Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 1.3 Đặc tính phản xạ phổ các đối tượng trong đô thị

Hình 1.3 Đặc tính phản xạ phổ các đối tượng trong đô thị

Tải bản đầy đủ - 0trang

trị đối với nội dung bản đồ. Trong đó, thành lập bản đồ lớp phủ mặt đất là một

trong những ứng dụng tiêu biểu và quan trọng của tư liệu viễn thám. Với bản

chất việc thu nhận ảnh là đo giá trị phần trăm phản xạ của năng lượng sóng

điện từ từ các đối tượng trên mặt đất, viễn thám có ưu thế cơ bản trong theo

dõi lớp phủ mặt đất, như lớp phủ rừng, đất ở dân cư đô thị, đất ở dân cư nông

thôn, đất trống, đất nông nghiệp, đất mặt nước,.... Do vậy, viễn thám ngày

càng có vai trò to lớn và ngày càng có mặt nhiều hơn trong nghiên cứu liên

quan tới tài nguyên thiên nhiên.

Nhu cầu về thông tin lớp phủ mặt đất đang ngày càng tăng trong các

bài toán nghiên cứu, quản lý biến đổi khơng gian đất đơ thị, trong các bài tốn

mơ hình dự báo thay đổi khơng gian đất đơ thị,… trong thành lập các bản đồ

hiện trạng và biến động lớp phủ mặt đất (hiện trạng lớp phủ mặt đất - hiện

trạng các thông tin miêu tả trạng thái lớp phủ mặt đất của thửa đất; hiện trạng

sử dụng đất - các thơng tin về mục đích sử dụng của thửa đất), trong quy

hoạch, hoạch định chính sách, lập kế hoạch sử dụng tài ngun và mơi

trường,….có khả năng đem lại các thông tin cần thiết ở những vùng mà khó

có thể sử dụng phương pháp mặt đất. Ngồi khả năng cung cấp thơng tin,

phương pháp viễn thám còn đem lại ưu thế về giá thành của việc thành lập

bản đồ.

Với đòi hỏi ngày càng cao của các nhu cầu nghiên cứu khoa học, nhất

là đòi hỏi phải có thơng tin chi tiết và tương đối thường xuyên về các vùng

khó tiếp cận của các nhà quản lý, nghiên cứu tài nguyên mặt đất, viễn thám đã

dần phát triển và trở thành một công cụ không thể thiếu. Tuy nhiên, nhiều

thơng tin chi tiết cần có sự nghiên cứu trực tiếp ngồi thực địa. Do vậy, việc

kết hợp giữa thơng tin từ ảnh viễn thám với thông tin từ thực địa sẽ đem lại

hiệu quả và độ tin cậy cao hơn.

Nghiên cứu khả năng khai thác thông tin chuyên đề từ tư liệu viễn

thám thực chất là nghiên cứu khả năng giải đốn các thơng tin là nội dung

chun đề của bản đồ từ tư liệu viễn thám.

22



Từ tư liệu viễn thám có thể giải đốn được các yếu tố nội dung sau:

- Hệ thống thuỷ văn.

- Địa hình.

- Lớp phủ thực vật.

- Thổ nhưỡng.

- Dân cư.

- Hệ thống giao thông.

Như vậy, với khả năng khai thác được những thông tin trên từ tư liệu

viễn thám cho phép xây dựng được bản đồ hiện trạng lớp phủ mặt đất từ các

tư liệu này.

Khi sử dụng ảnh viễn thám trong nghiên cứu thành lập bản đồ lớp phủ

mặt đất cũng gặp một số khó khăn như: Bóng địa hình ảnh hưởng lên đặc tính

phản xạ phổ. Để loại bỏ ảnh hưởng này cần phải có các mơ hình chính xác về

sự chiếu sáng của mặt trời lên địa hình trong quá trình thu ảnh; Ảnh hưởng

của mây và sương mù đối với việc thu nhận ảnh viễn thám quang học, chúng

làm cản trở phản xạ của các đối tượng bề mặt mặt đất tới vệ tinh, làm sai lệch

hoặc không thu nhận được phản xạ phổ của đối tượng. Để loại bỏ hạn chế

này, cần kết hợp ảnh đa thời gian (các ảnh chụp có thời gian rất gần nhau)

hoặc dùng kỹ thuật mặt nạ để che các vùng mây.

