Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG   

CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG   

Tải bản đầy đủ - 0trang

trong đó chỉ tiêu GDP được Tổng cục Thống kê áp dụng các khái niệm,

nguyên tắc, nguồn thông tin và phương pháp tính theo đúng quy định trong hệ

thống tài khoản quốc gia của Liên hợp quốc; chỉ tiêu lao động đang làm việc

(lao động có việc làm) được tính theo khuyến nghị của Tổ chức Lao động

Quốc tế (ILO).

2. Phân loại năng suất lao động: Theo nội dung: chia làm 2 loại

Năng suất lao động sống là chỉ tiêu biểu hiện năng suất lao động thông qua

kết quả sản xuất với chi phí về số lao động tạo ra kết quả đó

Năng suất lao động vật hóa : là chỉ tiêu biểu hiện năng suất lao động thông

qua kết quả sản xuất với chi phí trung gian (C) ( vd: chi phí về nguyên vật liệu,

về khấu hao máy móc…) để tạo sản phẩm.

Trong các chỉ tiêu biểu hiện năng suất lao động trên thì còn có thể phân

tích ra nhiều chỉ tiêu năng suất lao động tùy theo từng chi tiêu kết quả hoặc chi

phí.

Các chỉ tiêu kết quả có thể dùng để tính năng suất lao động có thể là:









Giá trị sản xuất-GO



Giá trị gia tăng-VA



Giá trị gia tăng thuần-NVA



Doanh thu –DT



Lợi nhuận-M

Cá chỉ tiêu chi phí có thể là:

Tổng số lao động trong doanh nghiệp

Tổng số ngày người làm việc

Tổng số công nhân sản xuất

Theo phương pháp chọn giá gốc so sánh



Năng suất lao động thuận: biểu hiện bằng cách lấy chỉ tiêu kết quả chia cho

chi phí.

Năng suất lao động nghịch: biểu hiện bằng chỉ tiêu chi phí chia cho chỉ tiêu

kết quả.

Hai chỉ tiêu này đều biểu hiện năng suất lao động nhưng có ý nghĩa khác

nhau nên có tác dụng phân tích khác nhau . năng suất lao động thuận nói lên : cứ

một đơn vị lao động hao phí trong kỳ tạo ra một đơn vị kết quả cần bao nhiêu

chi phí cho lao động trong kỳ



Theo ý nghĩa của chỉ tiêu : chia NSLĐ thành 3 loại

- Năng suất lao động trung bình

- Năng suất lao động cận biên

- Năng suất lao động ca biệt



Ngồi ra còn có một số cách phân loại năng suất lao động khác nữa dựa

trên nhiều quan điểm và tiêu thức phân loại khác nhau

I. TÌNH HÌNH KINH TẾ VIỆT NAM

1. TÌNH HÌNH KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2005

Tổng sản phẩm trong nước năm 2005 tăng 8,4% so với năm 2004, trong

đó khu vực nơng, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4%; khu vực công nghiệp và xây

dựng tăng 10,6% và khu vực dịch vụ tăng 8,5%. Trong 8,4% tăng trưởng chung,

công nghiệp và xây dựng đóng góp 4,2 điểm phần trăm; dịch vụ 3,4 điểm phần

trăm và nông lâm nghiệp thuỷ sản 0,8 điểm phần trăm.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm nay đạt mức tăng thấp hơn so

với con số ước tính từ tháng 9, chủ yếu do sản lượng lúa mùa ở các tỉnh miền

Bắc giảm (ảnh hưởng trực tiếp của bão số 7, bão số 8) và thiệt hại do dịch cúm

gia cầm. Thuỷ sản tăng mạnh, do cầu trong nước tăng (bù vào thịt gia cầm và

sản phẩm chế biến từ gia cầm) và xuất khẩu tăng so với năm trước. Lâm nghiệp

tăng nhẹ, chủ yếu do tăng sản lượng gỗ khai thác.

Khu vực công nghiệp và xây dựng đạt mức tăng trưởng 10,6%, trong đó

giá trị tăng thêm của khu vực công nghiệp chế biến tăng 13,1% (9 tháng tăng

12,5%, cao hơn mức tăng 11% đã ước tính vào cuối tháng 9 và cơng nghiệp chế

biến q IV tăng 14,7%); giá trị tăng thêm của công nghiệp khai thác năm nay

chỉ tăng 0,9%, chủ yếu do dầu thô khai thác trong suốt cả 4 quí đều thấp hơn

sản lượng cùng quí tương ứng của năm 2004 và sản lượng dầu thô khai thác cả

năm cũng chỉ đạt mức 92,3% sản lượng năm 2004. Công nghiệp điện, ga, nước

tăng 12,2%; xây dựng tăng 10,8%.

Khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng 8,5%, cao hơn hẳn mức tăng trưởng

7,3% của năm 2004. Trong khu vực này, các ngành có tỷ trọng lớn và thuộc lĩnh

vực dịch vụ kinh doanh như thương nghiệp; khách sạn, nhà hàng; vận tải, bưu

điện, du lịch; tài chính, ngân hàng, bảo hiểm đều có mức tăng cao hơn so với

mức tăng của từng ngành trong năm trước: Thương nghiệp năm nay tăng 8,3%

(năm 2004 tăng 7,8%); Khách sạn nhà hàng tăng 17% (2004 tăng 8,1%); Vận

tải, bưu điện, du lịch tăng 9,6% (2004 tăng 8,1%)...

Do khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục tăng trưởng cao hơn mức

tăng chung và tăng nhanh hơn các khu vực khác nên cơ cấu kinh tế ngành tiếp

tục chuyển dịch theo chiều hướng tăng ở khu vực công nghiệp, xây dựng và

giảm ở khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản. Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng

tăng từ 38,13% năm 2001 lên 41,03% năm 2005, dịch vụ tăng từ 36,63% lên

38,08% và nông lâm nghiệp thuỷ sản giảm từ 23,24 xuống còn 20,89%.

Tổng thu ngân sách Nhà nước năm 2005 ước tính tăng 16,6% so với năm

2004 và đạt 115% dự toán cả năm. Trong tổng số, các khoản thu nội địa đạt

109,2% dự toán; thu từ dầu thô đạt 146,1% (chủ yếu do giá dầu tăng cao so với

khi lập dự toán); thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu bằng dự



A&- B#% &-1& 6$B#



#C &+DB



2. TÌNH HÌNH KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2010

Kinh tế thế giới năm 2010 mặc dù đang phục hồi sau khủng hoảng tài chính

tồn cầu và có những chuyển biến tích cực, song nhìn chung chưa thực sự ổn

định và còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất lợi tác động đến kinh tế nước ta. Ở trong

nước, thiên tai liên tiếp xảy ra, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống

dân cư. Năm 2010 là năm có ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng, đây là năm cuối

thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2006-2010 và Chiến lược

phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2001-2010. Kết quả hoạt động sản xuất, kinh

doanh của năm 2010 là cơ sở và đặt nền tảng cho việc xây dựng và thực hiện Kế

hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2011, năm đầu của Kế hoạch phát triển kinh

tế-xã hội 5 năm 2011-2015 và Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 20112020.

Với quyết tâm cao của cả nước, Việt Nam được đánh giá là một trong

những nước sớm vượt qua giai đoạn khó khăn và phục hồi nhanh sau khủng

hoảng tài chính tồn cầu. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 ước tính

tăng 6,78% so với năm 2009, trong đó quý I tăng 5,84%; quý II tăng 6,44%; quý

III tăng 7,18% và quý IV tăng 7,34%. Đây là mức tăng khá cao so với mức tăng

6,31% của năm 2008 và cao hơn hẳn mức 5,32% của năm 2009, vượt mục tiêu

đề ra 6,5%. Trong 6,78% tăng chung của nền kinh tế, khu vực nơng, lâm nghiệp

và thuỷ sản tăng 2,78%, đóng góp 0,47 điểm phần trăm; cơng nghiệp, xây dựng

tăng 7,7%, đóng góp 3,20 điểm phần trăm và khu vực dịch vụ tăng 7,52%, đóng

góp 3,11 điểm phần trăm. Kết quả trên khẳng định tính đúng đắn, kịp thời, phù

hợp và hiệu quả của các biện pháp và giải pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế, ổn

định kinh tế vĩ mơ được Chính phủ ban hành và chỉ đạo quyết liệt các các cấp,

các ngành, các địa phương cùng thực hiện.



Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

theo giá so sánh 1994



%

2009



2010



5,32



6,78



Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản



1,82



2,78



Công nghiệp và xây dựng



5,52



7,70



Dịch vụ



6,63



7,52



Quý I

Quý II



3,14



5,84



4,41



6,44



Quý III



5,98



7,18



Quý IV



6,99



7,34



Tổng số

Phân theo khu vực kinh tế



Phân theo quý trong năm



3.

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2015 ước tính tăng 6,68% so với

năm 2014, trong đó q I tăng 6,12%; quý II tăng 6,47%; quý III tăng 6,87%;

quý IV tăng 7,01%. Mức tăng trưởng năm nay cao hơn mục tiêu 6,2% đề ra và

cao hơn mức tăng của các năm từ 2011-2014 1[1], cho thấy nền kinh tế phục hồi

rõ nét. Trong mức tăng 6,68% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp

và thủy sản tăng 2,41%, thấp hơn mức 3,44% của năm 2014, đóng góp 0,4

điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng

9,64%, cao hơn nhiều mức tăng 6,42% của năm trước, đóng góp 3,2 điểm phần

trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,33%, đóng góp 2,43 điểm phần trăm.

