Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2 :THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CHUYỂN PHÁT NHANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHUYỂN PHÁT NHANH BƯU ĐIỆN

CHƯƠNG 2 :THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CHUYỂN PHÁT NHANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHUYỂN PHÁT NHANH BƯU ĐIỆN

Tải bản đầy đủ - 0trang

18



Với uy tín và năng lực của mình, cơng ty đã được nhiều hãng chuyển phát

nhanh hàng đầu thế giới, như UPS, ABC, O.A.Cargo (Mỹ) ủy quyền thay mặt

làm thủ tục hải quan và phát hàng tại Việt Nam. Mới đây, VNPost Express đã mở

rộng hợp tác với các hãng mới như DPD của Công ty GeoPost, Aramex. Đặc

biệt, công ty đã ký với Bưu chính Trung Quốc triển khai dịch vụ kho vận, mở

tuyến đường thư bằng đường bộ Hà Nội - Quảng Đông, Quảng Tây, rút ngắn thời

gian chuyển hàng 1-3 ngày và giảm cước đến 52%. Để tăng sức cạnh tranh trên

thị trường, VNPost Express còn kết nối với bưu chính các nước: Séc, Hoa Kỳ,

Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc... nhằm nâng cao chất lượng EMS quốc tế và

triển khai các dịch vụ mới về kho vận, chuyển phát qua đường bộ. VNPost

Express đã đăng ký tham gia kế hoạch "Thanh toán theo chất lượng thực hiện"

với bưu chính của hơn 20 nước thuộc Liên minh Bưu chính thế giới (UPU).

Năm 2011 là năm thứ 6 VNPost Express hoạt động theo mơ hình cổ phần.

Nếu như 3 năm đầu công ty tập trung ổn định tổ chức, cải thiện chất lượng dịch

vụ, thì nay VNPost Express đã đặt ra mục tiêu phải nâng cao chất lượng dịch vụ

bằng cách tính tốn lại hành trình bưu gửi, từ đó xây dựng lại chỉ tiêu thời gian

tồn trình mới, nhằm rút ngắn hành trình bưu phẩm đi - đến tại nhiều tỉnh, thành

phố. Đến nay, dịch vụ EMS trong nước đã có mặt ở tất cả các tỉnh, thành phố

trên địa bàn cả nước và có mặt tại 102 quốc gia, vùng lãnh thổ.

Mạng lưới giao dịch của Công ty Cổ phần Chuyển phát nhanh Bưu điện

rộng khắp trên 63 tỉnh thành thành (bao gồm giao dịch của chi nhánh và đại lý)

với hơn 6.000 bưu cục và 3 trung tâm khai thác vùng tại Hà Nội, Thành phố Hồ

Chí Minh, Đà Nẵng.



2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

Cơng ty Cổ phần Chuyển phát nhanh Bưu Điện có các chức năng,

nhiệm vụ sau:

-



Tổ chức quản lý khai thác, kinh doanh và phát triển dịch vụ EMS, các dịch vụ



chuyển phát nhanh khác; dịch vụ vận chuyển, giao nhận hàng hóa và kho vận và các

dịch vụ khác được phép thực hiện trong và ngoài nước theo qui định của pháp luật.



19



-



Tổ chức quản lý, thực hiện việc hợp tác kinh doanh với các cơng ty nước



ngồi trong lĩnh vực chuyển phát nhanh, vận chuyển giao nhận hàng hóa và kho vận

cùng cá dịch vụ khác bằng các hình thức phù hợp với năng lực, khả năng thực hiện

của công ty theo qui định của pháp luật.

Công ty CP Chuyển phát nhanh Bưu Điện có quyền hạn sau :

-



Có quyền tự chủ đăng ký và thực hiện kinh doanh các ngành nghề mà pháp



luật không cấm, mở rộng qui mô theo khả năng của công ty và nhu cầu thị trường.

-



Có quyền tự chủ về tài chính, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của



Công ty để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, chiến lược kinh doanh của Công ty.