1.6.1.5. Một số tư liệu viễn thám đang được sử dụng phục vụ nghiên cứu biến

động lớp phủ mặt đất tại Việt Nam

Tư liệu viễn thám vệ tinh trên thế giới rất đa dạng và phong phú, và

được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau. Khi nói tới tư liệu viễn thám,

người ta quan tâm đến một trong những đặc tính quan trọng của chúng là độ

phân giải. Trong nhiều trường hợp để ứng dụng cho mục đích nghiên cứu cụ

thể, độ phân giải là tiêu chuẩn để lựa chọn tư liệu viễn thám. Có 3 loại độ

phân giải: độ phân giải khơng gian (còn gọi là độ phân giải mặt đất), độ phân

giải phổ và độ phân giải thời gian.

Căn cứ vào độ phân giải khơng gian có thể chia tư liệu viễn thám

thành 3 nhóm chính:

- Độ phân giải cao và siêu cao.

23



- Độ phân giải trung bình.

- Độ phân giải thấp.

Đại diện cho nhóm ảnh viễn thám có độ phân giải cao và siêu cao là

nhóm ảnh vệ tinh QUICKBIRD, IKONOS có độ phân giải từ vài chục cen-timet đến vài mét. Do giá thành cao, ở Việt Nam các loại ảnh nhóm này ít phổ

biến. Thường được sử dụng để thành lập bản đồ tỉ lệ lớn.

Các ảnh vệ tinh LANDSAT, SPOT, ASTER có độ phân giải từ 15 mét

đến 30 mét là đại diện cho nhóm tư liệu có độ phân giải trung bình.

Đại diện cho nhóm có độ phân giải thấp là các ảnh vệ tinh MODIS,

NOAA có độ phân giải khơng gian từ 250 đến 1000 m. Những ưu điểm nổi

bật của tư liệu ảnh nhóm này là tính bao trùm lãnh thổ lớn, chu kỳ thu nhận

ảnh ngắn (2 ngày) và thông tin được ghi ở nhiều dải phổ khác nhau.

Hiện nay ở Việt Nam đang sử dụng nhiều loại tư liệu ảnh viễn thám

khác nhau cho các mục đích nghiên cứu và quản lý tài nguyên thiên nhiên,

thành lập các loại bản đồ phục vụ công tác quản lý kinh tế - xã hội.

1.6.1.6. Chiết xuất thông tin trên ảnh viễn thám

Thông tin trên ảnh được chiết xuất theo nhiều phương pháp khác nhau, có

thể chia làm hai nhóm chính: Giải đốn bằng mắt thường và xử lý số.

a. Giải đoán bằng mắt thường là phương pháp khoanh định các vật

thể cũng như xác định trạng thái của chúng nhờ phân biệt các đặc tính yếu tố

ảnh (Độ sáng, kiến trúc, kiểu mẫu, hình dạng, kích thước, bóng, vị trí, màu)

và các yếu tố địa kỹ thuật. Cơ sở để giải đoán bằng mắt là các chuẩn giải đốn

và khóa giải đốn. Phương pháp này có thể khai thác các tri thức chuyên gia

và kinh nghiệm của người giải đoán, đồng thời phân tích được các thơng tin

phân bố khơng gian một cách dễ dàng. Kết quả giải đoán phụ thuộc rất nhiều

vào khả năng của người phân tích. Tất nhiên, hạn chế của giải đốn bằng mắt

là khơng nhận biết được hết các đặc tính phổ của đối tượng, nguyên nhân là

do khả năng phân biệt sự khác biệt về phổ của mắt người hạn chế (12-14

mức). Tuy nhiên, với các đất đơ thị và khu dân cư thì việc giải đốn bằng mắt



24



thường là khơng khả thi do kích thước các đối tượng này nhỏ hơn kích thước

của pixel rất nhiều và mắt con người hồn tồn khơng có khả năng phân biệt.

