Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
C. NHÓM CÁC NƯỚC KINH TẾ ĐANG CHUYỂN ĐỔI

C. NHÓM CÁC NƯỚC KINH TẾ ĐANG CHUYỂN ĐỔI

Tải bản đầy đủ - 0trang

9



Số liệu ở Bảng 1.1 cũng cho thấy, đa số các quốc gia chỉ sử dụng 1 trong 3

tiêu thức đánh giá trên, đặc biệt là nhóm các nước kinh tế đang chuyển đổi. Một số

quốc gia khác sử dụng kết hợp 2 trong 3 tiêu thức nói trên. Một số ít quốc gia sử

dụng kết hợp cả 3 tiêu thức số lao động, vốn và doanh thu.

Ở Việt Nam, căn cứ theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP việc phân loại các

DNNVV được chia thành 3 cấp độ (siêu nhỏ, nhỏ và vừa) dựa trên 2 tiêu chí cơ bản

là tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm.

Việc đưa ra các tiêu chí để phân định DNNVV như trong định nghĩa và Bảng

1.2 mục đích là để tiện cho việc quản lý, thống kê, hoạch định chính sách và trợ

giúp DN phát triển. Việc phân loại DN có ý nghĩa rất lớn đối với các DN và cả các

nhà quản lý. Bởi lẽ, đối với các nhà quản lý thì có tiêu chí phân loại sẽ là căn cứ

trong việc phân loại, thống kê, dự báo, tính thuế, đưa ra các quyết định, các văn bản

quy phạm pháp luật,... Còn đối với DN thì việc họ thuộc loại hình DN nào rất quan

trọng. Quan trọng từ việc có được hưởng hay khơng các chính sách hỗ trợ (chính

sách hỗ trợ: hỗ trợ đào tạo, hỗ trợ thông tin, hỗ trợ vay vốn, tín dụng,...) và thuế họ

phải nộp là bao nhiêu.

Bảng 1.2: Tiêu chí phân loại Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Quy mô



Khu vực

1. Nông, lâm

nghiệp và thủy

sản



Doanh

nghiệp siêu

Doanh nghiệp nhỏ

nhỏ

Số lao

Tổng nguồn

Số lao động

động

vốn

10 người trở 20 tỷ đồng

xuống

trở xuống



2. Công nghiệp

và xây dựng



10 người trở 20 tỷ đồng

xuống

trở xuống



3. Thương mại

và dịch vụ



10 người trở 10 tỷ đồng

xuống

trở xuống



Doanh nghiệp vừa



Tổng nguồn

Số lao động

vốn

từ trên 20 tỷ từ trên 200

từ trên 10 người

đồng đến 100 người đến

đến 200 người

tỷ đồng

300 người

từ trên 20 tỷ từ trên 200

từ trên 10 người

đồng đến 100 người đến

đến 200 người

tỷ đồng

300 người

từ trên 10 tỷ từ trên 50

từ trên 10 người

đồng đến 50 tỷ người đến

đến 50 người

đồng

100 người



Nguồn: Trích Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009



10



Tiêu chí phân loại DNNVV bước đầu đã giải quyết được một số vướng mắc

như thuế suất được tính cho DNNVV, các chính sách hỗ trợ được tìm được đúng nơi

cần đến, làm sáng tỏ hơn một số khâu trong thủ tục vay vốn... Nhưng việc vận dụng

trong thực tế cũng đã nảy sinh một số bất cập. Trước hết đó là việc phân loại

DNNVV: theo Nghị định 56, DNNVV được phân chia dựa theo các tiêu chí quy mơ

về vốn, quy mô về số lao động và khu vực. Trong đó quy mơ về nguồn vốn được ưu

tiên. Đây cũng chính là sự chưa hợp lý trong phân loại. Bởi lẽ, tổng nguồn vốn của

DN bao gồm vốn của chủ sở hữu và vốn huy động dưới các hình thức khác nhau.

