Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tỷ lệ bồi thường/

Tỷ lệ bồi thường/

Tải bản đầy đủ - 0trang

45



mức bồi thường, phương thức giải quyết bồi thường linh động và thoả đáng hơn.

Bên cạnh đó các trường hợp khách hàng khiếu nại được giải quyết kịp thời

theo chỉ tiêu thời gian đề ra chưa đáp ứng 100% , mặc dù trong những năm gần đây

Cơng ty đã tìm nhiều biện pháp đã giải quyết nhanh các khiếu nại của khách hàng

nhằm nâng cao uy tín cho dịch vụ.

Để công tác giải quyết khiếu nại của khách hàng được tiến hành nhanh chóng

và thuận lợi, tháng 07/2007, Cơng ty đã thành lập 2 Trung tâm tiếp nhận và giải đáp

thơng tin tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh với nhiệm vụ là tiếp nhận yêu cầu của

khách hàng đồng thời xử lý các thông tin kịp thời và chính xác, thời gian tiếp nhận

và trả lời thơng tin từ 7 giờ đến 20giờ hàng ngày.

Công ty đã triển khai dịch vụ cung cấp thông tin về bưu gửi chuyển phát

nhanh cho khách hàng thông qua dịch vụ nhắn tin trên mạng điện thoại di động.

Đồng thời từ ngày 01/09/2006, Cơng ty đã đưa tồn bộ các thơng tin về bưu gửi

EMS lên trang web của Công ty để khách hàng tự tra cứu thông tin về bưu gửi từ đó

giảm được tần suất khiếu nại.

 Chỉ tiêu bán kính phục vụ bình qn ( chỉ tiêu tiện lợi) :

Địa bàn hoạt động kinh doanh của Công ty là thơng qua mạng lưới Bưu

chính của 63 Bưu điện tỉnh, thành làm đại lý cho Cơng ty, ngồi ra tại 3 thành phố

lớn là: TP Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Cơng ty còn có 3 trung tâm khai

thác vùng và 13 điểm giao dịch, 4 Trung tâm dịch vụ khách hàng phục vụ nhu cầu

sử dụng dịch vụ của khách hàng. Các dịch vụ phong phú, đa dạng thoả mãn mọi

nhu cầu của khách hàng, hệ thống các điểm phục vụ được đầu tư trang thiết bị hiện

đại, nâng cao năng lực cạnh tranh. Với điều kiện mạng lưới ngày càng phát triển

như vậy đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc nâng cao chất lượng phục vụ dịch

vụ chuyển phát nhanh EMS trong những năm tiếp theo.

 Chỉ tiêu về thái độ phục vụ :

Tinh thần, thái độ phục vụ của đội ngũ nhân viên giao dịch, bưu tá, lái xe,

chăm sóc khách hàng ln hồ nhã, vui vẻ, tận tình, thanh tốn đơn giản, thuận tiện,



46



công bằng.

Thời gian mở cửa giao dịch từ 07h00 đến 2100 hàng ngày, kể cả ngày lễ, tết.

Nhìn chung chất lượng phục vụ ngày càng được nâng cao rõ rệt, nhưng vẫn

còn một số trường hợp khách hàng khơng hài lòng về phong cách phục vụ, về mức

độ tiện lợi của dịch vụ.... Tuy nhiên trong tương lai để thu hút được khách hàng sử

dụng dịch vụ EMS ngày càng nhiều thì điều quan trọng nhất là phải nâng cao chất

lượng phục vụ khách hàng nhằm làm cho khách hàng tin tưởng khi sử dụng dịch vụ.

Nhân viên không những ăn mặc lịch sự, đồng phục đẹp và gọn gàng, tận tình

chu đáo, hòa nhã mà còn biết lắng nghe ý kiến đóng góp của khách hàng và có kiến

thức nghiệp vụ để giải đáp, tư vấn cho khách hàng về dịch vụ.