Như vậy trong giải đoán bằng mắt phải nắm bắt và phân biệt được các

dấu hiệu giải đoán, cơng việc đó đòi hỏi người giải đốn phải có kiến thức

chun mơn vững để có thể kết hợp tốt các kiến thức trong q trình giải đốn

ảnh và chỉ có vậy mới có thể đưa ra kết quả chính xác. Với mục tiêu chiết

xuất thông tin và nghiên cứu biến động sử dụng đất luận văn sử dụng phương

pháp giải đoán bằng mắt.

b. Phương pháp xử lý ảnh số là phương pháp phân tích tư liệu viễn

thám dạng hình ảnh số. Ưu thế của phương pháp xử lý số là có thể phân tích

được tín hiệu phổ rất chi tiết (256 mức hoặc hơn). Với sự trợ giúp của máy

tính và các phần mềm chun dụng, có thể tách chiết rất nhiều thơng tin phổ

của đối tượng, từ đó có thể nhận biết các đối tượng một cách tự động. Tất

nhiên q trình xử lý số cần có sự kết hợp nhuần nhuyễn với kiến thức chuyên

môn của người phân tích, hoặc người lập trình các chương trình tính tốn có

ưu điểm nổi bật là thời gian xử lý ngắn, việc phân loại đối tượng được tiến

hành nhanh chóng trên phạm vi rộng mà không cần nhiều công đi thực địa,

cơng việc thực hiện hồn tồn dựa vào cấp độ xám của pixel nên kết quả thu

được khách quan khơng phụ thuộc chủ quan của người giải đốn. Nhược điểm

cơ bản của phương pháp xử lý số là khó kết hợp tri thức và kinh nghiệm của

con người. Đồng thời do xử lý số chỉ thuần túy dựa vào đặc trưng phản xạ

phổ của các đối tượng nên còn có sự nhầm lẫn cho việc phân tích thơng tin

của một số đối tượng. Để khắc phục được nhược điểm này, trong những năm

gần đây người ta đang nghiên cứu và ngày càng hồn thiện các chương trình

ứng dụng xử lý ảnh số có khả năng mơ phỏng tri thức chuyên môn của con

người phục vụ cho việc phân loại tự động (Phạm Văn Cự, 2005)



25



Trong luận văn, các ảnh viễn thám độ phân giải cao (SPOT 3 và SPOT

5) được áp dụng để đánh giá biến động sử dụng đất khu vực nghiên cứu.

1.6.1.7. Các phương pháp đánh giá biến động đối tượng mặt đất trên cơ sở

sử dụng dữ liệu viễn thám đa thời gian

Việc nghiên cứu đánh giá biến động đối tượng mặt đất trên cơ sở sử dụng

dữ liệu viễn thám đa thời gian, yêu cầu đối với dữ liệu viễn thám gồm có:

- Tư liệu ảnh được chụp cùng bộ cảm hoặc tương tự.

- Tư liệu ảnh phải có cùng độ phân giải khơng gian, cùng tầm nhìn (độ

cao bay chụp, các băng phổ, độ phân giải phổ), cùng mùa.

- Tư liệu ảnh đa thời gian.

