khuẩn này

kích thích hoạt động của gốc sulphate và làm tăng cường q trình ăn mòn.

62



Trong q trình phát triển của vi khuẩn, pH môi trường tăng cao do sulphate kết hợp

với nước tạo thành hydrogen sulphite, acid này di chuyển và tạo ra acid ở môi trường

khác.

5.4.2.3.Phương pháp bảo vệ chống ăn mòn đường ống:

Phương pháp bảo vệ chống ăn mòn đường ống bao gồm:

 Sử dụng vật liệu chống ăn mòn

 Sử dụng những chất ức chế chống ăn mòn

 Bảo vệ bằng các lớp bao phủ.

Bảo vệ cathod bằng anod hi sinh

5.5. Bể chứa

5.5.1. Nhiệm vụ

Mục đích chính của bể chứa là dùng tồn trữ và bảo quản các nguyên liệu, bán sản phẩm.

5.5.2. Các thông số kỹ thuật

Loại bể:

-



Bể trụ đứng nắp cone.

Bể nắp nổi



Kí hiệu: T+số+chữ cái

Số lượng bồn

-



T1: 2 bồn

T2: 4 bồn (có dung tích nhỏ nhất)

T3: 1 bồn

T4: 3 bồn

T5: 4 bồn

T6: 6 bồn

T7: 3 bốn

T8: 3 bồn



5.5.3. Đê bồn chứa

 Mục đích

Để giữ lại sản phẩm trong khu vực được chắc chắn và ngăn không cho sản phẩm

tràn ra khu vực xung quanh trong trường hợp tràn bồn hoặc vỡ bồn, cháy nổ. Trong vùng

rộng lớn của đê thì yêu cầu ở khoảng giữa có các bức tường có kết cấu bằng bê tông hay



63



đá. Trong một số trường hợp thì khơng đủ khả năng chứa lượng u cầu thì thêm vào

những vùng trũng.

 Thiết kế:

Tường đê được gia công bằng bê tông, gạch hay đá. Trong những trường hợp đó

phải quan tâm đặc biệt đến mối nối để đảm bảo chúng chặt. Quan tâm đến khả năng rò rỉ

xuyên qua hoặc bên dưới tường đê, phụ thuộc nhiều vào lớp mặt đất bên dưới chỗ xây

dựng.

 Sàn đê:

Nền đê chứa đất xốp, với khu vực có nước thấp khơng cần thiết phải chống thấm ra

xung quanh khi việc rò rỉ chấp nhận được. Nơi có rò rỉ cao hay các vùng lân cận có thể bị

ơ nhiễm thì cần đề ra phương án chống thấm. Vấn đề quan tâm là khả năng chống thấm ở

khu vực có mưa lớn hay ở nơi tồn trữ khơng có người. Trường hợp đó thì mức độ ảnh

hưởng nghiêm trọng đến nền móng của bồn và tường đất của đê do chúng bảo hòa với

chất lỏng tạo nên sự phân rã, xói lỡ những lổ hỏng trong nền và tường đê.

5.5.4 Kiểm tra định kì bể chứa

5.5.4.1.Ý nghĩa

Với việc thành lập một chương trình kiểm tra lâu dài và sửa chữa dựa trên những

thủ tục kiểm định nghiêm ngặt, chuẩn xác đem lại những thuận lợi về các mặt sau:

Xác định chính xác độ lệch của barem.

Những vật liệu xây dựng và phụ tùng cần thiết để sửa chữa có thể đạt yêu cầu kịp

thời.

Tổ chức tốt công việc sửa chữa bể

Hệ thống phân phối có thể có dựa trên các kết quả theo dõi này để thiết kế các bể

chứa

5.5.5.2. Thời gian kiểm tra

Bảng thời gian tối thiểu thực hiện việc kiểm tra và ăn mòn cấu trúc bể.

Loại bể và sản phẩm



 Dầu hỏa, DO, gasoil,…



Kiểm tra độ dày thành



Kiểm tra cấu trúc bên trong



(dùng phương pháp siêu



của 1-2 bể trong 1 nhóm



thanh), cứ mỗi.