2.2.4. Đánh giá những vấn đề về nâng cao chất lượng dịch vụ chuyển phát

nhanh của công ty CP Chuyển phát nhanh Bưu điện

Qua nghiên cứu xem xét thực trạng chất lượng chuyển phát nhanh của cơng ty

CP Chuyển phát nhanh Bưu điên, chúng ta có thể thấy dịch vụ chuyển phát nhanh

của Công ty Cổ phần Chuyển phát nhanh Bưu điện có lợi thế là một thương hiệu

dịch vụ của Bưu chính Việt Nam, ra đời sớm, có năng lực mạng lưới rộng lớn, có

thời điểm đã chiếm lĩnh phần lớn thị trường dịch vụ CPN trong nước và quốc

tế.“Tham khảo số liệu từ các cơ quan quản lý nhà nước cho thấy: có khoảng 400

doanh nghiệp BCCP tham gia cung ứng dịch vụ CPN, trong đó hơn 90% doanh

nghiệp có trụ sở tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, chỉ có chưa đầy 10% các doanh

nghiệp cung ứng dịch vụ nội tỉnh.Tính đến hết năm 2010, cả nước mới chỉ có 30

doanh nghiệp được cấp phép cung ứng dịch vụ chuyển phát thư; 25 doanh nghiệp

được xác nhận kinh doanh dịch vụ chuyển phát, trong số này có 15 doanh nghiệp

khơng được kinh doanh dịch vụ chuyển phát thư. Số lượng doanh nghiệp cung ứng

dịch vụ CPN quốc tế khoảng 150 doanh nghiệp, các doanh nghiệp này không tổ

chức cung ứng dịch vụ mà chỉ thực hiện công đoạn thu gom sản lượng chiều đi

quốc tế từ các doanh nghiệp BCCP trong nước, tái gửi các hãng CPN quốc tế ra

nước ngoài, hoặc mua tải của các hãng hàng không để chuyển trực tiếp sang Hub



47



của các hãng CPN quốc tế tại Singapore, Thái Lan, Trung Quốc...”

Hoạt động kinh doanh dịch vụ chuyển phát nhanh của cơng ty có nhiều ưu

điểm như mạng lưới rộng khắp, bưu cục đều tọa lạc tại các trung tâm dân cư, trung

tâm văn hóa xã hội, những ngả giao thơng, gần trường học, bệnh viện, bến cảng.

Ngồi ra còn có trang thiết bị hiện đại, hệ thống phân phối mạnh, thuận tiện cho

việc cung cấp dịch vụ; cơ sở vật chất kỹ thuật mạnh, thuận tiện cho việc cung cấp

dịch vụ; cơ sở vật chất kỹ thuật mạnh; phương tiện vận chuyển đáp ứng nhu cầu về

số lượng lẫn chất lượng; đội ngũ cán bộ công nhân viên giàu kinh nghiệm, nhanh

nhẹn, có truyền thống tốt đẹp. Đơn vị còn có nguồn vốn tương đối lớn, tạo điều kiện

thuận lợi cho việc đầu tư phát triển mạng lưới và hỗ trợ các hoạt động sản xuất kinh

doanh. Thị phần của công ty trên thị trường chuyển phát nhanh có tỷ trọng lớn, có

mối quan hệ hợp tác kinh doanh tốt với nhiều doanh nghiệp bưu chính trong nước

và nước ngồi, rất được tín nhiệm. .Hiện nay đã có đơn vị chủ quản dịch vụ chuyển

phát nhanh. Mỗi đơn vị chỉ đảm nhiệm và chỉ có trách nhiệm đối với một hoặc một

số cơng đoạn trong quy trình khai thác (khâu chấp nhận đến khâu phát trả tới khách

hàng). Các đơn vị đã có sự phối hợp trong tác nghiệp và quản lý dịch vụ. Do đó,

việc có một đơn vị đứng ra chủ quản dịch vụ là một lợi thế cạnh tranh vì tính chủ

động, linh hoạt trong tổ chức quản lý, khai thác kinh doanh và đảm báo tính nhanh

chóng cũng như chất lượng, hiệu quả dịch vụ.