Trên đây là điều kiện lý tưởng khi nghiên cứu biến động đối tượng mặt

đất trên cơ sở sử dụng dữ liệu viễn thám. Nhưng nếu các tư liệu ảnh thu thập

khơng thoả mãn những điều kiện trên thì phải tiến hành thêm các bước xử lý

khác nhau như hiệu chỉnh phổ, hiệu chỉnh khí quyển và nắn chỉnh hình học. Độ

tin cậy của quá trình nghiên cứu biến động đối tượng mặt đất cũng bị ảnh

hưởng nhiều bởi các nhân tố mơi trường có thể thay đổi giữa các thời điểm

chụp ảnh. Cùng với hiệu ứng của khí quyển, những nhân tố như mực nước hồ,

sóng triều, gió, hay độ ẩm của đất cũng rất quan trọng. Thậm trí với các ảnh

chụp cùng thời điểm nhưng khác năm thì những ảnh hưởng như sự thay đổi của

lịch gieo trồng, mùa vụ cũng phải được tính đến.

Có bốn phương pháp đánh giá biến động đối tượng mặt đất chủ yếu sau:

* Phương pháp 1: Phân tích sau phân loại

Đây là phương pháp đơn giản, dễ thực hiện. Tiến hành phân loại độc

lập hai ảnh chụp ở hai thời kỳ khác nhau. Thường sử dụng ma trận chéo để tính

tốn tương quan biến động giữa các đối tượng, lập được các báo cáo số liệu thống

kê và bản đồ biến động. Độ chính xác của phương pháp này phụ thuộc chặt chẽ

vào độ chính xác của từng phép phân loại độc lập, các sai số xuất hiện ở mỗi

lần phân loại ảnh sẽ bị lẫn trong quá trình điều tra biến động.

26



Việc phân loại có thể sử dụng phương pháp phân loại không kiểm định,

ta chia mức độ xám của ảnh ra các cấp khác nhau rồi phân loại ảnh theo các

mức xám đó. Với phân loại có kiểm định, ta phải định nghĩa rõ ràng các lớp

phân loại và lựa chọn có tính đến đặc thù của tư liệu ảnh, sau đó chọn đặc tính

phổ hoặc cấu trúc cho phép phân biệt các lớp cần được tập hợp, chọn vùng

mẫu và chọn lựa phương pháp phân loại.

Ảnh 1



Phân loại



Ảnh 2



Phân loại



Đánh giá

biến động



Sơ đồ 1.1. Phương pháp phân tích sau phân loại

Luận văn áp dụng phương pháp này trong đánh giá biến động đất đô thị

* Phương pháp 2: Phân loại trực tiếp từ ảnh đa thời gian

Phương pháp này thực chất là phương pháp ghép hai ảnh vào nhau

thành ảnh đa thời gian trước khi phân loại. Hai ảnh có N kênh được chồng

phủ lên tạo ra một ảnh có 2N kênh. Với phương pháp này chỉ phải phân loại

một lần cho ảnh đa thời gian và có thể phân loại có kiểm định hoặc khơng

kiểm định. Độ chính xác của phương pháp này phụ thuộc vào sự khác biệt

phổ giữa các lớp có thay đổi và khơng thay đổi (nếu lấy mẫu thì phải lấy tất

cả các mẫu không biến động cũng như các mẫu biến động).

Ảnh 1

Phân loại



Đánh giá

biến động



Ảnh 2

Sơ đồ 1.2. Phương pháp phân loại trực tiếp từ ảnh đa thời gian

* Phương pháp 3: Nhận biết thay đổi phổ

Phương pháp này sử dụng các kỹ thuật khác nhau để từ hai ảnh ban đầu

tạo nên một kênh hay nhiều kênh ảnh mới thể hiện sự thay đổi phổ. Sự khác

biệt hoặc tương tự phổ giữa các pixel có thể được tính theo từng pixel hoặc

tính trên tồn cảnh cùng với tính trên từng pixel. Phương pháp này đòi hỏi

27



nắn chỉnh hình học phải có sai số nhỏ hơn 1 pixel.

Kết quả của việc so sánh là tạo ra một ảnh chỉ rõ những khu vực có

thay đổi và khơng thay đổi cũng như mức độ thay đổi (gọi là ảnh thay đổi).