Trong khi vốn chủ sở hữu là tương đối ổn định, được ghi nhận trong điều lệ DN và

giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì vốn huy động lại thường xuyên biến động.

Do đó, tổng nguồn vốn này của DN cũng thường xun biến động. Vì vậy, hơm nay,

một DN được xếp vào loại DN nhỏ nhưng ngay ngày mai có thể đã trở thành DN

vừa và ngược lại. Việc phân loại các DNNVV rất cụ thể: siêu nhỏ, nhỏ và vừa. Sau

nữa, trong các điều khoản về các chính sách hỗ trợ tiếp sau lại khơng tách bạch và

cụ thể cho từng đối tượng. Sau nữa một số các DN nghiệp ở dạng “mập mờ” chưa

rõ thuộc loại nào thì “lách luật” để được hưởng lợi khi kê khai thuế.

1.1.2. Đặc điểm của chung của DNNVV

- Tính chất hoạt động kinh doanh

DNNVV thường tập trung ở nhiều khu vực chế biến và dịch vụ, tức là gần

với người tiêu dùng hơn. Trong đó cụ thể là:

+ DNNVV là vệ tinh, chế biến bộ phận chi tiết cho các doanh nghiệp lớn với

tư cách là tham gia vào các sản phẩm đầu tư.

+ DNNVV thực hiện các dịch vụ đa dạng và phong phú trong nền kinh tế như

các dịch vụ trong quá trình phân phối và thương mại hố, dịch vụ sinh hoạt và giải

trí, dịch vụ tư vấn và hỗ trợ.

+ Trực tiếp tham gia chế biến các sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng

với tư cách là nhà sản xuất tồn bộ. Chính nhờ tính chất hoạt động kinh doanh này

mà các DNNVV có lợi thế về tính linh hoạt. Có thể nói tính linh hoạt là đặc tính trội

của các DNNVV, nhờ cấu trúc và quy mô nhỏ nên khả năng thay đổi mặt hàng,



11



chuyển hướng kinh doanh thậm chí cả địa điểm kinh doanh được coi là mặt mạnh

của các DNNVV.

- Về nguồn lực vật chất

Nhìn chung các DNNVV bị hạn chế bởi nguồn vốn, tài nguyên, đất đai và

công nghệ. Sự hữu hạn về nguồn lực này là do tôn chỉ và nguồn gốc hình thành DN.

Mặt khác còn do sự hạn hẹp trong các quan hệ với thị trường tài chính - tiền tệ, q

trình tự tích luỹ thường đóng vai trò quyết định của từng DNNVV.

Nhận thức về vấn đề này các quốc gia đang tích cực hỗ trợ các DNNVV để

họ có thể tham gia tốt hơn trong các tổ chức hỗ trợ, và đưa ra các chính sách để

khắc phục sự hạn hẹp này.

- Về năng lực quản lý điều hành

Xuất phát từ nguồn gốc hình thành, tính chất, quy mơ... các quản trị gia

DNNVV thường nắm bắt, bao quát và quán xuyến hầu hết các mặt của hoạt động

kinh doanh. Thông thường họ được coi là nhà quản trị DN hơn là nhà quản lý

chuyên sâu... Chính vì vậy mà nhiều kỹ năng, nghiệp vụ quản lý trong DNNVV

còn rất thấp so với yêu cầu.

- Về tính phụ thuộc hay bị động

Do các đặc trưng kể trên nên các DNNVV bị thụ động nhiều hơn ở thị

trường. Cơ hội “đánh thức”, “dẫn dắt” thị trường của họ rất nhỏ. Nguy cơ “bị bỏ

rơi”, phó mặc được minh chứng bằng con số DNNVV bị phá sản ở các nước có nền

kinh tế thị trường phát triển. Chẳng hạn ở Mỹ, bình qn mỗi ngày có tới 100

DNNVV phá sản (đương nhiên lại có số doanh nghiệp tương ứng phù hợp các

DNNVV mới xuất hiện), nói cách khác các DNNVV có “tuổi thọ” trung bình thấp.