Bên cạnh đó, VNPost Express cũng tồn tại nhiều hạn chế :

- Thứ nhất, theo cách hạch toán hiện nay, chỉ các đơn vị chấp nhận được ghi

thu. Trong khi đó, cơ chế nội bộ lại khuyến khích các đơn vị tăng doanh thu phát

sinh, nên nhiều trường hợp các đơn vị chỉ chú trọng vào khâu tiếp nhận hoặc các

sản phẩm trọn gói, còn các sản phẩm cơng đoạn khai thác, vận chuyển trung gian

nhiều khi bị lơ là không cố gắng giải quyết theo đúng thời hạn. Các đơn vị thực hiện

công đoạn trung gian đã được công ty tính đơn giá cơng đoạn theo sản lượng, nên

tạo cho các đơn vị sự yên tâm về tâm lý, chỉ cần lo về số lượng, chưa quan tâm tới

chất lượng. Điều này dẫn đến sự thiếu trách nhiệm trong việc đảm bảo chất lượng

dịch vụ và thời gian cung cấp, làm ảnh hưởng đến uy tín chung của dịch vụ EMS.



48



Việc đưa ra các dịch vụ phát trong ngày (PTN), phát hẹn giờ (PHG), Phát hồ sơ

thầu, hỏa tốc,... mới chỉ dừng lại ở việc đáp ứng cho những nhu cầu tìm đến mà

khơng thể biến một trong những dịch vụ này thành “qua đấm thép” tiên phong để

đẩy mạnh các chỉ tiêu doanh thu và tạo dấu ấn khác biệt với phần còn lại của thị

trường. Ngồi ra, việc ra đời dịch vụ Vexpress (VE) vào năm 2007 từ sự hợp tác

thử nghiệm giữa một số Bưu Điện tỉnh đã bước đầu giúp giải quyết bài toán tăng

doanh thu, được chủ động trong cung cấp dịch vụ và được hưởng doanh thu cao hơn

phần hoa hồng được hưởng từ việc cung cấp dịch vụ EMS.Việc tồn tại song hành

cùng hai dịch vụ CPN EMS và VE (khơng có sự khác biệt rõ ràng) như hiện nay

trong cùng một hệ thống cung cấp dịch vụ của Bưu chính Việt Nam đã nảy sinh

nhiều vấn đề gây kìm hãm sự phát triển của cả hai dịch vụ (cạnh tranh nội bộ về

dịch vụ trên cùng một địa bàn về giá cước, cơ chế bán hàng, chính sách CSKH...).

Trong nỗ lực tăng doanh thu, các bưu điện có thể sẵn sàng tư vấn khách hàng sử

dụng dịch vụ VE nhiều hơn và chỉ buộc phải sử dụng dịch vụ EMS tại những địa

bàn VE khơng thể cung cấp; lợi ích này lại ngược với công ty cổ phần khi mà sản

lượng các khu vực nội thành bị giảm trong khi áp lực của công ty cổ phần là hiệu

quả kinh doanh, phải giải bài tốn cân đối chi phí giữa sản lượng đi các khu vực

thành thị, vùng sâu vùng xa.