8 năm



sau:

16 năm

64



 Condensate



5 năm



10 năm



 Khơng có phủ bảo vệ



1 năm



2 năm



 Có bảo vệ



5 năm



10 năm



 Bồn chưa tạm (slop):



Bảng thời gian tối thiểu kiểm tra bồn nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm

Sản phẩm

Các sản phẩm sáng (xăng, gasoil, dầu hỏa,



Định kỳ

Khi cần khoảng 2- 3 năm



…)

Các sản phẩm tối (DO, FO,…)



Khi cần khoảng 3-4 năm



5.5.5.3.Các bước kiểm tra

Kiểm tra bên ngồi:

 Q trình ăn mòn xảy ra trên mọi vị trí của phần bên ngồi một bể và có thể gây ra

nhiều nguy hiểm. Việc kiểm tra, quan sát bên ngoài bao gồm phát hiện các dấu hiệu của

ăn mòn, rò rỉ, sụt lún, nó cũng bao gồm các đường ống nối với bể.

 Cũng cần xác định sự hoạt động bình thường của các thiết bị ngồi như: bích nối, valve

an tồn, thiết bị đo, đường ống thốt nước,…

 Các vị trí cần kiểm tra bao gồm:

-



Cầu thang: cần đảm bảo an toàn các mối nối, các cấu trúc nâng, tay cầm,…

Mái bốn:



 Mái cố định: trước khi bước lên mái cần quan sát xem mái có dấu hiệu bị thủng hoặc ăn

mòn hay khơng. Nếu có những dấu hiệu cho thấy mái bị thủng do ăn mòn từ bên trong

khơng được bước lên mái và cần kiểm tra lại cấu trúc bồn chứa. nếu có thể nên kiểm tra

phía trên mái cũng như tay vịn. Cần kiểm tra các valve xả, lỗ thơng hơi, valve an tồn…

 Mái nổi: bước lên mái nổi chỉ thực hiện khi mái ở vị trí cao và đảm bảo an toàn theo

các quy tắc. Kiểm tra mái xem có bị ăn mòn, hư hỏng, bụi bám quá dày, hay hoạt động

không ổn định… Các thiết bị điều khiển gắn trên mái, phần khung nâng mái… Cũng cần

được kiểm tra. Khoảng cách giữa phần mái và phần bể cần được chú ý nếu có xê dịch lớn

cho thấy bể cần phải được ổn định lại.

65



-



Thành bồn: kiểm tra các dấu hiệu rò rỉ, biến dạng của thành, có thể dùng thiết bị siêu



thanh để xá định bề dày của thành.

Nền móng: phần nền móng cần được kiểm tra kỹ, chú ý các dấu hiệu bị sụt lún, ứ

đọng nước, rò rỉ sản phẩm có thể gây xâm thực,… Tất cả đều làm giảm khả năng chịu lực

của phần nền và cần phải được phát hiện, sửa chữa kịp thời.

Các vị trí nối vào bồn: các chỗ có đường ống nối vào bể, cửa người,… Cần phải

kiểm tra xem có lung lay, bị ăn mòn, bị nứt gãy

 Kiểm tra bên trong:

Mỗi khi bể chuẩn bị cho kiểm tra bên trong, cần tiến hành việc kiểm tra bên ngồi một

cách cẩn thận hơn vì khi bể trống việc sửa chữa sẽ tiến hành thuận lợi hơn nếu phát hiện

có những sai sót.

Bể cần được rửa sạch để thuận tiện cho việc xem xét khái quát tình hình của bể, tạo điều

kiện thuận lợi hơn nếu cần tiến hành thổi khí làm sạch lớp cặn bám trong bể.

 Kiểm tra đáy bể:

Trước tiên cần kiểm tra chung để phát hiện các chỗ rạn nứt hay rò rỉ. Cần chú ý đến chổ

nối giữa thân và đáy, đặc biệt khi có sụt lún khơng thể xảy ra.

Các mối hàn có thể được kiểm tra xem có rò rỉ hay không bằng hộp chân không hoặc

bằng các phương pháp sẵn có.

