Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Năng suất lao động theo giờ

Năng suất lao động theo giờ

Tải bản đầy đủ - 0trang

2

009



2

010



5

in-gapo



1,2



a-laixi-a



2,4



hái

Lan



2,5



iệt

Nam



7,0



5

1,7



4



4

4,4



4



4

2,5



4



4

5,0



2

011



012



5

1,7



1,7



4

4,4



4,9



4

2,5



2,7



4

5,6



5,2



Số giờ làm

việc trung bình một

tuần (giờ)



2



2

009



5



3

3,4



4



4



3



1



1



,2



2

,0



,1



2

012



3



3

6,0



1



1

5,0



6,7



4,4



5

,8



2

011



6,2



4,5

4



2

010



4,7

6



6



6

,5



2



2

,3



,2

2

,2



NSLĐ trên một

giờ làm việc (USDPPP2005



CHƯƠNG III: Phân tích biến động của chỉ tiêu năng suất lao động

trung bình Việt Nam (GDP thực tế/quy mô nguồn lao động) qua các

năm 2005, 2010 và 2015 do ảnh hưởng cua hai nhân tố: năng suất lao

động các miền và cấu trúc nguồn lao động các miền.

1.

Năng suất lao động của toàn nền kinh tế

NSLĐ của toàn nền kinh tế năm 2015 theo giá hiện hành ước tính

đạt 79,3 triệu đồng/lao động (tương đương khoảng 3.657 USD/lao

động). Theo giá so sánh năm 2010, NSLĐ của Việt Nam năm 2015 tăng

6,4% so với năm 2014, bình quân giai đoạn 2006-2015 tăng 3,9%/năm,

trong đó giai đoạn 2006-2010 tăng 3,4%/năm; giai đoạn 2011-2015 tăng

4,3%/năm.

NSLĐ và tốc độ tăng NSLĐ của Việt Nam giai đoạn 20062015



Nguồn: Tổng cục Thống kê.



Cùng với quá trình đổi mới và phát triển kinh tế, NSLĐ của Việt

Nam thời gian qua đã có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua

các năm, khoảng cách tương đối về NSLĐ với các nước ASEAN được

thu hẹp dần.

Tính chung giai đoạn 1994-2013, NSLĐ tính theo sức mua tương

đương năm 2005 (PPP 2005)3 của Việt Nam tăng trung bình 4,87%/năm,

là mức tăng cao trong số các nước ASEAN. Nhờ đó, Việt Nam đã thu hẹp



được khoảng cách tương đối với các nước ASEAN có trình độ phát triển

cao hơn (NSLĐ của các nước so với NSLĐ của Việt Nam qua số tuyệt

đối). Cụ thể, nếu năm 1994 NSLĐ của Xin-ga-po, Ma-lai-xi-a, Thái Lan,

Phi-li-pin và In-đô-nê-xi-a lần lượt gấp 29,2 lần; 10,6; 4,6; 3,1 và 2,9 lần

NSLĐ của Việt Nam thì năm 2013 khoảng cách tương đối này giảm

xuống tương ứng còn 18 lần; 6,6; 2,7; 1,8 và 1,8 lần.

NSLĐ của các nước so với Việt Nam

(NSLĐ của Việt Nam = 1)



Nguồn: Tính tốn từ số liệu của ILO - Key Indicators of the Labour Market.



Tuy nhiên, năng suất lao động của nước ta hiện nay vẫn còn ở

mức thấp so với các nước trong khu vực, khoảng cách tuyệt đối đang

ngày càng có xu hướng tăng lên. Ngoại trừ Bru-nây và Phi-li-pin, khoảng

cách tuyệt đối (chênh lệch GDP trên mỗi lao động) giữa NSLĐ của Việt

Nam với hầu hết các nước ASEAN ở trình độ phát triển cao hơn lại gia

tăng trong giai đoạn trên: Chênh lệch giữa NSLĐ (tính theo PPP 2005) của

Xin-ga-po và Việt Nam tăng từ 62.052 USD năm 1994 lên 92.632 USD

năm 2013; tương tự, của Ma-lai-xi-a từ 21.142 USD lên 30.311 USD; Thái

Lan từ 7.922 USD lên 9.314 USD; In-đô-nê-xi-a từ 4.104 USD lên 4.408

USD. Đáng chú ý là nếu so với Trung Quốc và Ấn Độ, NSLĐ của Việt

Nam tăng chậm hơn đáng kể, dẫn tới sự gia tăng của cả khoảng cách

tuyệt đối và tương đối so với hai nước trên. Điều này cho thấy khoảng

cách và thách thức nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt trong việc bắt kịp

mức năng suất của các nước.