- Thứ hai, tổ chức quản lý: vừa phục vụ lại vừa kinh doanh nhưng cơ chế

chưa phân biệt rõ ràng nên khó tổ chức quản lý kinh doanh hiệu quả. Giá cước

điều chỉnh chậm và không linh hoạt nên một số mức cước được xây dựng từ lâu

song chưa được điều chỉnh hay để được điều chỉnh mất nhiều thời gian, quy trình

thực hiện còn khá rườm rà. Có thể thấy mơ hình quản lý điều hành tập trung của

các hãng Chuyển phát nhanh (CPN) quốc tế hiện có mặt tại Việt Nam đã được

một số doanh nghiệp BCCP tư nhân áp dụng và phát triển tương đối nhanh. Ưu

điểm của mơ hình này là đơn vị có thể giảm chi phí, cơng tác chỉ đạo điều hành

tập trung, nhanh và xun suốt,... Tuy nhiên, để áp dụng mơ hình này đòi hỏi hạ

tầng ứng dụng cơng nghệ cho dịch vụ cần đồng bộ, và với điều kiện địa lý trải

dài như nước ta thì việc áp dụng mơ hình này cũng cần được tính tốn và phân



49



tích kỹ để có thể áp dụng cho những địa bàn cụ thể. Mặc dù lĩnh trách nhiệm

chính trị phục vụ các cơ quan Đảng, Nhà nước, nhưng đối với các dịch vụ mang

tính kinh doanh như EMS thì việc áp dụng mơ hình quản lý, điều hành và cung

cấp dịch vụ tập trung của Bưu chính Việt Nam cũng cần phải tính đến trong điều

kiện nền tảng kỹ thuật công nghệ hiện nay hồn tồn có thể đáp ứng để bảo đảm

tính hiệu quả cao.

- Thứ ba, hoạt động marketing dịch vụ chuyển phát nhanh chưa được quan

tâm đúng mức và chưa được triển khai đồng bộ, mang tính chiến lược. Cơng tác

chăm sóc khách hàng chưa thực sự được quan tâm đầy dủ, chưa tạo được ấn tượng

đối với khách hàng về hình ảnh dịch vụ EMS trên tồn mạng lưới. Nghiên cứu thị

trường chưa được thực hiện thường xuyên nên chưa nắm bắt và dự báo kịp thời

nhu cầu của thị trường. Hiện nay nhiều khách hàng chưa thực sự tiếp cận với các

thông tin về các dịch vụ chuyển phát nhanh mà họ có nhu cầu sử dụng, nhiều

người hiểu biết một cách mù mờ. Chưa thực sự hấp dẫn khách hàng về mặt tâm lý

và tiện ích khi sử dụng dịch vụ. Thông tin thu thập được vê nhu cầu của khách

hàng chưa được tổng hợp phân tích một cách có hệ thống nhằm phục vụ cho cơng

tác phát triển dịch vụ mới. Vấn đề tiên quyết của đội ngũ bán hàng trực tiếp hiện

nay là thay đổi cách nhìn nhận của khách hàng về các dịch vụ bưu điện từ chậm

chạp, thụ động sang hình ảnh mới năng động, hướng về khách hàng; trên cơ sở đó,

người bán hàng mới có thể thực hiện tiếp các bước bán hàng tiếp theo một cách

thuận tiện.

- Thứ tư, về cơng nghệ: vẫn còn bưu gửi bị khiếu nại, phàn nàn, suy suyển,

chậm trễ, chưa có mạng định vị nên bưu điện nên khó truy tìm và thơng tin cho

khách hàng, nhiều thao tác thủ cơng, máy móc hiện đại thiếu. Đối với hệ thống định

vị bưu gửi EMS tại Việt Nam: Vào thời điểm Công ty nhận bàn giao dịch vụ có hai

chương trình phần mềm khai thác dịch vụ EMS: 1 chương trình EMS VDC do

VNPT trang bị cho các tỉnh và chương trình TTS98 do Cơng ty VPS tự phát triển.

Do hệ thống không đồng bộ, nên hệ thống thông tin phục vụ khai thác dịch vụ EMS

hầu như khơng sử dụng được, tồn bộ khâu khai thác, chia chọn, điều tra giải quyết



50



khiếu nại phải tiến hành thủ cơng, dẫn đến tình trạng hàng hố bị ứ đọng, giải quyết

khiếu nại với khách hàng chậm trễ. Để khắc phục tình trạng trên, vào tháng 4/2006

Cơng ty đã chủ động đầu tư xây dựng 1 phiên bản chương trình mới có khả năng

đáp ứng được các u cầu của dịch vụ dựa trên sự kết hợp tất cả các ưu điểm của 2

chương trình cũ.