Khi ảnh này được tạo ra để phân định rõ các pixel thay đổi và mức độ thay

đổi thì cần phải có một vài bước xử lý tiếp theo, trong đó quan trọng nhất là

kỹ thuật phân ngưỡng. Phân ngưỡng thực chất là việc định nghĩa mức độ mà

tại đó ta coi là có sự thay đổi. Phương pháp xác định ngưỡng được sử dụng

nhiều nhất là phân tích hàm phân bố của sự thay đổi.

Ảnh 1



Tính tốn

khác biệt



Phân loại



Ảnh 2



Sơ đồ 1.3. Phương pháp nhận biết thay đổi phổ

* Phương pháp 4: Kết hợp

Phương pháp này sử dụng phương pháp nhận biết thay đổi phổ để chỉ

ra các vùng có thay đổi và sau đó chỉ áp dụng phương pháp phân loại cho

những vùng thay đổi để định danh sự thay đổi đó.

Ảnh 1



Phân loại

Đánh giá biến động



Ảnh 2



Phân loại



Phân loại



Sơ đồ 1.4. Phương pháp kết hợp

1.6.2 Hệ thống thông tin địa lý

1.6.2.1. Khái niệm

Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System – gọi tắt là

GIS) là hệ thống trong máy tính có thể thực hiện được các cơng đoạn nhập dữ

liệu, phân tích dữ liệu và trình bày dữ liệu, đặc biệt là khi chúng ta phải làm

việc với dữ liệu có tham chiếu địa lý.

28



- Thu thập và chuẩn bị dữ liệu

- Quản trị dữ liệu

- Thao tác và phân tích dữ liệu

- Biểu diễn dữ liệu

Tuỳ thuộc vào mối quan tâm trong từng ứng dụng riêng biệt, một GIS có

thể được xem như kho dữ liệu (nghĩa là một hệ thống lưu trữ dữ liệu không

gian), một hộp công cụ, một công nghệ, một nguồn thông tin hoặc là một lĩnh

vực khoa học.

1.6.2.2 Kiến trúc phần mềm và các chức năng của GIS

Hệ thống thông tin địa lý, theo nghĩa rộng hơn gồm có phần mềm, dữ

liệu, con người và tổ chức mà nó hoạt động trong đó.

Nh ập l iệu



Cơ sở d ữ l iệu



Tr u y v ấn v à

ph ân t íc h



Xu ất d ÷ l iƯu v µ

t r ùc q u a n h ã a



Hình 1.4. Các hợp phần chức năng của GIS

Đối với một GIS cụ thể, mỗi một mô-đun có thể cung cấp nhiều hoặc

chỉ một vài chức năng. Bên cạnh việc nhập dữ liệu, lưu trữ và bảo trì, phân

tích và xuất dữ liệu, các cơng đoạn trong xử lý thơng tin địa lý còn liên quan

đến việc trao đổi thông tin, cũng như các vấn đề gắn với việc xử lý dữ liệu

một cách có hiệu quả trong bối cảnh của tổ chức.

1.6.2.3 Các bước xử lý dữ liệu không gian

- Thu thập và chuẩn bị dữ liệu: Trước khi dữ liệu địa lý có thể được

dùng cho GIS, dữ liệu này phải được chuyển sang dạng số thích hợp. Q

trình chuyển dữ liệu từ bản đồ giấy sang các file dữ liệu dạng số được gọi là

q trình số hố.

Cơng nghệ GIS hiện đại có thể thực hiện tự động hồn tồn q trình

này với cơng nghệ quét ảnh cho các đối tượng lớn; những đối tượng nhỏ hơn

29



đòi hỏi một số q trình số hố thủ cơng (dùng bàn số hố). Ngày nay, nhiều

dạng dữ liệu địa lý thực sự có các định dạng tương thích GIS. Những dữ liệu

này có thể thu được từ các nhà cung cấp dữ liệu và được nhập trực tiếp vào

GIS.