1.2. Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế Việt Nam

1.2.1. Sơ lược quá trình phát triển của DNNVV Việt Nam

Quá trình hình thành và phát triển các DNNVV ở Việt Nam diễn ra từ khá

lâu, trải qua nhiều giai đoạn với những đặc điểm khác nhau, mơi trường khác nhau

mà nhìn chung là chịu sự ảnh hưởng của hai nhóm nhân tố chính là cuộc trường kỳ

kháng chiến kéo dài gần một thế kỷ và những quan điểm chính trị thời kỳ hậu chiến



12



tranh. Giai đoạn trước năm 1945, khi mà Việt Nam còn nằm trong ách thống trị của

thực dân Pháp thì cũng đã tồn tại một số lượng đáng kể các DN mà lúc đó là các cơ

sở, các xưởng sản xuất nhỏ chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực nông nghiệp, các

nghề thủ công truyền thống. Các mặt hàng giai đoạn nay phần lớn vẫn ở dạng

nguyên sơ nhưng cũng đáp ứng được nhu cầu của nhân dân trong hồn cảnh rất đặc

biệt của thời kỳ đơ hộ, thậm chí nhiều hàng còn được gửi đi triển lãm ở một số nước

phương Tây thời bấy giờ.

Trong giai đoạn từ cuộc cách mạng tháng 8/1945 thành công và cả nước

bước vào giai đoạn kháng chiến chống Pháp. Các DNNVV lúc này tồn tại cả ở vùng

ta và vùng địch, đáng chú ý là các DNNVV ở vùng căn cứ đã đóng góp vai trò đáng

kể, vừa phục vụ nhu cầu thời chiến của nhân dân, vừa đáp ứng nhu cầu hậu cần cho

kháng chiến lâu dài. Sau thắng lợi Điện Biên Phủ lừng lẫy, cả miền Bắc bắt tay vào

xây dựng lại đất nước trên con đường xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội. Các DNNVV ra

đời rất nhanh và nhiều trong giai đoạn này, lúc này chịu sự chi phối của đường lối

chính trị hình thức hợp tác xã, tổ hợp tác kinh doanh được khuyến khích phát triển,

còn các DNNVV dưới hình thức sở hữu tư nhân thì bị loại trừ, trong khi đó loại

hình DNNVV tư nhân ở miền Nam lúc đó lại rất phát triển. Sau khi thống nhất đất

nước năm 1975 và đến trước đại hội VI Điểm đáng lưu ý trong các DNNVV ở giai

đoạn này là ở miền Nam, kinh tế tư nhân là hình thức bị kỳ thị và các DNNVV dưới

hình thức sở hữu tư nhân buộc phải quốc hữu hoá, DNNVV của tư nhân bị cải tạo,

xố bỏ, khơng khuyến khích phát triển. Nếu muốn tồn tại thì phải tồn tại dưới dạng

khác như dưới hình thức hộ gia đình, tổ hợp tác, hợp tác xã, công tư hợp danh.

Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986 thực sự là một bước

ngoặt. Đại hội VI đã đưa ra chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành

phần, thừa nhận sự tồn tại lâu dài của các hình thức sử hữu khác nhau, thay đổi

quan điểm với kinh tế tư nhân, từ kỳ thị chuyển sang coi trọng. Chủ trương này đã

tạo điều kiện thuận lợi cho hàng loạt cơ sở sản xuất tư nhân, cá thể, hộ gia đình kinh

doanh trong các ngành cơng nghiệp, dịch vụ, thương mại ra đời và phát triển.