-



Tổ chức bộ máy quản lý, tổ chức các đơn vị sản xuất kinh doanh phù hợp với



mục tiêu, nhiệm vụ của Công ty; phân chia và điều chỉnh nguồn lực giữa các đơn vị

trực thuộc đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh.

-



Được quyền quyết định mức cước các dịch vụ chuyển phát nhanh, các dịch



vụ khác Công ty cung cấp phù hợp với quy định của Nhà nước.

-



Được quyền quyết định sử dụng và phân phối lợi nhuận còn lại cho các cổ



đơng sau khi hồn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước, lập và sử dụng các quỹ theo

quy định của Luật Doanh nghiệp và quyết định của Đại hội đồng cổ đông.

-



Đặt chi nhánh, văn phòng đại diện của Cơng ty ở trong nước và ngồi nước; góp



vốn liên doanh, đầu tư ra nước ngoài theo quy định của pháp luật và của Nhà nước.

-



Các quyền khác theo quy định của pháp luật

Ngành nghề kinh doanh của Công ty :



-



Kinh doanh các dịch vụ chuyển phát nhanh trong nước và quốc tế: Dịch vụ



chuyển phát nhanh EMS, dịch vụ chuyển phát nhanh trong ngày, dịch vụ chuyển

phát nhanh hàng nặng, hàng cồng kềnh và các sản phẩm khác;

-



Kinh doanh các dịch vụ vận chuyển, giao nhận hàng hố kho vận;



-



Kinh doanh nhà, văn phòng cho thuê;



-



Kinh doanh vật tư, thiết bị bưu chính viễn thông;



-



Quản lý, vận hành, lắp đặt, bảo dưỡng sửa chữa và khai thác các thiết bị,



phương tiện bưu chính viễn thơng;



20



-



Đại lý cung cấp các dịch vụ Bưu chính viễn thông.



Vốn điều lệ và cơ cấu vốn điều lệ:

-



Vốn điều lệ: Mức vốn ghi trong điều lệ của Công ty là 70 tỷ đồng, tương ứng



7.000.000 cổ phần.

-



Cơ cấu vốn điều lệ: Công ty CP Chuyển phát nhanh Bưu điện được thành lập



trên cơ sở vốn góp của ba cổ đơng sáng lập là pháp nhân và vốn góp khác.

Bảng 2.1 : Cơ cấu vốn điều lệ của Công ty



Tên cổ đông

VNPT

Công ty CP Xây lắp Bưu điện

Công ty Tài chính Bưu điện

Vốn góp khác



Tỷ lệ góp vốn



Vốn góp khi thành lập



(%)

70



(tỷ đồng)

49



10



7



10

7

10

7

(Nguồn : Công ty CP Chuyển phát nhanh Bưu điện)



2.1.3 Sản phẩm dịch vụ

Sản phẩm bưu chính nói chung và của Công ty Cổ phần Chuyển phát nhanh

Bưu điện nói riêng khơng phải là vật cụ thể tạo mới mà là hiệu quả của việc truyền

đưa tin tức (cụ thể là nhận vận chuyển và phát tài liệu, hàng hoá, thư từ) từ người

gửi đến người nhận, là chất lượng phục vụ. Các sản phẩm của Công ty Cổ phần

Chuyển phát nhanh Bưu điện là dịch vụ bưu chính chất lượng cao trong và ngồi

nước; các dịch vụ này đòi hỏi phải nhanh chóng, chính xác, thuận tiện; các dịch

vụ đều có chỉ tiêu thời gian quy định cho việc nhận gửi ,vận chuyển đã được

công bố sẵn.

Hiện nay Công ty Cổ phần Chuyển phát nhanh Bưu điện có các dịch vụ chính:

-



Dịch vụ chuyển phát nhanh EMS trong nước tới 64 tỉnh thành phố chiếm thị



phần 80%.

-



Dịch vụ chuyển phát nhanh EMS Quốc tế : tới 102 quốc gia và vùng lãnh



thổ. Chiếm thị phần khoảng 25%

-



EMS HSXT (hồ sơ xét tuyển vào các trường CĐ, Đại học).



-



EMS thoả thuận.



21



-



EMS VISA đi Mỹ.



