Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG III: Phân tích biến động của chỉ tiêu năng suất lao động trung bình Việt Nam (GDP thực tế/quy mô nguồn lao động) qua các năm 2005, 2010 và 2015 do ảnh hưởng cua hai nhân tố: năng suất lao động các miền và cấu trúc nguồn lao động các miền.

CHƯƠNG III: Phân tích biến động của chỉ tiêu năng suất lao động trung bình Việt Nam (GDP thực tế/quy mô nguồn lao động) qua các năm 2005, 2010 và 2015 do ảnh hưởng cua hai nhân tố: năng suất lao động các miền và cấu trúc nguồn lao động các miền.

Tải bản đầy đủ - 0trang

được khoảng cách tương đối với các nước ASEAN có trình độ phát triển

cao hơn (NSLĐ của các nước so với NSLĐ của Việt Nam qua số tuyệt

đối). Cụ thể, nếu năm 1994 NSLĐ của Xin-ga-po, Ma-lai-xi-a, Thái Lan,

Phi-li-pin và In-đô-nê-xi-a lần lượt gấp 29,2 lần; 10,6; 4,6; 3,1 và 2,9 lần

NSLĐ của Việt Nam thì năm 2013 khoảng cách tương đối này giảm

xuống tương ứng còn 18 lần; 6,6; 2,7; 1,8 và 1,8 lần.

NSLĐ của các nước so với Việt Nam

(NSLĐ của Việt Nam = 1)



Nguồn: Tính tốn từ số liệu của ILO - Key Indicators of the Labour Market.



Tuy nhiên, năng suất lao động của nước ta hiện nay vẫn còn ở

mức thấp so với các nước trong khu vực, khoảng cách tuyệt đối đang

ngày càng có xu hướng tăng lên. Ngoại trừ Bru-nây và Phi-li-pin, khoảng

cách tuyệt đối (chênh lệch GDP trên mỗi lao động) giữa NSLĐ của Việt

Nam với hầu hết các nước ASEAN ở trình độ phát triển cao hơn lại gia

tăng trong giai đoạn trên: Chênh lệch giữa NSLĐ (tính theo PPP 2005) của

Xin-ga-po và Việt Nam tăng từ 62.052 USD năm 1994 lên 92.632 USD

năm 2013; tương tự, của Ma-lai-xi-a từ 21.142 USD lên 30.311 USD; Thái

Lan từ 7.922 USD lên 9.314 USD; In-đô-nê-xi-a từ 4.104 USD lên 4.408

USD. Đáng chú ý là nếu so với Trung Quốc và Ấn Độ, NSLĐ của Việt

Nam tăng chậm hơn đáng kể, dẫn tới sự gia tăng của cả khoảng cách

tuyệt đối và tương đối so với hai nước trên. Điều này cho thấy khoảng

cách và thách thức nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt trong việc bắt kịp

mức năng suất của các nước.



Nguyên nhân chủ yếu của tình hình trên là do: Quy mơ kinh tế của

nước ta còn nhỏ, xuất phát điểm thấp; cơ cấu kinh tế chậm chuyển dịch;

lao động trong nông nghiệp và lao động khu vực phi chính thức còn

chiếm tỷ lệ cao, trong khi NSLĐ ngành nông nghiệp và khu vực phi

chính thức ở nước ta thấp. Máy móc, thiết bị và quy trình cơng nghệ còn

lạc hậu; chất lượng, cơ cấu và hiệu quả sử dụng lao động chưa đáp ứng

yêu cầu. Trình độ tổ chức, quản lý và hiệu quả sử dụng các nguồn lực còn

nhiều bất cập, tăng trưởng chủ yếu dựa vào đóng góp của yếu tố vốn và

lao động, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) còn thấp.

Ngồi ra, còn một số “điểm nghẽn” và “rào cản” về cải cách thể chế và

thủ tục hành chính chậm được khắc phục.

NSLĐ của Việt Nam và các nước trong khu vực tính theo

PPP 2005

Đơn vị tính: USD

1994 2000



2002



2004



2006

Ước tính



2008



2010



2012



2013



Bru-nây

Xin-gapo

Ma-laixi-a

Thái

Lan

In-đơnê-xi-a

Phi-lipin

Lào

Campu-chia

Trung

Quốc

Ấn Độ

Việt

Nam



11

7579

64

256

23

345

10

125

63

07

68

34

23

90

19

25

29

74

35

99

22

03



10

5696

79

135

26

150

10

337

61

01

75

41

30

19

23

26

48

11

46

78

29

48



10

7163

79

048

26

545

10

654

66

28

75

00

32

47

24

56

55

65

48

28

32

25



1

05987

8

3939

2

8722

1

1724

7

090

8

054

3

530

2

734

6

610

5

301

3

582



10

6842

88

084

30

622

12

636

76

86

84

52

38

55

31

75

81

46

61

83

40

57



10

1015

90

987

32

868

13

205

82

53

89

20

42

16

34

79

10

119

70

24

45

16



98

831

97

151

33

344

13

813

87

63

91

52

46

36

35

02

12

092

83

59

48

96



1

00057

9

6573

3

5036

1

4443

9

536

9

571

5

114

3

849

1

4003

8

821

5

250



Nguồn: Tính tốn từ số liệu của ILO - Key Indicators of the Labour Market.