Ăn mòn có thể xảy ra từ bên trong bể, nhất là khi nước bị tách ra khỏi sản phẩm hoặc

các chất gây ăn mòn, nước mưa rơi vào bể (đối với loại máy nổi khi niêm khơng kín). Ăn

mòn cũng có thể xảy ra ngay bên dưới lớp do: sự ứ đọng nước mưa dưới đáy hoặc các vật

liệu gây ăn mòn điện hóa khơng được xảy ra đến lúc xây nền.

Đối vơi việc phát hiện ăn mòn ở đáy bể chứa, nếu dùng sóng siêu thanh sẽ cho kết quả

khơng chính xác về độ dày của phần đáy (do ảnh hưởng của lớp đất bên dưới). Do đó, nếu

nghi ngờ có sự ăn mòn xảy ra dưới đáy bể thì tốt nhất là nâng bể lên và kiểm tra.

 Kiểm tra thành bể:

Sự ăn mòn bên trong của thành bể tùy thuộc vào sản phẩm chứa bên trong và hệ số

chứa. Sự ăn mòn có thể xảy ra ở phần không gian hơi cũng như phần chứa lỏng.

Ăn mòn ở phần chứa lỏng chủ yếu xảy ra là do sự tách nước ra khỏi sản phẩm. Điều này

có thể dễ nhận ra khi phát hiện lượng nước dưới đáy bể khi rút sản phẩm.

66



Đối với việc xem xét phần thân, tương đối khó khăn hơn việc kiểm tra các bộ phận khác.

Để phát hiện xem sự ăn mòn có xảy ra ở khơng gian hơi hay khơng có thể nhờ vào việc

kiểm tra bên ngoài đối với phần mái cũng như việc đo độ dài của phần mai. Với những dữ

liệu thu được sẽ giúp xác định có cần thiết phải lập dàn giáo để kiểm ra kỹ lưỡng bên thân

hay khơng, nhất là khi có những dấu hiệu rò rỉ trên thân.

 Kiểm tra mái bể:

Mái cố định: thơng thường thì kiểm tra bằng mắt thường cũng đủ, nhưng nếu có dấu

hiệu bị ăn mòn bên trong thì phải kiểm tra kỹ lại cấu trúc mái. Nên ghi lại dự đốn về ăn

mòn cho lần kiểm tra tiếp theo. Khi có nhiều lổ thủng trên mái thì cần tiến hành hàn kín

lại.

Mái nổi: các phần của phao cần được kiểm tra rò rỉ, ăn mòn một cách kĩ lưỡng, cùng với

các thông số đo bề dày. Phao cần phải được kiểm tra về độ kín khí (như đã nói ở trên).

Các bộ phận sau cùng cần được kiểm tra kỹ:

Mối niêm ở mái: kiểm tra hư hỏng, trục trặc hay bị bám dơ. Mối niêm hoạt động không

đúng sẽ dẫn đến sụt lún, phá hủy đê, hoặc làm kẹt sự chuyển động của mái.

Các đầu nối điện (shunts) giữa phần mái và thân: những hư hỏng xay ra ở đây dễ dẫn

đến hỏa hoạn.

Phần khung, rãnh, con lăn, …đảm bảo cho sự hoạt động của mái.

5.5.5. Những sự cố thường gặp ở bể chứa

Theo kinh nghiệm thì những sự cố, tai nan liên quan đến bồn bể thường được lặp lại.

Do đó việc xem xét những sai lầm mắc phải trước đó có thể giúp tránh những sự cố tương

tự xảy ra đến sau này. Thường những sự cố xảy ra là do sự thiếu hiểu biết hoặc bất cẩn

trong quá trình vận hành, điều khiển hoặc khi kiểm tra, xem xét không tuân theo những

quy định về an toàn, thiết kế, trọng tải tối đa, điều khiển vận hành… Những nhận thức tại

sao tai nạn xảy ra, xảy ra như thế nào, những nguyên tắc nào đã không được tuân thủ, là

một trong những cách tốt nhất để vận hành bồn an toàn và hiệu quả, tránh lặp lại những

sự cố.