-



EMS Hồ sơ và Hộ chiếu công vụ.



Dịch vụ gia tăng:

-



EMS Hỏa tốc.



-



EMS Hẹn giờ.



-



EMS phát ngày hôm sau (EMS NDD).



Dịch vụ cộng thêm: Nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, đến nay

dịch vụ EMS đã phát triển với 11 dịch vụ cộng thêm được sử dụng với dịch vụ EMS

trong nước như sau:

-



Dịch vụ phát tận tay.



-



Dịch vụ khai giá.



-



Dịch vụ báo phát (báo phát qua tin nhắn và báo phát ghi số).



-



Dịch vụ rút bưu gửi.



-



Thay đổi họ tên, địa chỉ người nhận.



-



Dịch vụ phát hàng thu tiền COD trong nước.



-



Dịch vụ nhận tại địa chỉ.



-



Dịch vụ Thu cước ở người nhận (EMSC).



-



Dịch vụ người nhận trả tiền (EMS PPA).



-



Dịch vụ EMS kiểm đếm.



-



Dịch vụ tra cứu bằng tin nhắn SMS 8176.



2.1.4 Quy trình khai thác dịch vụ chuyển phát nhanh của Công ty CP

Chuyển phát nhanh Bưu Điện

Quy trình sản xuất dịch vụ chuyển phát nhanh tại Cơng ty Cổ phần Chuyển phát

nhanh Bưu điện hầu như không có gì khác biệt so với các dịch vụ bưu chính thơng

thường và các cơng ty chuyển phát nhanh khác, bao gồm bốn công đoạn cụ thể:

-



Công đoạn nhận gửi: nhận gửi là cơng đoạn đầu tiên của quy trình được thực



22



hiện tại các bưu cục, đại lý bưu điện hiện đang mở dịch vụ chuyển phát nhanh, và

tại địa chỉ khách hàng. Đây là một khâu khá quan trọng trong quá trình khai thác

dịch vụ, là khâu tạo ấn tượng đầu tiên cho khách hàng về chất lượng dịch vụ. Trong

khâu này có sự khác biệt rõ nét giữa các dịch vụ bưu chính tuyền thống với dịch

vụ chuyển phát nhanh, ở đây khoảng thời gian chấp nhận bưu gửi được mở rộng

hơn cho cùng một chuyến thư (thời gian dành cho khách hàng có thể gửi bưu

phẩm chuyển phát nhanh sát với thời điểm xuất phát của các chuyển xe).

-



Công đoạn khai thác: là công đoạn sản xuất trung gian, thực hiện việc chia



chọn, phân hướng, đóng túi, mở túi bưu gửi. Công đoạn này được thực hiện tại

bưu cục gửi, bưu cục trung chuyển và bưu cục phát.

-



Công đoạn vận chuyển: là công đoạn sản xuất trung gian. Vận chuyển có



nghĩa là việc dịch chuyển vị trí về mặt không gian đối với bưu gửi, công đoạn

này gồm có: vận chuyển nội huyện, nội tỉnh/thành.

-



Cơng đoạn phát chuyển phát nhanh: tại công đoạn này bưu gửi sẽ được



chuyển đến người nhận. Cơng đoạn này có hai hình thức thực hiện là phát tại địa

chỉ người nhận và phát tại bưu cục đến.

Sản phẩm dịch vụ trong quá trình sản xuất, tùy từng trường hợp mà có thể

phải trải qua cả bốn cơng đoạn đó hoặc có thể ít hơn. Sản phẩm cũng có thể chỉ qua

một lần ở công đoạn này nhưng lại qua nhiều lần ở công đoạn khác. Đối với các

trường hợp cụ thể như vậy, các cơng đoạn trong quy trình sản xuất đều phải được

thực hiện theo những thủ tục tác nghiệp riêng, có các ấn phẩm riêng để theo dõi và

giám sát bưu gửi trong quá trình sản xuất. Những nội dng này được đề cập chi tiết

trong “Quy định nghiệp vụ chuyển phát nhanh” do VNPT ban hành.