2. Năng suất lao động các miền và cấu trúc nguồn lao động các

miền.



10

0015

98

072

35

751

14

754

98

48

10

026

53

96

39

89

14

985

93

07

54

40



Các vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) được Đảng và Nhà nước xác

định là các vùng động lực làm đầu tàu lôi kéo sự phát triển của các vùng

khác trên cả nước. Hiện nay, trên cả nước có 4 vùng kinh tế trọng điểm là

vùng KTTĐ Bắc Bộ, KTTĐ miền Trung, KTTĐ phía Nam và KTTĐ vùng

Đồng bằng sơng Cửu Long. Tuy nhiên, để Phân tích biến động của chỉ tiêu

năng suất lao động trung bình Việt Nam (GDP thực tế/quy mô nguồn lao

động) qua các năm 2005, 2010 và 2015 do ảnh hưởng cua hai nhân tố: năng

suất lao động các miền và cấu trúc nguồn lao động các miền nhóm nghiên

cứu chọn 3 vùng KTTĐ làm cơ sở để phân tích bao gồm vùng KTTĐ Bắc

Bộ, KTTĐ miền Trung, KTTĐ phía Nam.

Q trình đơ thị hóa và điều kiện địa lý của các vùng miền là kênh có

tác động mạnh làm chuyển đổi cơ cấu lao động của các ngành kinh tế từ lao

động có trình độ thấp sang các ngành sử dụng cơng nghệ hiện đại, nâng cao

NSLĐ. Nhìn chung q trình đơ thị hóa của Việt Nam diễn ra chậm (tỷ lệ

dân số thành thị năm 2015 mới đạt 34,3%), đồng nghĩa với lượng cung về

lao động cho khu vực công nghiệp và dịch vụ thấp; lao động chủ yếu làm

việc trong khu vực nơng, lâm nghiệp và thủy sản, khó có điều kiện để thúc

đẩy tăng NSLĐ như khu vực công nghiệp và dịch vụ.

Ngày 13 tháng 8 năm 2004, Thủ tướng Phan Văn Khải đã ký 3 quyết

định về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm

phía Bắc, phía Nam và miền Trung đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm

2020.

Theo đó, vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) phía Bắc tỷ trọng đóng góp

GDP của cả nước từ 21% năm 2005 lên khoảng 23-24% vào năm 2010 và

khoảng 28-29% vào năm 2015. Vùng KTTĐ phía Nam đến tỷ lệ đóng góp

của vùng trong GDP của cả nước từ 36% hiện nay lên khoảng 40-41% vào

năm 2010 và 43-44% vào năm 2020. Vùng KTTĐ miền Trung đến năm tỷ

lệ đóng góp của vùng trong GDP của cả nước từ 5% hiện nay lên khoảng

5,5% vào năm 2010 và 6,5% vào năm 2020.

Bảng. Tỷ trọng đóng góp và GDP của 3 vùng kinh tế trọng điểm

200



2010



2015



5

Vùng KTTĐ phía



36%



40%



44%



Vùng KTTĐ Bắc



21%



24%



28%



Nam

Bộ



Vùng KTTĐ miền

Trung



5%



5,5%



6,5%



Nguồn: quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm

Bảng. GĐP các Vùng Kinh tế 9 tỷ đơng)

200



2010



2015



5

Vùng KTTĐ phía

Nam



329.040



863,131.2

0



Vùng KTTĐ Bắc

Bộ



Vùng KTTĐ miền

Trung

Cả nước



191.940



844,859

517,878.7



2



45.700



1,174,001



443,433.6

5



914.001



1,



2.157.828



865,826

4.192.8

62,00



Tại các vùng KTTĐ đã hình thành hệ thống đô thị phát triển hơn hẳn

so các vùng khác,tạo cục diện mới cho tăng trưởng và giao thương quốc tế.

Các vùng KTTĐ tập trung các đô thị lớn, tiêu biểu là các thành phố trực

thuộc trung ương (Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng,

Cần Thơ). Trong đó Hà Nội là thủ đơ và trung tâm của cả nước; thành phố

Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn ở phía nam đất nước, được xếp vào

loại thành phố lớn trong khu vực. Do đô thị phát triển mạnh nên đã tạo sức

hút mạnh đối với các nhà đầu tư nước ngoài và thu hút lực lượng lao động

từ vùng nông thôn tới làm việc.