Ngày nay dữ liệu dạng số lưu trong nhiều phương tiện khác nhau và

trên máy tính đang được sử dụng ngày càng nhiều. Dữ liệu sau khi được số

hoá theo một khn dạng nào đó, chưa chắc đã sử dụng được trong một hệ

thống xác định vì khn dạng dữ liệu được tạo ra trong quá trình thu thập dữ

liệu chưa chắc đã là khuôn dạng cần thiết để lưu trữ và sử dụng trong các

bước tiếp theo. Vì vậy cần phải có cách chuyển đổi dữ liệu.

Các chức năng biến đổi khuôn dạng: cho phép biến đổi dữ liệu từ

khuôn dạng này sang khuôn dạng khác giữa các hệ thống khác nhau hoặc các

cách biểu diễn khác nhau, chẳng hạn như chuyển đổi tệp tin từ DXF vào một

GIS nào đó.

Nắn hình học hỗ trợ tạo dữ liệu bằng cách số hóa từ nguồn là bản đồ

trên giấy đã được nắn về hệ tọa độ toàn cầu. Các thao tác này chuyển đổi tọa

độ từ tọa độ của thiết bị (tọa độ của bàn số hóa hoặc của màn hình) sang tọa

độ tồn cầu (tọa độ địa lý, tọa độ phẳng đo bằng mét...)

Lưới chiếu bản đồ cung cấp các phương tiện để đưa tọa độ địa lý về

mặt phẳng (trong thành lập bản đồ và ngược lại).

Tiếp biên là quá trình nối ghép hai tờ bản đồ, chẳng hạn, sau khi chúng

đã được số hóa một cách riêng biệt. Tại các biên bản đồ, các phần của một đối

tượng phải khớp nhau và được nối liền thành một.

Biên tập các đối tượng đồ họa cho phép chỉnh sửa các đối tượng đã

được số hóa nhằm loại bỏ các lỗi, chuẩn bị cho việc làm sạch dữ liệu để tạo

các topo (topology buiding).

Lược điểm là quá trình thường được áp dụng để loại bỏ những đỉnh

thừa hoặc giảm số đỉnh không cần thiết từ các đường đã được số hóa.

Các chức năng trên đây hỗ trợ cho việc thu thập và chuyển đổi dữ liệu

cho phù hợp với khuôn dạng đã được xác định để lưu trữ dữ liệu khơng gian.



30



1.6.2.4 Lưu trữ và bảo trì dữ liệu không gian

Lưu trữ một cách đúng đắn là cực kỳ quan trọng đối với mọi việc xử lý

và tìm hiểu nó sau này. Trong phần lớn những hệ thống hiện có, dữ liệu khơng

gian được tổ chức thành các lớp (layer) theo những chuyên đề hay tỷ lệ khác

nhau. Chẳng hạn, dữ liệu có thể được tổ chức theo hạng mục chuyên đề như

sử dụng đất, địa hình và hành chính, hoặc theo tỷ lệ bản đồ. Một nhu cầu hoặc

một nguyên tắc cơ bản quan trọng là sự biểu diễn thế giới thực cần phải thiết

kế sao cho phản ánh được hiện tượng và các mối quan hệ của chúng càng

chân thực càng tốt.

Trong CSDL không gian, các đối tượng được thực hiện theo thuộc tính

(đồ họa và phi đồ họa) và những mối quan hệ của chúng. Tính hình học của

những đối tượng được biểu diễn theo dạng nguyên thủy của chiều tương ứng:

Cối xay gió có thể biểu diễn là một điểm, cánh đồng có thể biểu diễn là một

vùng. Dạng nguyên thủy hoặc tuân theo phương pháp vector, như ví dụ trên,

hoặc tuân theo phương pháp raster.

