Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2 SO SÁNH PHƯƠNG ÁN TRỢ CẤP GẠO CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI ĐỊA BÀN HUYỆN THƯỜNG XUÂN TỈNH THANH HÓA

CHƯƠNG 2 SO SÁNH PHƯƠNG ÁN TRỢ CẤP GẠO CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI ĐỊA BÀN HUYỆN THƯỜNG XUÂN TỈNH THANH HÓA

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chương 2 SO SÁNH PHƯƠNG ÁN TRỢ CẤP



- Căn cứ tình hình thực tế của địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố

trực thuộc Trung ương quy định cụ thể mức trợ cấp gạo đối với từng loại đối tượng, thời

gian và hình thức trợ cấp phù hợp tại địa phương.

2.2.3.



Thời hạn, mức trợ cấp, phương thức trợ cấp gạo



 Thời hạn trợ cấp

Bắt đầu từ khi ngừng canh tác nương rẫy để chuyển sang trồng rừng đến khi có thu

nhập thay thế, nhưng tối đa khơng quá 7 năm.

 Mức trợ cấp

Mức trợ cấp gạo xác định cho từng hộ gia đình căn cứ vào diện tích nương rẫy thực tế

chuyển đổi sang trồng rừng, mỗi ha không quá 700 kg/năm và mỗi khẩu được trợ cấp bình

quân 10 kg/tháng. Mức cụ thể trên từng địa bàn do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành

phố trực thuộc Trung ương quyết định. Trong đó, mỗi khẩu tiêu thụ bình quân 12.315kg/tháng.

Đối với những hộ gia đình có số nhân khẩu nhiều nhưng tham gia chuyển đổi với diện

tích nương rẫy ít, thì mức trợ cấp theo diện tích nương rẫy thực tế chuyển đổi mỗi ha

khơng q 700 kg/năm.

Đối với những hộ gia đình có số nhân khẩu ít nhưng tham gia chuyển đổi với diện tích

nương rẫy nhiều, thì mức trợ cấp gạo tính theo khẩu là 10 kg/tháng.

Cách tính cụ thể như sau:

Ví dụ 1: Hộ gia đình A có 05 khẩu chuyển đổi diện tích nương rẫy sang trồng rừng

là 02 ha. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã quyết

định mức trợ cấp gạo là 10 kg/khẩu/tháng. Xác định tổng mức gạo trợ cấp đối với hộ

gia đình này như sau:

Xác định theo diện tích nương rẫy thực tế chuyển đổi: 700 kg x 02 ha = 1.400 kg/năm.

Xác định theo số khẩu: 10 kg x 12 tháng x 05 khẩu = 600 kg/năm.



Nhóm 1



Trang | 7



Chương 2 SO SÁNH PHƯƠNG ÁN TRỢ CẤP



Tổng số gạo trợ cấp cho gia đình A trong năm là 600 kg/năm.

Ví dụ 2: Hộ gia đình B có 7 khẩu chuyển đổi diện tích nương rẫy sang trồng rừng

là 0,3 ha. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã quyết

định mức trợ cấp gạo là 10 kg/khẩu/tháng. Xác định tổng mức gạo trợ cấp đối với hộ

gia đình này như sau:

Xác định theo diện tích nương rẫy thực tế chuyển đổi: 700 kg x 0,3 ha = 210 kg/năm.

Xác định theo số khẩu: 10 kg x 12 tháng x 7 khẩu = 840 kg/năm.

Tổng số gạo trợ cấp cho gia đình B trong năm là 210 kg/năm.

Ví dụ 3: Hộ gia đình C có 6 khẩu chuyển đổi diện tích nương rẫy sang trồng rừng

năm 2008 là 0,5 ha. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

đã quyết định mức trợ cấp gạo là 10 kg/khẩu/tháng. Xác định tổng mức gạo trợ cấp

đối với hộ gia đình này trong năm 2008 như sau:

Xác định theo diện tích nương rẫy thực tế chuyển đổi: 700 kg x 0,5 ha = 350 kg/năm.

Xác định theo số khẩu: 10 kg x 12 tháng x 6 khẩu = 720 kg/năm.

Tổng số gạo trợ cấp cho gia đình C trong năm 2008 là 350 kg/năm.

Năm 2009 Hộ gia đình này tiếp tục chuyển 01 ha nương rẫy sang trồng rừng và số khẩu

không thay đổi. Xác định tổng mức gạo trợ cấp đối với hộ gia đình này năm 2009 như sau:

Xác định theo diện tích nương rẫy thực tế chuyển đổi: 700 kg x 1,5 ha = 1050 kg/năm.

