Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Năng suất lao động các miền và cấu trúc nguồn lao động các miền.

Năng suất lao động các miền và cấu trúc nguồn lao động các miền.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Các vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) được Đảng và Nhà nước xác

định là các vùng động lực làm đầu tàu lôi kéo sự phát triển của các vùng

khác trên cả nước. Hiện nay, trên cả nước có 4 vùng kinh tế trọng điểm là

vùng KTTĐ Bắc Bộ, KTTĐ miền Trung, KTTĐ phía Nam và KTTĐ vùng

Đồng bằng sơng Cửu Long. Tuy nhiên, để Phân tích biến động của chỉ tiêu

năng suất lao động trung bình Việt Nam (GDP thực tế/quy mô nguồn lao

động) qua các năm 2005, 2010 và 2015 do ảnh hưởng cua hai nhân tố: năng

suất lao động các miền và cấu trúc nguồn lao động các miền nhóm nghiên

cứu chọn 3 vùng KTTĐ làm cơ sở để phân tích bao gồm vùng KTTĐ Bắc

Bộ, KTTĐ miền Trung, KTTĐ phía Nam.

Q trình đơ thị hóa và điều kiện địa lý của các vùng miền là kênh có

tác động mạnh làm chuyển đổi cơ cấu lao động của các ngành kinh tế từ lao

động có trình độ thấp sang các ngành sử dụng công nghệ hiện đại, nâng cao

NSLĐ. Nhìn chung q trình đơ thị hóa của Việt Nam diễn ra chậm (tỷ lệ

dân số thành thị năm 2015 mới đạt 34,3%), đồng nghĩa với lượng cung về

lao động cho khu vực công nghiệp và dịch vụ thấp; lao động chủ yếu làm

việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, khó có điều kiện để thúc

đẩy tăng NSLĐ như khu vực công nghiệp và dịch vụ.

Ngày 13 tháng 8 năm 2004, Thủ tướng Phan Văn Khải đã ký 3 quyết

định về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm

phía Bắc, phía Nam và miền Trung đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm

2020.

Theo đó, vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) phía Bắc tỷ trọng đóng góp

GDP của cả nước từ 21% năm 2005 lên khoảng 23-24% vào năm 2010 và

khoảng 28-29% vào năm 2015. Vùng KTTĐ phía Nam đến tỷ lệ đóng góp

của vùng trong GDP của cả nước từ 36% hiện nay lên khoảng 40-41% vào

năm 2010 và 43-44% vào năm 2020. Vùng KTTĐ miền Trung đến năm tỷ

lệ đóng góp của vùng trong GDP của cả nước từ 5% hiện nay lên khoảng

5,5% vào năm 2010 và 6,5% vào năm 2020.

Bảng. Tỷ trọng đóng góp và GDP của 3 vùng kinh tế trọng điểm

200



2010



2015



5

Vùng KTTĐ phía



36%



40%



44%



Vùng KTTĐ Bắc



21%



24%



28%



Nam

Bộ



Vùng KTTĐ miền

Trung



5%



5,5%



6,5%



Nguồn: quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm

Bảng. GĐP các Vùng Kinh tế 9 tỷ đơng)

200



2010



2015



5

Vùng KTTĐ phía

Nam



329.040



863,131.2

0



Vùng KTTĐ Bắc

Bộ



Vùng KTTĐ miền

Trung

Cả nước



191.940



844,859

517,878.7



2



45.700



1,174,001



443,433.6

5



914.001



1,



2.157.828



865,826

4.192.8

62,00



Tại các vùng KTTĐ đã hình thành hệ thống đơ thị phát triển hơn hẳn

so các vùng khác,tạo cục diện mới cho tăng trưởng và giao thương quốc tế.

Các vùng KTTĐ tập trung các đô thị lớn, tiêu biểu là các thành phố trực

thuộc trung ương (Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng,

Cần Thơ). Trong đó Hà Nội là thủ đô và trung tâm của cả nước; thành phố

Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn ở phía nam đất nước, được xếp vào

loại thành phố lớn trong khu vực. Do đô thị phát triển mạnh nên đã tạo sức

hút mạnh đối với các nhà đầu tư nước ngoài và thu hút lực lượng lao động

từ vùng nơng thơn tới làm việc.

Đã hình thành các cơ sở công nghiệp lớn và tiêu biểu của cả nước, tập

trung đội ngũ công nhân công nghiệp tương đối đơng, có trình độ và kỹ

năng cao hơn hẳn các vùng khác. Đến năm 2009, các vùng KTTĐ có

khoảng 155,3 nghìn doanh nghiệp với khoảng 6 triệu lao động tạo ra giá trị

sản xuất cơng nghiệp trên 550,6 nghìn tỷ đồng, đóng góp 91,4% giá trị xuất



khẩu cả nước và 94,4% giá trị nhập khẩu của cả nước và chiếm tới 71,6%

thị trường bán lẻ của cả nước.