Nguyên nhân chủ yếu của tình hình trên là do: Quy mơ kinh tế của

nước ta còn nhỏ, xuất phát điểm thấp; cơ cấu kinh tế chậm chuyển dịch;

lao động trong nông nghiệp và lao động khu vực phi chính thức còn

chiếm tỷ lệ cao, trong khi NSLĐ ngành nơng nghiệp và khu vực phi

chính thức ở nước ta thấp. Máy móc, thiết bị và quy trình cơng nghệ còn

lạc hậu; chất lượng, cơ cấu và hiệu quả sử dụng lao động chưa đáp ứng

yêu cầu. Trình độ tổ chức, quản lý và hiệu quả sử dụng các nguồn lực còn

nhiều bất cập, tăng trưởng chủ yếu dựa vào đóng góp của yếu tố vốn và

lao động, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) còn thấp.

Ngồi ra, còn một số “điểm nghẽn” và “rào cản” về cải cách thể chế và

thủ tục hành chính chậm được khắc phục.

NSLĐ của Việt Nam và các nước trong khu vực tính theo

PPP 2005

Đơn vị tính: USD

1994 2000



2002



2004



2006

Ước tính



2008



2010



2012



2013



Bru-nây

Xin-gapo

Ma-laixi-a

Thái

Lan

In-đơnê-xi-a

Phi-lipin

Lào

Campu-chia

Trung

Quốc

Ấn Độ

Việt

Nam



11

7579

64

256

23

345

10

125

63

07

68

34

23

90

19

25

29

74

35

99

22

03



10

5696

79

135

26

150

10

337

61

01

75

41

30

19

23

26

48

11

46

78

29

48



10

7163

79

048

26

545

10

654

66

28

75

00

32

47

24

56

55

65

48

28

32

25



1

05987

8

3939

2

8722

1

1724

7

090

8

054

3

530

2

734

6

610

5

301

3

582



10

6842

88

084

30

622

12

636

76

86

84

52

38

55

31

75

81

46

61

83

40

57



10

1015

90

987

32

868

13

205

82

53

89

20

42

16

34

79

10

119

70

24

45

16



98

831

97

151

33

344

13

813

87

63

91

52

46

36

35

02

12

092

83

59

48

96



1

00057

9

6573

3

5036

1

4443

9

536

9

571

5

114

3

849

1

4003

8

821

5

250



Nguồn: Tính tốn từ số liệu của ILO - Key Indicators of the Labour Market.



2. Năng suất lao động các miền và cấu trúc nguồn lao động các

miền.



10

0015

98

072

35

751

14

754

98

48

10

026

53

96

39

89

14

985

93

07

54

40



Các vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) được Đảng và Nhà nước xác

định là các vùng động lực làm đầu tàu lôi kéo sự phát triển của các vùng

khác trên cả nước. Hiện nay, trên cả nước có 4 vùng kinh tế trọng điểm là

vùng KTTĐ Bắc Bộ, KTTĐ miền Trung, KTTĐ phía Nam và KTTĐ vùng

Đồng bằng sơng Cửu Long. Tuy nhiên, để Phân tích biến động của chỉ tiêu

năng suất lao động trung bình Việt Nam (GDP thực tế/quy mô nguồn lao

động) qua các năm 2005, 2010 và 2015 do ảnh hưởng cua hai nhân tố: năng

suất lao động các miền và cấu trúc nguồn lao động các miền nhóm nghiên

cứu chọn 3 vùng KTTĐ làm cơ sở để phân tích bao gồm vùng KTTĐ Bắc

Bộ, KTTĐ miền Trung, KTTĐ phía Nam.

Q trình đơ thị hóa và điều kiện địa lý của các vùng miền là kênh có

tác động mạnh làm chuyển đổi cơ cấu lao động của các ngành kinh tế từ lao

động có trình độ thấp sang các ngành sử dụng công nghệ hiện đại, nâng cao

NSLĐ. Nhìn chung q trình đơ thị hóa của Việt Nam diễn ra chậm (tỷ lệ

dân số thành thị năm 2015 mới đạt 34,3%), đồng nghĩa với lượng cung về

lao động cho khu vực công nghiệp và dịch vụ thấp; lao động chủ yếu làm

việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, khó có điều kiện để thúc

đẩy tăng NSLĐ như khu vực công nghiệp và dịch vụ.

Ngày 13 tháng 8 năm 2004, Thủ tướng Phan Văn Khải đã ký 3 quyết

định về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm

phía Bắc, phía Nam và miền Trung đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm

2020.

Theo đó, vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) phía Bắc tỷ trọng đóng góp

GDP của cả nước từ 21% năm 2005 lên khoảng 23-24% vào năm 2010 và

khoảng 28-29% vào năm 2015. Vùng KTTĐ phía Nam đến tỷ lệ đóng góp

của vùng trong GDP của cả nước từ 36% hiện nay lên khoảng 40-41% vào

năm 2010 và 43-44% vào năm 2020. Vùng KTTĐ miền Trung đến năm tỷ

lệ đóng góp của vùng trong GDP của cả nước từ 5% hiện nay lên khoảng

5,5% vào năm 2010 và 6,5% vào năm 2020.

Bảng. Tỷ trọng đóng góp và GDP của 3 vùng kinh tế trọng điểm

200



2010



2015



5

Vùng KTTĐ phía



36%



40%



44%



Vùng KTTĐ Bắc



21%



24%



28%



Nam

Bộ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Năng suất lao động theo giờ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×