13



Bên cạnh đó, từ năm 1986 đến nay, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản

pháp quy, quy định chế độ chính sách đối với hộ gia đình, hộ cá thể, DN tư nhân,

hợp tác xã, DN Nhà nước. Đáng chú ý là Nghị quyết 16 của Bộ chính trị Đảng cộng

sản Việt Nam (1988); Nghị định 27, 28, 29 /HĐBT (1988) về kinh tế cá thể, kinh tế

hợp tác và hộ gia đình; Nghị định 66/HĐBT về nhóm kinh doanh dưới vốn pháp

định, Công văn số 681/CP-KTN ngày 20/6/98 về định hướng chiến lược và chính

sách phát triển DNNVV và một loạt các Luật như: Luật công ty, Luật doanh nghiệp

tư nhân mà nay hai Luật này đã được gộp lại thành Luật doanh nghiệp (1999), Luật

hợp tác xã, Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật khuyến khích đầu tư trong nước

(1994), Luật đầu tư nước ngoài (1989) đã tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho

các DN phát triển.

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của mình, DNNVV vẫn gặp khơng ít

những khó khăn, vướng mắc, và nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế của

đất nước, Chính phủ đã có Nghị định 90/2001/CP-ND ngày 23/11/2001 về chính

sách trợ giúp, phát triển DNNVV trong đó quy định rõ khái niệm, tiêu chí xác định

DNNVV ở Việt Nam, khẳng định tầm quan trọng của DNNVV trong chiến lược

phát triển kinh tế xã hội của đất nước và các biện pháp, các chính sách hỗ trợ

DNNVV phát triển. Chính phủ còn giao cho Bộ Kế hoạch - Đầu tư (MPI - Ministry

of Planning and Investment) đứng lên làm đầu mối phối hợp các Bộ, các ngành và

địa phương tiếp tục nghiên cứu hoàn chỉnh dự thảo “Chiến lược và chính sách phát

triển DNNVV”, đề xuất giải pháp thực hiện để Chính phủ xem xét và phê duyệt.

Nghị định cũng quy định việc thành lập “Cục Phát triển doanh nghiệp nhỏ

và vừa” (ASMED) trực thuộc Bộ Kế hoạch - Đầu tư, để giúp Bộ trưởng Bộ Kế

hoạch - Đầu tư thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về xúc tiến phát triển

DNNVV; thành lập “Hội đồng khuyến khích phát triển DNNVV” làm nhiệm vụ tư

vấn cho Thủ tướng Chính phủ về cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển

DNNVV; thành lập “Trung tâm hỗ trợ kỹ thuật DNNVV” thuộc các cơ quan, các tổ

chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, nhằm thực hiện các chương

trình trợ giúp một cách thiết thực và có hiệu quả; khuyến khích, tạo điều kiện để các



14



DNNVV tham gia các hiệp hội doanh nghiệp đã có và thành lập các hiệp hội, câu

lạc bộ doanh nghiệp, nhằm triển khai các hoạt động kể cả thu hút các nguồn lực từ

nước ngoài để trợ giúp một cách thiết thực, trực tiếp cho DNNVV, các dịch vụ về

thông tin, tiếp thị mở rộng thị trường, đào tạo, công nghệ... nâng cao hiệu quả sản

xuất kinh doanh của các DNNVV.

Từ tiến trình đổi mới cũng như xu thế hội nhập và cùng với sự nỗ lực của

Chính phủ trong việc tạo điều kiện tốt nhất cho DN nói chung và DNNVV nói riêng

phát triển, đã có những thành quả nhất định. Điều đó có thể thấy qua sự gia tăng về

số lượng các loại hình DN trong thời gian qua.