Đã hình thành hệ thống cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học, trung

tâm y tế trình độ cao, quyết định việc đào tạo và chăm sóc sức khoẻ cho cả

nước. Bốn vùng KTTĐ là nơi tập trung hầu như toàn bộ tiềm lực khoa học

và công nghệ của đất nước. Đây cũng là nơi bước đầu có những ứng dụng

các thành tựu nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong thời

gian qua. Ba Vùng tập trung hầu hết các cơ sở y tế quan trọng, hàng đầu của

cả nước, có các cơ sở y tế trang bị tương đội hiện đại, cán bộ y tế trình độ

cao làm việc.

Việc phát triển kinh tế xã hội và NSLĐ của các vùng miền phục thu

vào sự hút đầu tư nhằm tạo ra giá trị sản phẩm địa phương đóng góp và

tổng sản phầm quốc nội của quốc gia. Tuy nhiên sự phát triển đó sẽ phụ

thuộc vào với tiềm năng, lợi thế về kiện địa chính trị của từng khu vực.

Trong ba vùng KTTĐ đại diện cho ba vùng Bắc, Trung, Nam của

việt Nam , NSLĐ vùng KTTĐ phía Nam ln dẫn đầu thơng qua tỷtrọng

đóng góp GDP cảu Việt Nam. Theo đó, năm 2015 đạt 1,844,859 tỷ đồng

(theo giá hiện hành), gấp 1,57 lần vùng KTTĐ Bắc Bộ (1,174,001 tỷ

đồng) và 2,1 lần vùng KTTĐ miền Trung (865,826 tỷ đồng). Việc gia

tăng sự hiện diện của doanh nghiệp đầu tư nước ngồi trong các vùng kinh

tế trọng điểm đã có tác động tích cực nhất định đến cải thiện NSLĐ thông

qua việc các doanh nghiệp này mang công nghệ sản xuất và quản lý tiên

tiến vào đầu tư trong nước. Tuy có mức NSLĐ tăng trưởng NSLĐ của

vùng KTTĐ miền Trung khu vực này đạt tthấp hơn rất nhiều so với

NSLĐ chung của nền kinh tế.

CHƯƠNG IV: Phân tích biến động chỉ tiêu GDP thực tế quốc gia

qua các năm 2005, 2010 và 2015 do ảnh hưởng của các nhân tố: năng

suất lao động các miền, cấu trúc nguồn lao động và quy mô nguồn lao

động các miền qua các năm 2005, 2010 và 2015.

Theo số liệu trong niên giám thống kê qua các năm của Tổng cục Thống kê,

có thể lập biểu tổng hợp và tính tốn tốc độ tăng của chỉ tiêu GDP (theo giá so

sánh năm 1994) qua các năm xem bảng 1:



Bảng 1: chỉ tiêu GDP từ năm 2005 đến năm 2015



Nguồn Tổng cụ Thông kê

Từ kết quả tính tốn trên thấy rằng: thời kỳ 2005-2015 GDP ở phạm vi chung toàn nền

kinh tế quốc dân tăng bình quân năm là:

năm. Tuy nhiên do số gốc của số liệu được

tính theo giá so sánh cố định năm 1994 và số năm 2010 và 2015 được tính theo giá so sánh cố

định 2015 nên việc tính tốn tốc độ tăng trưởng của số liệu chưa phản ảnh thật sự tốc độ tăng

trưởng GDP của Việt Nam trong các năm qua.



GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt gần 11,4 triệu tương đương 715 USD

GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt gần 22,8 triệu đồng tương đương 438

USD

GDP bình quân đầu người năm 2015 ước đạt 45,7 triệu đồng/người, tương đương

2.109 USD



30



CHƯƠNG V. CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG

CỦA VIỆT NAM

Năng suất lao động và việc làm là các yếu tố tác động đến tăng trưởng GDP.

Tăng trưởng GDP dựa trên tăng việc làm thường không cao và thiếu bền vững, trong

khi tăng trưởng GDP theo hướng tăng NSLĐ tuy là một thách thức nhưng có tiềm

năng để tạo ra tăng trưởng cao, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền

kinh tế. Với năng suất cao hơn, tăng việc làm cũng sẽ tạo ra “lợi ích theo cấp số

nhân”. Theo một số nghiên cứu, mức đóng góp lý tưởng trong tăng trưởng GDP của

yếu tố NSLĐ là chiếm khoảng 65-75%45. Có ba phương thức để nâng cao NSLĐ:

Thứ nhất, đầu tư tài sản và nâng cao chất lượng đầu tư: Tăng cường đầu tư,

đặc biệt vào các tài sản và dây chuyền công nghệ tiên tiến cần thiết nhằm cải tiến tốc

độ và chất lượng sản xuất, bao gồm cả công nghệ thông tin và các tài sản phi công

nghệ thông tin. Cải cách thủ tục hành chính và khuyến khích khu vực tư nhân tăng

cường đầu tư nhằm đổi mới quy trình sản xuất và ứng dụng khoa học cơng nghệ; tạo

môi trường thuận lợi để doanh nghiệp cạnh tranh tốt hơn.