2.1.5. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Cổ phần Chuyển phát

nhanh Bưu điện trong những năm qua

Kết quả sản xuất kinh doanh dịch vụ EMS trên toàn mạng lưới được thể

hiện trong bảng sau: (Số liệu được lấy từ VNPT và Công ty CP CPN Bưu Điện).

Bảng 2.2 : Sản lượng và doanh thu dịch vụ EMS trong nước



23



Năm

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

2009

2010

2011



Sản lượng



Tăng trưởng



Doanh thu



Tăng trưởng



(nghìn cái)

sản lượng (%)

(nghìn đồng)

doanh thu (%)

4.077

20,80

69.582.793

16,97

4.806

17,88

80.266.244

15,37

5.767

19,99

92.306.181

15,00

6.540

13,40

108.326.366

17,36

7.521

15,00

120.380.577

11,13

9.421

25,26

144.456.692

20,00

10.113

7,35

158.902.361

10,00

12.647

25,06

222.448.816

39,99

11.288

-10,76

205.373.065

- 7,68

11.010

- 2,46

213.989.737

4,20

10.627

-3,48

213.676.793

- 0,15

(Nguồn: VNPT và Công ty CP Chuyển phát nhanh Bưu điện)



Qua bảng sản lượng và doanh thu dịch vụ EMS trong nước, chúng ta có thể

thấy tốc độ tăng trưởng và doanh thu phát triển không đều, trong những năm gần

đây tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm, thậm chí còn sụt giảm. Giai đoạn từ

2001 đến 2006 sản lượng dịch vụ EMS tăng trưởng đều qua các năm, tốc độ tăng từ

13,4% đến 25,26%. Đến năm 2007 tốc độ tăng trưởng sản lượng EMS giảm xuống

còn 7,35%, tuy nhiên đến năm 2008 tốc độ tăng trưởng sản lượng lại tăng đột biến

với mức tăng trưởng 25,06%. Tuy nhiên VNPost đã không giữ được sự tăng trưởng

ổn định mà lại rơi vào sụt giảm sản lượng vào năm 2009 với sự sụt giảm hơn 10%.

Sang năm 2010 và 2011 sản lượng tiếp tục sụt giảm, tuy nhiên tốc độ sụt giảm giảm

hơn so với sự sụt giảm năm 2009 so với 2008, chỉ còn 2,46% và 3,48%.

Từ năm 2001 đến năm 2008, cùng với sự tăng trưởng của sản lượng, doanh

thu từ dịch vụ EMS trong nước cũng tăng trưởng với tốc độ tăng trưởng từ 10% đến

20%, riêng năm 2008 tốc độ doanh thu tăng trưởng lên đến gần 40%. Năm 2009, do

sự sụt giảm của số lượng EMS trong nước dẫn đến doanh thu từ dịch vụ này sụt

giảm mất 7.68%. Năm 2009, mặc dù số lượng EMS trong nước sụt giảm nhưng

doanh thu vẫn tăng 4.20%. Năm 2011, doanh thu lại sụt giảm, tuy nhiên mức độ sụt

giảm không nhiều, chỉ 0.15% so với năm 2010. Nhưng vấn đề đặt ra là với nếu nhìn

vào “ bề ngồi” của doanh thu thì mức giảm này tuy đúng là không cao nhưng sản

lượng lại giảm đến 3,48 % . Vậy thì đó chưa phải là dấu hiệu của sự ổn định mà nó

thể hiện sức ép lớn mà cơng ty phải đối mặt khi đó là nguy cơ bị thu hẹp thị phần,



24



sức ép cạnh tranh về chất lượng dịch vụ và chất lượng phục vụ, công tác hậu mãi,

chăm sóc khách hàng cũng như chuỗi giá trị các dịch vụ gia tăng cung cấp cho

khách hàng.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp bưu chính chuyển phát (BCCP) tham gia

cung ứng dịch vụ CPN quốc tế như W o r l d C o u r i e r , TMAlphaExpress, DSI

Express... do có được chính sách giá rất tốt (thấp hơn từ 40% - 60% trên bảng giá

công bố) từ các hãng quốc tế như DHL, Fedex, TNT, CityLink, Sagawa, UPS,...