 Việc cập nhật thơng tin và truy tìm bưu gửi trên hệ thống theo dõi và định

vị bưu gửi EMS được mô tả ở hình sau 2.1



52



Giao dịch Cơng ty

---------------- Số hiệu bưu gửi EMS

-Bưu cục nhận/nước

nhận

-Bưu cục phát/nước

phát.

- Khối lượng bưu gửi.

- Loại Bưu gửi (D/M)

- Thời gian chấp nhận



- Lập E2

- Giao túi

- Truyền SL



- Thời gian chấp nhận



Bưu điện tỉnh thành

phố phát EMS



Trung tâm KTCC

Trung tâm KTCC



(chiều đến )



(chiều đi )



-------------------



---------------------



Các Bưu điện tỉnh,tp làm

đại lý

------------ Số hiệu bưu gửi EMS

-Bưu cục nhận/nước nhận

-Bưu cục phát/nước phát.

- Khối lượng bưu gửi.

- Loại Bưu gửi (D/M)



- Lập E2

- Giao túi

- Truyền SL



- Xác nhận số liệu

nhận về

- Đối chiếu, sửa

chữa số liệu.

- Nhập thêm E1



-Lập E2 cho từng

tuyến phát



- Xác nhận số liệu

nhận về

- Đối chiếu, sửa

chữa số liệu

- Nhập thêm E1



-Giao túi

-Truyền SL

Bưu cục KT nội

tỉnh HN, TP

HCM, ĐN



(nếu thiếu)



Đội vận

chuyển

thuộc

Cty



( nếu thiếu)

- Lập E2



- Lập E2



- Giao túi



- Giao túi



- Truyền SL



- Truyền SL



- Lập E2

- Giao túi

- Truyền SL



Hình 2.1: Quy trình cập nhật thơng tin và truy tìm bưu gửi EMS

(Nguồn: Phòng QLNV – Cơng ty CP CPN BĐ)



53



Tuy nhiên sau một thời gian đưa vào khai thác, hệ thống định vị bưu gửi

EMS của Công ty còn một số hạn chế sau :

Mục tiêu của hệ thống định vị là khách hàng và nhà cung cấp có thể xác định

được vị trí bưu gửi khi nó đang được vận chuyển. Nhưng trên thực tế với hệ thống

hiện nay khách hàng chỉ có thể biết được bưu gửi của mình đã được vận chuyển qua

bưu cục nào chứ không thể biết được sắp tới bưu gửi của mình sẽ tới đâu. Nghĩa là

thơng qua hệ thống định vị khách hàng chưa thể kiểm sốt được tồn bộ chu trình

khai thác bưu gửi.

Hệ thống định vị bưu gửi EMS hiện nay của Công ty mới được kết nối giữa

các đơn vị trực thuộc Công ty với nhau bao gồm các điểm giao dịch của Công ty và

3 Trung tâm khai thác vùng, còn 63 đơn vị của VNPost tham gia làm đại lý với

Công ty lại sử dụng 1 phần mềm khai thác EMS2006 của Ban Post*Net trước đây

nên việc trao đổi dữ liệu chưa được đầy đủ, kịp thời, các bưu cục cấp 2 và bưu cục

cấp 3 chưa được kết nối. Do vậy đối với các bưu gửi chấp nhận tại các giao dịch của

Công ty và có địa chỉ nhận thuộc địa bàn phát của Cơng ty thì có đầy đủ dữ liệu từ

lúc chấp nhận đến khi phát, còn lại thì dữ liệu không đầy đủ, không được cập nhật

thông tin kịp thời.