Đã hình thành các cơ sở cơng nghiệp lớn và tiêu biểu của cả nước, tập

trung đội ngũ công nhân cơng nghiệp tương đối đơng, có trình độ và kỹ

năng cao hơn hẳn các vùng khác. Đến năm 2009, các vùng KTTĐ có

khoảng 155,3 nghìn doanh nghiệp với khoảng 6 triệu lao động tạo ra giá trị

sản xuất công nghiệp trên 550,6 nghìn tỷ đồng, đóng góp 91,4% giá trị xuất



khẩu cả nước và 94,4% giá trị nhập khẩu của cả nước và chiếm tới 71,6%

thị trường bán lẻ của cả nước.

Đã hình thành hệ thống cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học, trung

tâm y tế trình độ cao, quyết định việc đào tạo và chăm sóc sức khoẻ cho cả

nước. Bốn vùng KTTĐ là nơi tập trung hầu như tồn bộ tiềm lực khoa học

và cơng nghệ của đất nước. Đây cũng là nơi bước đầu có những ứng dụng

các thành tựu nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong thời

gian qua. Ba Vùng tập trung hầu hết các cơ sở y tế quan trọng, hàng đầu của

cả nước, có các cơ sở y tế trang bị tương đội hiện đại, cán bộ y tế trình độ

cao làm việc.

Việc phát triển kinh tế xã hội và NSLĐ của các vùng miền phục thu

vào sự hút đầu tư nhằm tạo ra giá trị sản phẩm địa phương đóng góp và

tổng sản phầm quốc nội của quốc gia. Tuy nhiên sự phát triển đó sẽ phụ

thuộc vào với tiềm năng, lợi thế về kiện địa chính trị của từng khu vực.

Trong ba vùng KTTĐ đại diện cho ba vùng Bắc, Trung, Nam của

việt Nam , NSLĐ vùng KTTĐ phía Nam ln dẫn đầu thơng qua tỷtrọng

đóng góp GDP cảu Việt Nam. Theo đó, năm 2015 đạt 1,844,859 tỷ đồng

(theo giá hiện hành), gấp 1,57 lần vùng KTTĐ Bắc Bộ (1,174,001 tỷ

đồng) và 2,1 lần vùng KTTĐ miền Trung (865,826 tỷ đồng). Việc gia

tăng sự hiện diện của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trong các vùng kinh

tế trọng điểm đã có tác động tích cực nhất định đến cải thiện NSLĐ thông

qua việc các doanh nghiệp này mang công nghệ sản xuất và quản lý tiên

tiến vào đầu tư trong nước. Tuy có mức NSLĐ tăng trưởng NSLĐ của

vùng KTTĐ miền Trung khu vực này đạt tthấp hơn rất nhiều so với

NSLĐ chung của nền kinh tế.

CHƯƠNG IV: Phân tích biến động chỉ tiêu GDP thực tế quốc gia

qua các năm 2005, 2010 và 2015 do ảnh hưởng của các nhân tố: năng

suất lao động các miền, cấu trúc nguồn lao động và quy mô nguồn lao

động các miền qua các năm 2005, 2010 và 2015.

Theo số liệu trong niên giám thống kê qua các năm của Tổng cục Thống kê,

có thể lập biểu tổng hợp và tính tốn tốc độ tăng của chỉ tiêu GDP (theo giá so

sánh năm 1994) qua các năm xem bảng 1:



Bảng 1: chỉ tiêu GDP từ năm 2005 đến năm 2015



Nguồn Tổng cụ Thơng kê

Từ kết quả tính tốn trên thấy rằng: thời kỳ 2005-2015 GDP ở phạm vi chung toàn nền

kinh tế quốc dân tăng bình quân năm là:

năm. Tuy nhiên do số gốc của số liệu được

tính theo giá so sánh cố định năm 1994 và số năm 2010 và 2015 được tính theo giá so sánh cố

định 2015 nên việc tính tốn tốc độ tăng trưởng của số liệu chưa phản ảnh thật sự tốc độ tăng

trưởng GDP của Việt Nam trong các năm qua.



GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt gần 11,4 triệu tương đương 715 USD

GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt gần 22,8 triệu đồng tương đương 438

USD

GDP bình quân đầu người năm 2015 ước đạt 45,7 triệu đồng/người, tương đương

2.109 USD



30



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG III: Phân tích biến động của chỉ tiêu năng suất lao động trung bình Việt Nam (GDP thực tế/quy mô nguồn lao động) qua các năm 2005, 2010 và 2015 do ảnh hưởng cua hai nhân tố: năng suất lao động các miền và cấu trúc nguồn lao động các miền.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×