Bảng 1.3: Số DN Việt Nam giai đoạn 2000 - 2008

Đơn vị: Doanh nghiệp

Tổng số doanh

nghiệp

(Total

number of

enterprises)



1 = 2+3+4+5



Theo quy mô lao động - Employees size

DN siêu

DN nhỏ

DN vừa

DN lớn

nhỏ

(small

(medium

(large

(super small

enterprises) enterprises) enterprises)

enterprises)

2

3

4

5



Năm 2000



42.288



22.638



14.396



1.849



3.405



Năm 2001



51.680



27.957



18.053



1.970



3.700



Năm 2002



62.908



33.047



23.329



2.284



4.248



Năm 2003



72.012



36.949



28.062



2.483



4.518



Năm 2004



91.756



49.042



35.047



2.892



4.775



Năm 2005



112.950



63.456



41.337



3.196



4.961



Năm 2006



131.318



80.060



42.649



3.418



5.191



15



Năm 2007



155.771



95.322



50.763



4.059



5.627



Năm 2008



205.689



127.180



68.046



4.484



5.979



Nguồn: “Doanh nghiệp Việt Nam 9 năm đầu thế kỷ 21” - Tổng Cục Thống Kê

Biểu 1.1: Mức độ phát triển DNNVV 2000-2008

Đơn vị: Doanh nghiệp

250000



200000



Tổng Số DN

DN Siêu Nhỏ

DN Nhỏ

DN Vừa

DN Lớn



150000



100000



50000



0

Năm Năm Năm Năm Năm Năm Năm Năm Năm

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008



Từ số liệu của Bảng 1.3 và Biểu 1.1 cho ta thấy số lượng DN Việt Nam tăng

khá đều qua các năm, phát triển đều ở mọi loại hình DN. Năm 2008 so với năm

2000 số lượng DN đã tăng 4,86 lần, với tốc độ tăng bình quân là 19,22% năm. Tuy

số lượng DN tăng lên nhiều nhưng chiếm đại bộ phận trong đó vẫn là các DNNVV,

đó là một hiện thực vẫn thấy ở mọi nền kinh tế: Số DNNVV năm 2000 là 38.883

DN (2+3+4) chiếm 91,95% tổng số DN; Số DNNVV năm 2008 là 199.710 DN

chiếm tỷ lệ 97,09% tổng số DN. Như vậy năm 2008 so với năm 2000 số DNNVV

đã tăng 5,14 lần.



16



Sự gia tăng về số lượng của các DN Việt Nam thể hiện sự quan tâm của

Đảng và Chính phủ trong việc tạo điều kiện và mơi trường cho DN phát triển, phù

hợp với xu thế phát triển của thời đại, góp phần tăng trưởng kinh tế, tạo cơng ăn

việc làm, ổn định chính trị.

1.2.2. Một số nét đặc trưng cơ bản

Đặc điểm của các DNNVV xuất phát trước hết từ chính quy mơ của doanh

nghiệp. Do đặc trưng của nền kinh tế chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung

sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên các DNNVV Việt Nam

có những đặc điểm sau:

- Các DNNVV Việt Nam thuộc nhiều thành phần kinh tế với nhiều hình thức

tổ chức doanh nghiệp, bao gồm doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp và các công

ty tư nhân, các hợp tác xã. Từ đó xuất hiện sự phân biệt đối xử giữa các DN thuộc

các thành phần khác nhau. Điều này làm ảnh hưởng đến tâm lý, phong cách kinh

doanh của các DN hiện nay, đồng thời tạo ra những điểm xuất phát về tiếp cận

nguồn lực không như nhau (trong giao đất, trong vay vốn ngân hàng…).

- Là những doanh nghiệp có quy mô vốn và lao động nhỏ, đây thường là

những doanh nghiệp khởi sự thuộc khu vực kinh tế tư nhân. Đặc điểm này đã làm

cho các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong q trình hoạt động của mình.

Ngun nhân là do các DN này chưa có kinh nghiệm huy động vốn kinh doanh.

Ngoài ra, các tổ chức cung ứng vốn xem khu vực này có nhiều rủi ro nên chưa sẵn

sàng cấp tín dụng.