Các loại dữ liệu vector mô tả một đối tượng theo đường bao của nó, do

đó chúng chia khơng gian thành các phần bị bao phủ bởi đối tượng tương ứng.

Phương pháp raster chia không gian thành các ô (đều nhau) trong 2D

(2chiều), và gọi là voxel ( phần tử thể tích) trong 3D (3chiều). Dữ liệu sẽ biểu

thị cho từng ô mà đối tượng của thế giới thực bao phủ, trong trường hợp nó

biểu diễn trường rời rạc. Bảng 1.2 liệt kê những điểm mạnh và điểm yếu của

việc biểu diễn dạng raster và vector.

Bảng 1.3. So sánh các phép biểu diễn Raster và Vector

Biểu diễn dạng raster

Ưu điểm

Cấu trúc dữ liệu đơn giản

Dễ thực hiện phép trồng phủ

(overlay)

Xử lý ảnh hiệu quả



Biểu diễn dạng vector

Biểu diễn topology hiệu quả

Phù hợp với việc thay đổi tỷ lệ

Cho phép biểu diễn mạng lưới đường

Cho phép liên kết với dữ liệu thuộc

tính một cách dễ dàng

31



Biểu diễn dạng raster

Biểu diễn dạng vector

Nhược điểm

- Cấu trúc dữ liệu cồng kềnh

- Cấu trúc dữ liệu phức tạp

- Khó biểu diễn topology

- Khó thực hiện phép chồng phủ

- Đường bao của ô không trùng với - Không hiệu quả cho việc sử lý ảnh

- Cập nhật khó khăn hơn

đường bao của đối tượng

Những nguyên tắc, lưu trữ dạng raster là đơn giản. Tệp tin raster có thể

là một bộ dữ liệu khá lớn.

- Dữ liệu khơng gian (vector) là dữ liệu thuộc tính thường được lưu trữ

theo những cấu trúc riêng biệt. Một vài kiểu mơ hình đường bao, như đã trình

bày ở trên được dùng đối với dữ liệu không gian, trong khi dữ liệu thuộc tính

được lưu ở một khn dạng kiểu bảng nào đó. Thơng thường các đối tượng

vecter được gán những giá trị để nhận biết, và các giá trị thuộc tính trong

bảng sẽ sử dụng những giá trị đó để tham chiếu. Đó là cách để liên kết dữ liệu

thuộc tính với dữ liệu vector

- Các gói phần mềm GIS đảm bảo hỗ trợ cho cả dữ liệu không gian và

dữ liêu thuộc tính, nghĩa là chúng hỗ trợ việc lưu trữ dữ liệu không gian theo

phương pháp vector, và lưu dữ liệu thuộc tính bằng các bảng. Tuy nhiên về

mặt lịch sử, những hệ quản trị CSDL ( database management system-DBMS)

mới dựa trên các bảng để lưu trữ dữ liệu. Ngày nay, hầu hết các GIS đều cho

phép liên kết với DBMS và trao đổi dữ liệu thuộc tính với nó.

- Việc bảo trì dữ liệu (khơng gian) có thể được định nghĩa như là những

hoạt động phối hợp nhằm dữ cho dữ liệu luôn được cập nhật kịp thời và hỗ trợ

ở mức tốt nhất. Nó liên quan tới việc thu thập dữ liệu mới và nhập chúng vào

thành hệ thống, thay thế dữ liệu đã lạc hậu khi cần. Mục đích là sẵn sàng cập

nhật, lưu trữ tập dữ liệu.

1.6.2.5 Truy vấn và phân tích khơng gian

Phần khác biệt nhất của GIS là những chức năng phân tích khơng gian,

nghĩa là các phép tính tốn sử dụng dữ liệu không gian để tạo được những

thông tin địa lý mới. Truy vấn khơng gian và mơ hình sử lý đóng vai trò quan

32



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 1.3 Đặc tính phản xạ phổ các đối tượng trong đô thị

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×