- Thứ năm, nguồn nhân lực: hiện nay năng suất lao động còn thấp, đội ngữ

nhân viên còn thiếu những người có trình độ cao, giàu kinh nghiệm kinh doanh

trong mơi trường cạnh tranh gay gắt. Nhận thức của cán bộ cơng nhân viên còn

chưa chuyển biến kịp so với nhu cầu của thời cuộc, vẫn có tình trạng cửa quyền

hách dịch; kỹ năng giao tiếp với khách hàng còn yếu kém…

- Thứ sáu : đối với công tác phát triển dịch vụ: Qua điều tra, nghiên cứu thị

trường Công ty đã đưa ra một số dịch vụ mới đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của

khách hàng như dịch vụ EMS hoả tốc, dịch vụ EMS qùa biếu, EMS Visa.. Để duy

trì và phát triển thị phần dịch vụ chuyển phát nhanh EMS, EMS hoả tốc, EMS quà

biếu, EMS Visa...Công ty cần phải đầu tư xây dựng thống nhất trên tồn mạng lưới

các hoạt động quảng cáo, đa dạng hố chính sách khuyến mại và hồn thiện hệ

thống chăm sóc khách hàng. Thực hiện các biện pháp khuyến khích các đại lý phát



54



triển dịch vụ, tôn trọng quyền lợi của đại lý, thực hiện đúng các nội dung thoả thuận

trong hợp đồng đại lý trên cơ sở đảm bảo lợi ích của Cơng ty và đại lý. Cơng ty có

trách nhiệm hướng dẫn, tập huấn và cung cấp thông tin đầy đủ về hoạt động chăm

sóc khách hàng cho các đại lý. Kiểm tra, giám sát hoạt động chăm sóc khách hàng

tại các đại lý đảm bảo thực hiện đúng các qui định về chất lượng dịch vụ, giá cước

và chất lượng phục vụ khách hàng.

Hiện nay, Công ty chưa tổ chức đường thư riêng cho dịch vụ EMS mà vẫn

phải đi chung với chuyến thư bưu phẩm, bưu kiện, báo chí do đó ảnh hưởng đến chỉ

tiêu thời gian tồn trình của dịch vụ mà Cơng ty đã cơng bố. Mặc dù đã có sự phân

chia cước dịch vụ cho từng cơng đoạn, nhưng chưa có cơ chế thưởng phạt với các

Bưu điện tỉnh thành làm đại lý nên chưa tạo điều kiện để thúc đẩy những đơn vị làm

tốt và xử phạt những đơn vị thiếu trách nhiệm trong việc đảm bảo chất lượng và

thời gian cung cấp dịch vụ.



55



CHƯƠNG 3 : PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO

CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CHUYỂN PHÁT NHANH CỦA

CÔNG TY CỔ PHẦN CHUYỂN PHÁT NHANH BƯU ĐIỆN

3.1 Phương hướng nâng cao chất lượng dịch vụ của Công ty Cổ phần

Chuyển phát nhanh Bưu điện

3.1.1. Phương hướng kinh doanh của Công ty cổ phần chuyển phát nhanh

Bưu điện trong những năm tới

Với kinh nghiệm và các thành quả đạt được nhiều năm tham gia cung cấp

dịch vụ chuyển phát nhanh tại thị trường Việt Nam, hiện nay Công ty cổ phần

chuyển phát nhanh Bưu điện đã là nhà cung cấp dịch vụ có uy tín nhất định tại Việt

Nam. Để tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn mới, Công ty cổ phần chuyển

phát nhanh Bưu điện định hướng chiến lược họat động thời gian tới trên cơ sở phát

triển tài nguyên, hạ tầng mạng đã được đầu tư và mở rộng cơ hội hợp tác với mọi

đối tác để cùng chia sẻ những cơ hội và cùng thành công trong lĩnh vực cung cấp

dịch vụ chuyển phát nhanh với chất lượng tốt nhất tại Việt Nam.

Phát triển cơ sở hạ tầng :

Phát triển Bưu chính Việt Nam nói chung và dịch vụ chuyển phát nhanh nói

riêng hiện đại ngang tầm các nước tiên tiến trong khu vực. Đẩy nhanh việc xây

dựng mạng lưới chuyển phát nhanh có bố cục hợp lý, có mức độ bao phủ dịch vụ

rộng khắp cả nước, phục vụ thuận tiện cho người sử dụng. Ứng dụng công nghệ tiên

tiến của tin học, Viễn thông vào các khâu quản lý, khai thác và phát triển dịch vụ.