- Khả năng quản lý hạn chế, do các chủ DN thường là những người tự đứng

ra thành lập và vận hành DN. Họ là những người vừa quản lý vừa tham gia trực tiếp

vào quá trình sản xuất kinh doanh nên mức độ chuyên môn trong quản lý không

cao. Phần lớn chủ DN thường khơng được đào tạo về quản lý chính quy hoặc khơng

qua khóa đào tạo nào.

- Trình độ tay nghề của người lao động thấp. Các chủ DNNVV không đủ

khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong việc thuê lao động có tay nghề



17



cao do hạn chế về tài chính… Bên cạnh đó, định kiến của người lao động cũng như

những người thân của họ về khu vực này còn khá lớn. Người lao động ít được đào

tạo vì kinh phí hạn hẹp nên trình độ và kỹ năng thấp. Ngồi ra, sự khơng ổn định

khi làm việc cho các DN này, cơ hội để phát triển thấp cũng là lý do khơng thu hút

được lao động có kỹ năng cao.

- Khả năng về công nghệ thấp do không đủ tài chính cho nghiên cứu triển

khai, nhiều DNNVV có những sáng kiến công nghệ tiên tiến nhưng không đủ tài

chính cho việc nghiên cứu triển khai nên khơng thể hình thành cơng nghệ mới hoặc

bị các DN lớn mua lại với giá rẻ. Tuy nhiên, các DNNVV rất linh hoạt trong việc

thay đổi công nghệ sản xuất do giá trị của dây chuyền công nghệ thường thấp và họ

thường có những sáng kiến đổi mới cơng nghệ phù hợp với quy mơ của mình từ

những cơng nghệ cũ và lạc hậu. Điều này thể hiện tính linh hoạt trong đổi mới công

nghệ và tạo nên sự khác biệt về sản phẩm để các DN này có thể tồn tại trên thị

trường.

- Các DNNVV Việt Nam thường sử dụng chính những diện tích đất riêng của

mình làm mặt bằng sản xuất, và cũng rất khó thuê mặt bằng sản xuất. Vì vậy, các

DNNVV rất khó khăn trong việc mở rộng sản xuất kinh doanh khi quy mô DN

được mở rộng. Một số DN thuê được đất thì gặp nhiều trở ngại trong việc giải

phóng mặt bằng và đền bù.

- Khả năng tiếp cận thị trường kém, đặc biệt đối với thị trường nước ngoài.

Nguyên nhân chủ yếu là do các DNNVV thường là những DN mới hình thành, khả

năng tài chính cho các hoạt động tiếp thị khơng có và cũng chưa có nhiều khách

hàng truyền thống. Thêm vào đó, quy mơ thị trường của các DN này thường bó hẹp

trong phạm vi địa phương, việc mở rộng ra các thị trường mới là rất khó khăn.

1.2.3. Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế Việt Nam

DNNVV có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước, kể cả các nước

có trình độ phát triển cao. Đối với Việt Nam thì vai trò của DNNVV càng có ý

nghĩa quan trọng bởi các lý do sau:

- DNNVV chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số các doanh nghiệp



18



Trong các loại hình sản xuất kinh doanh ở nước ta hiện nay, DNNVV góp

mặt trong mọi thành phần kinh tế, mọi loại hình DN.

Áp dụng tiêu chí số lao động để phân loại DN (theo Nghị định số

56/2009/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ) tại Bảng 1.4 và để tiện cho tính tốn ta

quy ước như sau: DN có từ 299 lao động trở xuống gộp chung là DNNVV, DN có từ

300 lao động trở lên là DN lớn.