Xác định theo số khẩu: 10 kg x 12 tháng x 6 khẩu = 720 kg/năm.

Tổng số gạo trợ cấp cho gia đình C trong năm 2009 là 720 kg/năm.

Năm 2010 Hộ gia đình này tiếp tục chuyển đổi thêm 0,4 ha nương rẫy sang trồng rừng

và số khẩu tăng thêm 01 khẩu. Xác định tổng mức gạo trợ cấp đối với hộ gia đình này năm

2010 như sau:

Xác định theo diện tích nương rẫy thực tế chuyển đổi: 700 kg x 1,9 ha = 1330 kg/năm.

Xác định theo số khẩu: 10 kg x 12 tháng x 7 khẩu = 840 kg/năm.

Nhóm 1



Trang | 8



Chương 2 SO SÁNH PHƯƠNG ÁN TRỢ CẤP



Tổng số gạo trợ cấp cho gia đình C trong năm 2010 là 840 kg/năm.

 Phương thức trợ cấp

- Loại gạo trợ cấp theo hướng dẫn tại Thông tư này là gạo tẻ thường, độ ẩm khơng q

14%, khơng có sâu mọt, nấm, mốc. Giá của loại gạo này trung bình từ 10-10.5 nghìn

đồng/kg.

Căn cứ quy định tại Thông tư này, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung

ương xem xét, ưu tiên giải quyết loại gạo phù hợp với nhu cầu sử dụng hoặc được sản xuất

tại địa phương.

- Chủ đầu tư thực hiện việc mua gạo theo quy định của Bộ Tài chính về việc đấu thầu

mua sắm tài sản bằng vốn nhà nước.

- Chủ đầu tư tổ chức cấp gạo cho từng hộ gia đình trong vùng dự án theo định kỳ 01

(một) tháng một lần, tại mỗi thôn, bản nơi hộ gia đình cư trú. Tuỳ tình hình thực tế tại mỗi

địa phương, Uỷ ban nhân dân tỉnh có thể quyết định định kỳ cấp gạo cụ thể, nhưng tối đa

không quá 3 tháng một lần.

Căn cứ vào dự án được duyệt và hướng dẫn tại Thông tư này, chủ đầu tư thống nhất với

Trưởng thôn lập danh sách các hộ gia đình, số lượng gạo trợ cấp cho từng hộ gia đình trong

thơn (mẫu biểu số 01 kèm theo).

Khi các hộ gia đình bắt đầu thực hiện việc trồng rừng phòng hộ, trồng rừng sản xuất

thay thế nương rẫy thì chủ đầu tư mới tiến hành trợ cấp gạo.

Việc trợ cấp gạo phải có chữ ký của đại diện hộ gia đình nhận trợ cấp gạo; ký xác nhận

của Trưởng thôn, bản; Uỷ ban nhân dân cấp xã sở tại ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên, chức

danh (mẫu biểu số 02 kèm theo).

2.2.



Thực trạng huyện Thường Xuân tỉnh Thanh Hóa



Thường Xuân là huyện miền núi, biên giới nằm ở phía Tây tỉnh Thanh Hóa, có chung

đường biên giới với huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào



Nhóm 1



Trang | 9



Chương 2 SO SÁNH PHƯƠNG ÁN TRỢ CẤP



với chiều dài là 17km; là huyện nghèo thuộc Nghị quyết 30a, có địa hình phức tạp, điều

kiện khí hậu khắc nghiệt, cơ sở hạ tầng khó khăn, trình độ dân trí thấp.



Hình 3: Con đường bê tông dẫn ra cánh đồng làng Xuân Lập, xã Ngọc Phụng (Thường Xuân)



Trong những năm qua đã triển khai, thực hiện các chương trình, dự án xóa đói giảm

nghèo của Nhà nước, tỷ lệ hộ nghèo năm 2012 là 34,48%, năm 2013 còn 29,79%, đến năm

2014 còn 24,05%.

Tuy nhiên, kết quả xóa đói giảm nghèo chưa bền vững, tỷ lệ hộ tái nghèo còn cao (tỉ lệ

hộ cận nghèo năm 2014 là 17,78%). Những hộ mới thoát nghèo cuộc sống còn gặp nhiều

khó khăn, khi gặp thiên tai, các điều kiện khó khăn khác dễ tái nghèo trở lại.