được tổ chức rất gọn nhẹ, linh hoạt. Các doanh nghiệp này chỉ thực hiện thu gom

trực tiếp từ người gửi hoặc tư các doanh nghiệp BCCP khác rồi tái gửi qua các

hãng CPN quốc tế. Và điều này vơ hình chung đã tăng đối thủ cạnh tranh và ảnh

hưởng đến hoạt động kinh doanh EMS.

Diễn biến tình hình hoạt động kinh doanh EMS quốc tế có thể thấy qua bảng sau :

Bảng 2.3: Sản lượng và doanh thu dịch vụ EMS quốc tế

Sản lượng

(nghìn cái)



Năm



2001



297



2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

2009

2010

2011



349

408

439

457

434

415

380

394

449

449



Tăng trưởng sản

lượng (%)

19,16



Doanh thu

(nghìn đồng)



Tăng trưởng

doanh thu (%)



59.907,479



17,51

71.384.506

19,16

16,91

83.345.814

16,76

7,60

104.434.898

25,30

4,10

115.847.445

10,93

-5,03

116.022.778

0.15

-4,38

105.391.996

-9,16

-8,43

103.311.289

-1,97

3,68

103.641.708

0,32

13,96

122.012.987

17,73

0,00

124.718.374

2,22

(Nguồn: Tập đồn Bưu chính viễn thơng Việt Nam VNPT)



Xét về tổng thể cho thấy sản lượng, doanh thu kinh doanh dịch vụ EMS trên

toàn mạng lưới tương đối ổn định. Tuy nhiên, mức tăng trưởng của dịch vụ EMS là

không cao, qua bảng phân tích số liệu chi tiết cho thấy dịch vụ EMS trong nước lẫn

dịch vụ EMS quốc tế đều có chiều hướng tăng chậm và giảm dần. Một trong số

những nguyên nhân là do năm 2007, VNPT cho phép mọt số Bưu điện tỉnh có lưu



25



lượng lớn mở thêm dịch vụ “V-Express” và khi chấp nhận dịch vụ VE các Bưu điện

tỉnh được ghi 100% doanh thu cước nhưng đối với dịch vụ EMS các Bưu điện chỉ

làm đại lý nên doanh thu được tính theo từng cơng đoạn mà Bưu điện có tham gia,

mặt khác với tỷ lệ phân chia hiện nay các Bưu điện tỉnh chưa hoàn toàn thống nhất

nên dẫn đến tình trạng rất nhiều Bưu điện tỉnh khơng còn quan tâm vào dịch vụ

EMS mà chuyển sang phát triển dịch vụ VE, và đối với dịch vụ EMS đi quốc tế có

sự cạnh tranh gay gắt của các hãng chuyển phát nhanh quốc tế như : DHL, FEDEX,

UPS….. Các đối thủ này đã có nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh dịch vụ chuyển

phát quốc tế, hơn nữa họ ngày càng chú trọng việc nâng cao chất lượng dịch vụ

nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, trong khi đó dịch vụ EMS quốc tế mới bắt

đầu bước vào đổi mới tư duy kinh doanh.

Cụ thể, tình hình kinh doanh dịch vụ EMS quốc tế chiều đi và chiều đến như sau:

Bảng 2.4: Sản lượng và doanh thu dịch vụ EMS quốc tế chiều đi

Năm

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

2009

2010

2011



Sản lượng

Tăng trưởng

Doanh thu

Tăng trưởng

(nghìn cái)

sản lượng (%)

(nghìn đồng)

doanh thu (%)

144

9,09

46.241.122

12,36

163

13,19

53.587.311

15,89

204

25,15

63.768.899

19,00

215

5,39

82.802.406

29,85

247

14,88

91.082.647

10,00

225

-8,91

89.053.683

-2,23

185

-17,78

75.995.683

-14,66

129

-30,27

70.436.773

-7,31

123

-4,65

67.760.333

-3,80

126

2,44

76.580.566

13,02

110

-12,70

76.531.692

-0,06

(Nguồn: VNPT và Công ty CP Chuyển phát nhanh Bưu điện)