Thứ hai, nâng cao chất lượng và kỹ năng lao động: NSLĐ cải thiện thông qua

nâng cao chất lượng lao động, tính linh hoạt của thị trường lao động và tăng tính kết

nối giữa kỹ năng và cơng việc. Để đạt được sự thay đổi trong những lĩnh vực này cần

xây dựng các chương trình khuyến khích đào tạo người lao động, phổ biến kiến thức,

các yêu cầu kỹ năng của cơng việc, đồng thời tự do hóa các quy định lao động nhằm

khơi thơng dòng chảy lao động giữa các khu vực, các doanh nghiệp, các ngành công

nghiệp.

Thứ ba, hồn thiện thể chế, mơi trường pháp lý cho sản xuất kinh doanh và sử

dụng hiệu quả nguồn lực: NSLĐ được nâng lên qua việc sử dụng hiệu quả các nguồn

lực của nền kinh tế, đặc biệt tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) thông qua:

(1) Giữ vững sự ổn định kinh tế vĩ mô, sử dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng và các quy

hoạch phát triển ngành công nghiệp; (2) Thực hiện hiệu quả hội nhập kinh tế quốc

tế, có chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong nước tham gia vào thị trường

toàn cầu; (3) Thúc đẩy nghiên cứu và đổi mới sáng tạo ở cấp độ doanh nghiệp; (4)

Khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao chất lượng quản lý; (5) Thúc đẩy sự hình

thành các cụm cơng nghiệp, quản lý tốt q trình đơ thị hóa.

Để nâng cao NSLĐ, góp phần thúc đẩy tăng trưởng bền vững, trong thời gian

tới cần tập trung thực hiện các giải pháp sau:

1. Giải pháp về thể chế, chính sách

(1) Tiếp tục thực hiện cải cách thể chế; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị

31



Nhà nước đối với phát triển kinh tế-xã hội. Tăng cường vai trò của cơ chế thị

trường, tạo lập mơi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng cho tất cả các ngành,

lĩnh vực, doanh nghiệp, phù hợp với các cam kết quốc tế và lộ trình hội nhập. Đa

dạng hóa và nâng cao hiệu quả hoạt động của các loại thị trường, nhất là các thị

trường hàng hóa, lao động, tài chính, bất động sản, khoa học cơng nghệ…, đáp ứng

u cầu phát triển kinh tế - xã hội.

(2) Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động các nguồn lực xã hội tham gia cung cấp

các dịch vụ công. Cơ cấu lại các đơn vị sự nghiệp công, giao quyền tự chủ phù

hợp, nâng cao năng lực quản trị, hiệu quả hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp.

(3) Chính phủ và các Bộ, ngành có liên quan cần nhận thức việc tạo lập

chính sách nhằm nâng cao NSLĐ là giải pháp quan trọng, ưu tiên hàng đầu trong

nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng trưởng bền vững của nền kinh tế. Cần có

quyết tâm chính trị và cam kết thực hiện các giải pháp nâng cao NSLĐ của Việt

Nam. Định kỳ tổ chức đánh giá tình hình thực hiện các giải pháp đề ra để kịp thời

có các điều chỉnh phù hợp.

(4) Sớm thành lập Ủy ban Năng suất quốc gia Việt Nam gồm đại diện của

Chính phủ, doanh nghiệp, các hiệp hội, cơng đồn và giới học thuật. Thiết lập

một cơ quan thường trực, chuyên sâu về NSLĐ, có nhiệm vụ phối hợp các động

lực tăng năng suất quốc gia của Việt Nam.

(5) Xây dựng và quyết tâm triển khai thực hiện Chiến lược quốc gia về nâng

cao NSLĐ của Việt Nam với mục tiêu chung và cụ thể trong trong từng giai đoạn

để NSLĐ nước ta bắt kịp các nước trong khu vực. Nghiên cứu, bổ sung một số chỉ

tiêu phản ánh về năng suất, chất lượng, hiệu quả: Tốc độ tăng năng suất lao động,

Tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư

(ICOR) vào hệ thống chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng

năm.

(6) Phát động phong trào tăng năng suất trong tất cả các khu vực của nền

kinh tế. Chọn một tháng trong năm là “Tháng Năng suất Quốc gia” nhằm thúc đẩy

phong trào tăng NSLĐ, thể hiện sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị và thu hút

sự quan tâm, đồng thuận của toàn xã hội đối với việc thúc đẩy tăng NSLĐ.

(7) Chọn một số lĩnh vực (may mặc, sản xuất máy móc thiết bị, điện tử) và

một số tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện thí điểm chương trình thúc

đẩy tăng NSLĐ. Thành cơng của các chương trình thí điểm này sẽ tạo đà hiệu quả

cho việc thúc đẩy các động lực tăng năng suất trong cả nước.

(8) Thường xuyên theo dõi, đánh giá sự tiến bộ của Việt Nam trong việc thu

hẹp khoảng cách về NSLĐ so với các nước trong khu vực. Phổ biến rộng rãi kiến

thức, phương pháp cải thiện năng suất và các trường hợp thành cơng điển hình của

32



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Năng suất lao động các miền và cấu trúc nguồn lao động các miền.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×