Từ những lý do trên để bảo vệ và phát triển được diện tích rừng sản xuất, rừng phòng

hộ, trồng mới được 13.272,19ha rừng sản xuất theo Quyết định số 401/QĐ-UBND ngày

30/01/2013 của UBND tỉnh về việc phê duyệt Kế hoạch phát triển sản xuất lâm, nông

nghiệp nhằm thực hiện mục tiêu giảm nghèo nhanh, bền vững huyện Thường Xuân, giai

đoạn 2015 - 2020; góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh

Hóa khóa XVII, Nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVIII. UBND tỉnh lập “Đề án

hỗ trợ gạo cho đồng bào dân tộc thiểu số tự nguyện nhận trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng

trong thời gian chưa đảm bảo được lương thực giai đoạn 2016 - 2020”.



Nhóm 1



Trang | 10



Chương 2 SO SÁNH PHƯƠNG ÁN TRỢ CẤP



2.3.



Quy mô, cách thức trợ cấp gạo tại huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa



2.3.1.



Quy mô thực hiện



- Phạm vi thực hiện: Trên địa bàn 15 xã thuộc huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

- Đối tượng hỗ trợ: Các hộ dân tộc thiểu số tự nguyện trồng rừng phòng hộ, rừng sản

xuất thay thế nương rẫy nằm trong diện tích đất quy hoạch cho phát triển lâm nghiệp.

- Thời gian thực hiện: 5 năm (từ năm 2016 đến năm 2020).

2.3.2.



Cách thức thực hiện:



Từ năm 2016 - 2020, thực hiện hỗ trợ gạo cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tự

nguyện nhận trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng trong thời gian chưa đảm bảo được lương thực,

cho khoảng 31.364 lượt nhân khẩu thuộc hộ đồng bào dân tộc thiểu số tự nguyện nhận

trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng trong thời gian chưa đảm bảo được lương thực; với thời gian

trên, có 5.688,5ha rừng được chăm sóc và trồng mới.

- Nguyên tắc trợ cấp gạo: Việc trợ cấp gạo chỉ áp dụng cho các hộ tự nguyện trồng rừng

phòng hộ, trồng rừng sản xuất, nhận khốn chăm sóc, bảo vệ trong thời gian chưa đảm bảo

được lương thực.

- Mức trợ cấp gạo được xác định cho từng hộ gia đình căn cứ vào diện tích trồng rừng,

mỗi ha khơng q 700kg/năm và mỗi nhân khẩu được trợ cấp bình quân 10kg/tháng.

Đối với những hộ gia đình có số nhân khẩu nhiều, nhưng tham gia trồng rừng với diện

tích ít, thì mức trợ cấp theo diện tích trồng rừng thực tế, mỗi ha khơng q 700kg/năm.

Đối với những hộ gia đình có nhân khẩu ít, nhưng tham gia trồng rừng với diện tích

nhiều, thì mức trợ cấp gạo tính theo khẩu là 10kg/tháng.



Nhóm 1



Trang | 11



Chương 2 SO SÁNH PHƯƠNG ÁN TRỢ CẤP



Hình 4: Vận chuyển hàng hóa



2.4.



Thu nhập bình qn của một hộ gia đình dân tộc thiểu số tại huyện Thường



Xuân

Nhìn chung, đời sống vật chất và tinh thần của người dân còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ

nghèo là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao trong tổng số hộ nghèo cả huyện. Dân số

trên 90,6 vạn người với 3 dân tộc anh em Thái, Kinh, Mường cùng chung sống. Trong đó,

dân tộc Thái chiếm 55,5%. Dân tộc Kinh chiếm 41,3%. Dân tộc Mường chiếm tỷ lệ 3,2%.

Hiện nay, Thường Xuân có 9 xã đặc biệt khó khăn thuộc khu vực III, 4 xã thuộc khu vực

II và 4 xã Khu vực I. Mối hộ gia đình trung bình có từ 5-7 người

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt từ 14,5% trở lên. Thu nhập bình

quân theo đầu người năm 2014 đạt 12 triệu đồng/ năm. Như vậy, thu nhập bình quân của

một hộ gia đình dân tộc thiểu số tại huyện thường xuân hiện nay vào khoảng 1 triệu

đồng/tháng.



Nhóm 1



Trang | 12



Chương 2 SO SÁNH PHƯƠNG ÁN TRỢ CẤP



Hình 5: Phụ nữ dân tộc thiểu số tại xã Luận Khê, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa



2.5.