Những sự cố thông thường của bồn chứa

 Hỏa hoạn do hở ở phía vành (thường gặp ở mái nổi).

67



 Một bể chứa đã hoạt động được 10 năm và xuất hiện hiện tượng lún làm thành bể biến

dạng chuyển sang hình oval. Sự biến dạng càng nhiều, mối nối ở mép bể càng không thể

liên kết chặt chẽ với thành bể như trước. Khoảng trống giữa mối nối và phát triển thành

và do đó tạo ra trên bề mặt một lổ hở sản phẩm.

 Địa điểm đặt bể thường có những đợt sấm sét khơng được báo trước. Trong số những

lần sấm sét bể bị đánh trúng và hỏa hoạn xảy ra.

 Phao rò rỉ (mái nổi): do ăn mòn khơng dò ra được, 2 phao của một mái nổi bị rò à kết

quả là 2 cầu phao bị chìm trong sản phẩm. Điều này làm mái bị nghiêng so với phương

nằm ngang. Sau một cơn mưa lớn, nước đọng lại một bên mái và tăng độ nghiêng bể,

nước khơng thốt ra khỏi lổ tháo trên mái cho đến khi mức độ thiếu vững chắc của bể lên

đến mức giới hạn. Kết quả là bể chìm.

 Hỏng hệ thống thốt nước trên mái (mái nổi): những ngun nhân thơng thường gây

hỏng hệ thốt nước bắt nguồn từ những mảnh vụn đóng cặn trên cửa vào của hệ thống

thốt nước. Rất nhiều chất có thể tắc nghẽn đường tháo nước như giẻ lau dầu, giấy…

Nhằm chắc chắn hệ thống thốt nước làm việc một cách hồn hảo, việc kiểm tra hệ thống

cần được tiến hành thường xuyên và định kỳ. Có thể kiểm tra vào trước mùa mưa hoặc

trước khi mái được đặt lên thành.

 Mái bị sụp (mái cố định): với những mái cố định có đương kính lớn, khi được dựng lên

ln ln xuất hiện một số rủi ro làm cho mái bị sụp nếu như những cực dựng (erection

poles) khơng an tồn được sử dụng. Sự sụp của một cấu trúc mái không những gây ảnh

hưởng nghiêm trọng làm thiệt hại vật chất mà còn gây nguy hiểm cho những cơng nhân

và thợ hàn làm việc bên trong bồn.

 Bồn bị hỏng do lỗ thốt khí bị bịt kín.

Phương pháp chống ăn mòn trong bể chứa:

 có nhiều phương pháp chóng ăn mòn trong bể chứa. thông dụng nhất hiện nay là phủ

một lớp vật liệu chống ăn mòn.

 Hiện nay có rất nhiều loại vật liệu dùng để phủ bên ngoài bể:

-



Bitum nóng hay nhựa than đá

Polyetylen (PE) hay polypropylene (PP)

Epoxy (FBE)

68



-



Băng cuốn bằng plastic

Epikote

Sơn chống sét



 Khi tiến hành thi cống sơn phủ tại các mối hàn phải sơn 2 lớp:

-



Làm sạch

Sơn lót sigma eprimer 1 lớp 25mm

Quét một lớp keo dính B.30

Cuốn 2 lớp băng keo NiTT053



 Ta tiến hành phủ bể bằng cách phun sơn lỏng dưới áp suất cao, sơn chuyển về phía vật

cần sơn được là nhờ dùng một điện trường cao thế giữa sơn phun và vật cần sơn (50000

V)

 Ta có thu được lớp sởn phân bố đồng đều bằng cách sơn kết tủa điện từ dạng nhũ tương

của sơn trong nước dưới tác dụng của điện trường. các giọt sơn tích điện âm về chuyển

động đến vật cần sơn là những cực dương, còn thành thép của ống chưa sơn là cực âm.



69



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 5:CÁC CỤM PHỤ TRỢ TRONG NHÀ MÁY

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×