Tăng cường năng lực khâu vận chuyển, với các phương thức vận chuyển chuyên

ngành, kể cả máy bay chuyên ngành, có khả năng cơ động cao đáp ứng được chất

lượng thời gian, vận chuyển an tồn các loại hình dịch vụ. Hệ thống điểm phục vụ

bao gồm bưu cục, đại lý, điểm bưu điện văn hoá xã.... được phát triển rộng khắp,

phục vụ đa dịch vụ, chú trọng phát triển dịch vụ chuyển phát nhanh với các chỉ tiêu

cụ thể như sau: Năm 2010, đạt 14.000 – 15.000 điểm, có bán kính phục vụ bình



56



qn dưới 2,6 đến 2,7 km và số dân phục vụ đạt dưới 7.000 dân/ điểm phục vụ.

Năm 2020, bán kính phục vụ bình qn dưới 2,5 km và số dân phụ vụ dưới 6.000

dân/ điểm phục vụ.

Nâng cao chất lượng dịch vụ, chất lượng phục vụ, tăng diện phục vụ, đưa các

dịch vụ bưu chính truyền thống đến dần người dân hơn. Phát triển mạnh các dịch vụ

bưu chính mới có khả năng mang lại lợi nhuận như dịch vụ chuyển phát nhanh

EMS, dịch vụ Bưu chính uỷ thác, dịch vụ Datapost, dịch vụ tài chính, giao nhận

kho vận...nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, khả năng cạnh tranh, tăng doanh thu

lợi nhuận.

Phát triển dịch vụ

Phát triển nhanh, đa dạng hoá, khai thác một cách có hiệu quả các dịch vụ Bưu

chính trên cơ sở hạ tầng mạng lưới thông tin quốc gia tiên tiến, hiện đại, đáp ứng

được nhu cầu thông tin với giá cả phù hợp, phục vụ phát triển kinh tế xã hội, an

ninh quốc phòng, phục vụ sự nghiệp cơng nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cũng

như nhu cầu trao đổi thơng tin, tình cảm của nhân dân.

Tiếp tục phát triển các dịch vụ truyền thống, đồng thời thực hiện dịch vụ hướng

về thị trường, điều chỉnh cơ cấu dịch vụ, hình thành hệ thống dịch vụ đa dạng. Thực

hiện phân định dịch vụ, xác định cơng ích kinh doanh để có các hình thức đầu tư cho

phù hợp. Mở cửa cho phép hợp tác dịch vụ mang tính thương mại. Nhà nước chỉ giữ

các dịch vụ cơ bản mang tính phục vụ. Điều chỉnh cơ cấu dịch vụ theo hướng: Lấy dịch

vụ Bưu chính làm chủ thể, dịch vụ tài chính và tem chơi làm chỗ dựa, các dịch vụ gia

tăng như thu ngân, thanh toán, phân phối hàng hoá, kho hàng làm phần bổ sung. Đặc

biệt chú trọng phát triển các dịch vụ, đa dạng hoá nguồn thu. Trong phục vụ đầu cuối,

tích cực phổ biến hình thức đại lý, điểm phục vụ để bổ sung và mở rộng mạng lưới

kinh doanh dịch vụ. Chủ động xây dựng kế hoạch giảm bù lỗ trong thời gian ngắn nhất

và định hướng có lãi, chậm nhất vào năm 2013.

Việc phát triển, nâng cao chất lượng dịch vụ phải đi đôi với các biện pháp

nâng cao năng suất lao động, hạ chi phí giá thành dịch vụ. Thực hiện điều chỉnh cơ

cấu cước cho phù hợp với phát triển dịch vụ chuyển phát nhanh. Bãi bỏ cơ chế bao



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tỷ lệ bồi thường/

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×