So sánh phương án trợ cấp gạo cho đồng bào dân tộc thiểu số tại địa bàn



huyện thường xuân tỉnh thanh hóa

Theo số liệu thu thập từ Chương 2, trước khi so sánh các phương án trợ cấp ta có các

giả thiết rằng:

Thu nhập bình quân của một hộ gia đình dân tộc thiểu số tại huyện Thường Xuân hiện

nay là I= 1 triệu đồng/tháng.

Giá của loại gạo được sử dụng trợ cấp là PX = 10 nghìn đồng, trong đó X là kí hiệu

sản phẩm gạo.

Tất cả các hộ gia đình được trợ cấp gạo tính theo khẩu 10kg/người/tháng.

Mỗi hộ gia đình trung bình có 5 người, suy ra lượng gạo nhận trợ cấp của một hộ gia

đình là X* = 10kg * 5= 50kg/tháng.

Mức hữu dụng của một hộ gia đình trước khi trợ cấp là X= 65kg/tháng.



Nhóm 1



Trang | 13



Chương 2 SO SÁNH PHƯƠNG ÁN TRỢ CẤP



Như vậy, số tiền mặt tương ứng Chính phủ trợ cấp trong phương án trợ cấp bằng tiền

mặt là 50kg*10= 500 nghìn đồng.

Chính phủ trợ cấp về giá là 50% nên mỗi kí gạo trợ cấp là Px = 5 nghìn đồng

Hàm thỏa dụng của hộ được ước lượng U(x,y) = Trong đó x là số kg gạo tiêu thụ trong

mỗi tháng và y là số tiền còn lại để chi cho các mặt hàng khác, đơn vị tính là nghìn đồng/

tháng

2.5.1.



So sánh trợ cấp hiện vật và trợ cấp tiền mặt



Từ số liệu ở giả thiết và kiến thức lí thuyết của Chương I (đã đề cập trên), có nhu cầu

tối đa hóa lợi ích tiêu dùng trước khi trợ cấp là tại điểm A1 có mức hữu dụng U1 > X*; từ

đây, ta có thể nhận định rằng sự ưa thích của người tiêu dùng về trợ cấp hiện vật và trợ cấp

tiền mặt là như nhau.



Hình 6: So sánh trợ cấp hiện vật và tiền mặt



Cụ thể ban đầu, các hộ gia đình có điểm tối đa hóa lợi ích tiêu dùng trước khi trợ cấp

tại A1có X1=65 và có mức hữu dụng là đường U1. Sau đó, Chính phủ trợ cấp một lượng là

X*=50, khi đó đường ngân sách dịch chuyển sang phải 50 đơn vị thành đường màu xanh,

và điểm tối đa hóa lợi ích tiêu dùng là A2 với mức hữu dụng là đường U2. Đồng thời việc



Nhóm 1



Trang | 14



Chương 2 SO SÁNH PHƯƠNG ÁN TRỢ CẤP



làm trên của Chính phủ tương đương với việc trợ cấp tiền mặt với số tiền trợ cấp là S=

500, và ta được đường ngân sách màu đỏ và cũng có điểm tối đa hóa lợi ích tiêu dùng là

điểm A2 với mức hữu dụng là đường U2.

2.5.2.



So sánh trợ cấp qua giá và trợ cấp tiền mặt



Theo lí thuyết chương 1 Gạo là một mặt hàng thiết yếu nên nhà nước có thể áp dụng

trợ cấp về giá. Tuy nhiên Hộ nghèo sẽ thích hình thức trợ cấp bằng tiền mặt hơn, bởi vì họ

có thể sử dụng khoản tiền đó một cách linh hoạt vào việc lựa chọn loại hàng hóa tiêu dùng

mà họ ưa thích, để từ đó mang lại độ thỏa dụng lớn nhất cho bản thân họ.

Dựa theo số liệu giả thuyết ta có

Để tối đa hóa độ thỏa dụng:

Điệu kiện rằng buộc: XPx + YPy = I (1)

Điều kiện tối ưu: MUx/Px = MUy/Py (2)

ta tìm ra được độ thỏa dụng A2 là 90kg gạo

Chính phủ trợ cấp 50% giá gạo, tức là 5 nghìn đồng/kg.

 Số tiền chính phủ trợ cấp qua giá cho mỗi hộ/tháng là :

90 x 5 = 450 (nghìn đồng/hộ/tháng)

Nếu chính phủ trợ cấp bằng tiền mặt đúng bằng số tiền trợ cấp qua giá thì khi đó,

giá gạo là px = 10 nghìn đồng/kg, và thu nhập bình quân hộ là I = 1.450 nghìn

đồng/tháng.