Bảng 1.4: Số DN năm 2007 theo quy mơ lao động và loại hình DN

Đơn vị: Doanh nghiệp

Phân theo quy mô lao động

20030050-199

299

499

người

người

người

(5)

(6)

(7)



500-



1000-



5000



999



4999



người



người

(8)



người

(9)



trở lên

(10)



1694



1283



928



86



405



438



357



322



37



544



202



241



238



236



33



423



707



203



197



119



86



4



50668



48533



10549



1178



870



558



290



12



788



2766



2605



420



53



38



14



4



40468



15297



13142



10555



1295



86



64



23



6



53



15



20



16



2



77648



15722



27479



27318



5813



573



388



250



99



6



1597



14



50



344



686



154



142



117



88



2



20862



2822



7211



7695



2333



312



238



154



93



4



4961



188



330



1424



1533



379



386



368



316



37



4018



159



266



1125



1224



314



315



304



277



34



Tổng



Dưới 5



5-9



10-49



người



người



người



(1)



(22)



(3)



(4)



155771



34856



51041



50588



13333



1962



3494



10



43



631



1251



+ Trung ương



1719



3



14



208



+ Địa phương



1775



7



29



147316



34658



6688



số



TỔNG SỐ

- DN Nhà

nước



- DN ngoài

Nhà nước

+ Tập thể

+ Tư nhân

+ Công ty hợp

danh

+ Công ty

TNHH

+ Công ty cổ

phần có vốn

Nhà nước

Cơng ty cổ

phần khơng có

vốn Nhà nước

- DN có vốn

đầu tư nuớc

ngồi

+ DN 100%

vốn nước ngồi



19



+ DN liên

doanh với nước



943



29



64



299



309



65



71



64



39



ngoài



Nguồn: “Thực trạng doanh nghiệp qua kết quả điều tra từ năm 2000 đến 2008”

- Tổng Cục Thống Kê



Theo đó thì DNNVV(cộng các mục 2,3,4,5,6 tại Bảng 1.4) có số tuyệt đối là

151.780 DN chiếm 97,43% tổng số các DN (nội suy từ Bảng 1.4) thuộc các hình

thức: DN nhà nước, DN tư nhân, cơng ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn,

công ty hợp danh, DN có vốn đầu tư nước ngồi.

Qua số liệu ở Bảng 1.4 thì DNNVV chiếm 99,77% tổng số các DN tư nhân,

chiếm 99,16% trong tổng số DN thuộc thành phần KT tập thể, chiếm 99,04% trong

tổng số các công ty trách nhiệm hữu hạn, và 66,97% trong tổng số các DN nhà nước

và chiếm 77,69% các DN có vốn đầu tư nước ngoài.

DN thuộc thành phần kinh tế ngoài Nhà nước có số tuyệt đối là 147.316 DN,

chiếm 94,57% tổng số các DN. Các DNNVV thuộc khối KT ngoài nhà nước có số

lượng là 145.586 DN, chiếm tới 98,82% tổng số DN ngồi Nhà nước. Vậy có thể

nói đại bộ phận các DNNVV Việt Nam là thuộc thành phần kinh tế ngoài nhà nước

và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số các DN.

- DNNVV là nơi tạo ra việc làm chủ yếu ở Việt Nam

Với số lượng chiếm trên 97% tổng số các DN như vậy thì lẽ tất nhiên các

DNNVV cũng sẽ thu hút được một lực lượng lao động tương ứng.

Bảng 1.5: Tỷ trọng lao động theo loại hình DN năm 2007

Đơn vị: Người, tỷ lệ %

Số tuyệt đối (Người)

TỔNG SỐ

Doanh nghiệp Nhà nước

Trung ương

Địa phương

Doanh nghiệp ngoài Nhà nước

Tập thể

Tư nhân

Công ty hợp danh

Công ty TNHH

Công ty cổ phần có vốn Nhà nước

Cơng ty cổ phần khơng có vốn Nhà nước



7.382.160

1.763.117

1.299.149

463.968

3.933.182

149.475

513.390

622

1.940.125

434.564

895.006



Tỷ trọng (%)

100.00

23,88

17,60

6,28

53,28

2,02

6,95

0,01

26,28

5,89

12,13



3



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

C. NHÓM CÁC NƯỚC KINH TẾ ĐANG CHUYỂN ĐỔI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×