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành lâm nghiệp có mức

tăng cao nhất với 7,69%, nhưng do chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,05

điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành nông nghiệp mặc dù tăng thấp ở

mức 2,03% do ảnh hưởng của thiên tai, hạn hán, nhưng quy mô trong khu vực

lớn nhất (chiếm khoảng 75%) nên đóng góp 0,26 điểm phần trăm; ngành thủy

sản tăng 2,80%, đóng góp 0,09 điểm phần trăm, là mức tăng trưởng thấp nhất



1



của ngành này trong 5 năm qua2[2] do đối mặt với nhiều khó khăn về thời tiết,

dịch bệnh, giá cả và thị trường tiêu thụ sản phẩm.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành cơng nghiệp tăng 9,39%

so với năm trước, trong đó cơng nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,60%, cao

hơn nhiều mức tăng của một số năm trước3[3], đóng góp đáng kể vào tốc độ

tăng của khu vực II và góp phần quan trọng trong mức tăng trưởng chung.

Ngành khai khoáng tăng 6,50%. Ngành xây dựng đạt mức tăng 10,82% so với

năm trước, đây là mức tăng cao nhất kể từ năm 2010.

Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào

mức tăng trưởng chung như sau: Bán buôn và bán lẻ chiếm tỷ trọng lớn nhất,

đạt mức tăng 9,06% so với năm 2014, đóng góp 0,82 điểm phần trăm vào mức

tăng chung; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,38%, đóng góp

0,41 điểm phần trăm; hoạt động kinh doanh bất động sản được cải thiện hơn

với mức tăng 2,96%, cao hơn mức tăng 2,80% của năm trước và chủ yếu tập

trung vào mua nhà ở, đóng góp 0,16 điểm phần trăm.

Quy mơ nền kinh tế năm nay theo giá hiện hành đạt 4192,9 nghìn tỷ

đồng; GDP bình quân đầu người năm 2015 ước tính đạt 45,7 triệu đồng, tương

đương 2109 USD, tăng 57 USD so với năm 2014. Cơ cấu nền kinh tế năm nay

tiếp tục có sự chuyển dịch nhưng tốc độ chậm, trong đó khu vực nơng, lâm

nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 17,00%; khu vực công nghiệp và xây dựng

chiếm 33,25%; khu vực dịch vụ chiếm 39,73% (thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản

phẩm là 10,02%). Cơ cấu tương ứng của năm 2014 là: 17,70%; 33,21%;

39,04% (thuế là 10,05%).

Xét về góc độ sử dụng GDP năm 2015, tiêu dùng cuối cùng tăng 9,12%

so với năm 2014, đóng góp 10,66 điểm phần trăm vào mức tăng chung; tích

lũy tài sản tăng 9,04%, đóng góp 4,64 điểm phần trăm; chênh lệch xuất, nhập

khẩu hàng hóa và dịch vụ làm giảm 8,62 điểm phần trăm của mức tăng trưởng

chung.

2

3



Bảng Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước



CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG VIỆT NAM

1. Năng suất lao động của toàn nền kinh tế

NSLĐ của toàn nền kinh tế năm 2015 theo giá hiện hành ước tính đạt

79,3 triệu đồng/lao động (tương đương khoảng 3.657 USD/lao động). Theo

giá so sánh năm 2010, NSLĐ của Việt Nam năm 2015 tăng 6,4% so với năm



2014, bình quân giai đoạn 2006-2015 tăng 3,9%/năm, trong đó giai đoạn 20062010 tăng 3,4%/năm; giai đoạn 2011-2015 tăng 4,3%/năm.

NSLĐ và tốc độ tăng NSLĐ của Việt Nam giai đoạn 2006-2015



Nguồn: Tổng cục Thống kê.



Cùng với quá trình đổi mới và phát triển kinh tế, NSLĐ của Việt Nam

thời gian qua đã có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm,

khoảng cách tương đối về NSLĐ với các nước ASEAN được thu hẹp dần.

Tính chung giai đoạn 1994-2013, NSLĐ tính theo sức mua tương đương

năm 2005 (PPP 2005)3 của Việt Nam tăng trung bình 4,87%/năm, là mức tăng

cao trong số các nước ASEAN. Nhờ đó, Việt Nam đã thu hẹp được khoảng

cách tương đối với các nước ASEAN có trình độ phát triển cao hơn (NSLĐ của

các nước so với NSLĐ của Việt Nam qua số tuyệt đối). Cụ thể, nếu năm 1994

NSLĐ của Xin-ga-po, Ma-lai-xi-a, Thái Lan, Phi-li-pin và In-đô-nê-xi-a lần

lượt gấp 29,2 lần; 10,6; 4,6; 3,1 và 2,9 lần NSLĐ của Việt Nam thì năm 2013

khoảng cách tương đối này giảm xuống tương ứng còn 18 lần; 6,6; 2,7; 1,8 và

1,8 lần.

NSLĐ của các nước so với Việt Nam

(NSLĐ của Việt Nam = 1)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG   

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×