Điều kiện ràng buộc và điều kiện tối ưu hóa tiêu dùng như ở trên. Ta tìm ra được độ thỏa

dụng A3 là 70kg gạo



Nhóm 1



Trang | 15



Chương 2 SO SÁNH PHƯƠNG ÁN TRỢ CẤP



Hình 7: So sánh trợ cấp qua giá và tiền mặt



Dựa theo số liệu giả thuyết kết hợp với đồ thị , các hộ gia đình có điểm tối đa hóa lợi

ích tiêu dùng trước khi trợ cấp tại A1 và có mức hữu dụng là đường U1. Sau đó, Chính phủ

trợ cấp giá gạo 50% khi đó đường ngân sách trượt ra bên ngoài xoay xung quanh đường

chắn của hàng hóa khác là đường màu xanh, khi đó điểm tối đa hóa lợi ích tiêu dùng là A2

với mức hữu dụng là đường U2. Việc làm trên của Chính phủ tương đương với việc trợ cấp

tiền mặt với số tiền trợ cấp là S=450 , và ta được đường ngân sách màu đỏ và cũng có điểm

tối đa hóa lợi ích tiêu dùng là điểm A3 với mức hữu dụng là đường U3.

Rõ ràng, mức độ thỏa dụng ở A3 cao hơn A2 nên phối hợp lựa chọn trong phương án

trợ cấp tiền mặt có số lượng X nhỏ hơn đơn vị trợ cấp qua giá => phương án trợ cấp bằng

tiền mặt có lợi hơn.

Tuy nhiên khi trợ cấp bằng tiền mặt, chính phủ cũng gặp một vài vấn đề nan giải như

Nếu trợ cấp bằng tiền, một số người dân có thể sử dụng tiền khơng đúng mục đích. Ngồi

ra, việc trợ cấp bằng tiền trực tiếp cho người dân cũng khó thực hiện, tốn kém và có thể

khơng đúng đối tượng mà nhà nước muốn tác động.



Nhóm 1



Trang | 16



Chương 3 ĐỀ XUẤT



CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT

Như vậy, theo phân tích và so sánh trên, người tiêu dùng ở huyện Thường Xuân, tỉnh

Thanh Hóa sẽ thích được Chính phủ trợ cấp tiền mặt và hàng hóa hơn là việc được trợ cấp

qua giá. Mức độ ưa thích giữa trợ cấp tiền mặt và trợ cấp hàng hóa là như nhau.

Tuy nhiên, Chính phủ vẫn nên tiếp tục sử dụng trợ cấp hiện vật đối với các hộ dân

nghèo tại huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa bởi vì:

 Do sự quản lý của Chính phủ nước ta chưa thật sự hiệu quả, nên nếu dùng trợ cấp

tiền mặt có thể dẫn đến thất thốt. Tiền trợ cấp có nguy cơ khơng đến tay người dân

do nhiều mặt tối trong công tác quản lý tiền công.

 Trợ cấp tiền mặt sẽ dễ gây ra lạm phát, dẫn đến gây ảnh hưởng xấu đối với nền

kinh tế quốc gia.

 Trợ cấp tiền mặt có thể sẽ khơng hiệu quả vì người dân sử dụng số tiền đó vào

những mục đích khác thay vì mua gạo, đó có thể là những mục đích xấu, thiếu hiệu

quả. Như vậy sẽ đi ngược lại với nhiệm vụ xóa đói giảm nghèo của Chính phủ.

Có một số ý kiến cho rằng Chính phủ nên trợ cấp bao gói, có nghĩa là Chính phủ sẽ trợ

cấp đủ số lượng gạo cần thiết cho người dân. Tuy nhiên, ý kiến này nhanh chóng bị bác bỏ

do mang nhiều hạn chế, vì:

 Người dân có xu hướng khơng chịu làm việc do ln được Chính phủ trợ cấp đầy

đủ cho nhu cầu

 Xuất hiện nhiều trường hợp làm giả, ngụy tạo hồn cảnh khó khăn để xin trợ cấp

“chùa”

 Khơng tạo ra được sự bình đẳng giữa các hộ gia đình có mức sống tương tự như

nhau

 Thiếu hụt nguồn ngân sách, ảnh hưởng tới nền kinh tế quốc gia



Nhóm 1



Trang | 17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2 SO SÁNH PHƯƠNG ÁN TRỢ CẤP GẠO CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI ĐỊA BÀN HUYỆN THƯỜNG XUÂN TỈNH THANH HÓA

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×