Từ năm 2001 đến 2005, sản lượng và doanh thu từ dịch vụ EMS quốc tế

chiều đi tăng trưởng đều qua các năm, tuy nhiên đến năm 2006 thì lại bắt đầu chứng

kiến sự sụt giảm và tiếp tục không tăng trưởng đến tận năm 2010. Năm 2010 sản

lượng và doanh thu dịch vụ EMS quốc tế chiều đi tăng nhưng không duy trì được

lâu, sang năm 2011 sự sụt giảm lại xuất hiện với 12.7% sụt giảm về sản lượng và

0.06% sụt giảm về doanh thu.

Bảng 2.5: Sản lượng và doanh thu dịch vụ EMS quốc tế chiều đến



26



Năm



Sản lượng



Tăng trưởng



Doanh thu



Tăng trưởng



(nghìn cái)



sản lượng (%)



(nghìn đồng)



doanh thu (%)



2001



153



10,07



13.666.357



4,88



2002



186



21,57



17.797.195



30,23



2003



204



9,68



19.576.915



10,00



2004



224



9,80



21.632.492



10,50



2005



210



-6,25



24.764.798



14,48



2006



209



-0,48



26.969.095



8,90



2007



230



10,05



29.396.313



9,00



2008



251



9,13



32.874.516



11,83



2009



271



7,97



35.881.375



9,15



2010



323



19,19



45.432.421



26,62



2011



339



4,95



48.186.682



6,06



(Nguồn: VNPT và Cơng ty CP Chuyển phát nhanh Bưu điện)



Tình hình kinh doanh dịch vụ EMS quốc tế chiều đi không nhiều thuận lợi và

tăng trưởng nhưng dịch vụ EMS quốc tế chiều đến vẫn tăng trưởng không ngừng qua các

năm. Ngoại trừ năm 2005 và 2006, sản lượng EMS quốc tế chiều đến giảm 6.25% và

0.48% nhưng doanh thu không hề sụt giảm, vẫn tăng 14.48% và 8.90%. Năm 2002 và

2010 tốc độ tăng trưởng về doanh thu lớn nhất, đạt 30.23% và 26.62%.



2.2. Phân tích, đánh giá chất lượng dịch vụ chuyển phát nhanh của Công

ty CP chuyển phát nhanh Bưu Điện

2.2.1. Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ chuyển phát

nhanh của công ty CP chuyển phát nhanh Bưu Điện

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ chuyển phát nhanh của

Công ty cổ phần chuyển phát nhanh Bưu điện, bao gồm các yếu tố từ môi trường

bên trong và các yếu tố từ mơi trường bên ngồi, cụ thể như sau:



2.2.1.1. Các yếu tố từ mơi trường bên ngồi

Một là, yếu tố kinh tế: Với tốc độ tăng trưởng kinh tế của cả nước ước đạt

5,23%, tuy thấp nhất trong vòng nhiều năm gần đây, Việt Nam vẫn là nước đứng



27



đầu ASEAN về tốc độ tăng trưởng, đồng thời nằm trong nhóm trên 10 nước có tăng

trưởng dương năm 2009…; Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, tỷ trọng ngành

dịch vụ trong GDP chiếm khoảng 39%. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân

được cải thiện rõ rệt, tính đến tháng 11/2009 tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống dưới 12%;

so với cùng kỳ năm 2008, số hộ đói nghèo giảm 31% và số nhân khẩu đói nghèo

giảm 27,6%. Sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn vừa qua đã ảnh

hưởng rất lớn tới mức sử dụng các dịch vụ bưu chính viễn thơng của Việt Nam.

Hai là, yếu tố chính trị, pháp luật: Việt Nam vẫn duy trì được một mơi trường

chính trị ổn định do đó các cơng ty nói chung và Cơng ty cổ phần Chuyển phát

nhanh Bưu điện hoàn toàn yên tâm đầu tư sản xuất và kinh doanh.

Luật Bưu chính viễn thơng chính thức có hiệu lực từ 01/01/2011 càng là một

động lực để ngành bưu chính viễn thơng phát huy tốt hơn các nguồn lực, thực hiện

triệt để hơn các nguyên tắc của kinh tế thị trường, đẩy mạnh việc hội nhập quốc tế

và bảo đảm việc thực hiện công bằng xã hội trong lĩnh vực bưu chính, tạo cơ hội

thuận lợi cho các doanh nghiệp mới tiếp cận thị trường.

Ba là, yếu tố đối thủ cạnh tranh hiện tại: Từ năm 1997 đến nay, ngồi VNPT

đã có thêm nhiều doanh nghiệp tham gia kinh doanh dịch vụ bưu chính. Đây là quy

luật vận động tất yếu của thị trường trong xu hướng hội nhập và được tạo điều kiện

thuận lợi bởi hành lang pháp lý của nhà nước, cho phép doanh nghiệp thuộc mọi

thành phần kinh tế được kinh doanh các dịch vụ chuyển phát thư chất lượng cao có

khối lượng đơn chiếc đến 2 kg. Như vậy, các dịch vụ bưu chính chất lượng cao và

có doanh thu cao đã được mở ra cạnh tranh. Nếu như trước đây chỉ có Bưu điện,

ngành đường sắt, ngành hàng khơng có dịch vụ chuyển phát thư từ và hàng hóa, bên

cạnh đó cũng chỉ có một vài hình thức chuyển phát khác bằng phương tiện ơ tơ

khách, ơ tơ tải thì cho đến nay số lượng nhà cung cấp trên thị trường dịch vụ chuyển

phát đã tăng lên rất nhiều. Đến tháng 10 năm 2009, đã có 18 nhà cung cấp dịch vụ

chuyển phát đã có đăng ký kinh doanh như: VNPost, Viettel (VPT), SPT, Tín

Thành, NetCo, Asean, Hợp Nhất, Hồng Long, Song Bình, Tân Sơn Nhất, Trường

Thịnh, Thành Lộc, TNT Viettrans,... và một số DN chưa đăng ký kinh doanh nhưng



28



đã được xác nhận thông báo hoạt động kinh doanh dịch vụ chuyển phát như: Mai

Linh, Kim Mã, ADP Vina, Hoàng Hà, Việt Đức, Bắc Hà,... và một số doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngồi như: TNT, DHL, Fedex, UPS,…

Đối với thị trường dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế thì các doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngồi đang chiếm ưu thế rõ rệt, dẫn đầu là DHL với thị phần là

36%. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO (năm 2006), một số công ty chuyển phát

nhanh quốc tế đã thay đổi cách tiếp cận với thị trường Việt Nam bằng cách thành

lập các liên doanh ví dụ như: DHL-VNPT Express, TNT Viettrans Express,… Các

công ty chuyển phát nhanh quốc tế chiếm ưu thế trên thị trường chuyển phát nhanh

quốc tế là do họ có nhiều lợi thế trong lĩnh vực này: tài chính, cơng nghệ, quản lý,

kinh nghiệm, thương hiệu toàn cầu và đặc biệt là yếu tố chất lượng. Một số lượng

đáng kể khách hàng thường xuyên sử dụng dịch vụ chuyển phát như các tổ chức

quốc tế, văn phòng đại diện, các cơng ty xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp dệt may

trong nước vẫn thường xuyên lựa chọn dịch vụ của các hãng chuyển phát nhanh

quốc tế như DHL, UPS, FEDEX, TNT.



Biểu đồ 2.1. Thị phần dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế tại Việt Nam năm 2009



Tuy nhiên, thị phần này dự báo sẽ thay đổi mạnh sau ngày 11.01.2012 - thời

khắc mở cửa hồn tồn thị trường bưu chính viễn thơng, trong đó có ngành chuyển

phát nhanh, theo cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO. Theo đó, các cơng ty

chuyển phát nhanh nước ngồi được phép thành lập cơng ty 100% vốn tại Việt



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2 :THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CHUYỂN PHÁT NHANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHUYỂN PHÁT NHANH BƯU ĐIỆN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×