Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
• Các hợp chất polyene

• Các hợp chất polyene

Tải bản đầy đủ - 0trang

Từ loài hải miên Haliclona sp. thu ở vịnh Eilat, một polyacetylen mới đã

được phân lập, đó là haliclonyne (64) [12]. Một hợp chất ceramide mới Ndocosanoyl-D-erythro-(2S,3R)-16-methyl-heptadecasphing-4(E)-enine (65) được

phân lập từ lồi hải miên Haliclona koremella được thơng báo là có hoạt tính chống

gỉ và chống nấm tảo [17]. Richard và cộng sự đã công bố khả năng kháng nấm của

các rượu ankyl amino (66-80) được phân lập từ một loài hải miên thuộc chi

Haliclona thu ở vùng biển nhiệt đới. Các hợp chất thu được đều là những hợp chất

mới. Các hợp chất này đều có khả năng hoạt động như một tác nhân chống nấm và

ức chế sự phát triển của ấu trùng Herdmania curvata [13].



20



Một loạt các chất mới cerebroside (81-88) đã được phân lập từ một lồi hải

miên Haliclona sp [24]. Trước đó, lớp chất này đã được thơng báo có khả năng

kháng u, gây độc tế bào, kháng nấm, chống gỉ. Từ loài hải miên Haliclona

lunisimilis thu tại Point Loma, California, mười hai hợp chất polyacetylene chứa clo

đã được phân lập 89-100 [14]. Trong đó, các hợp chất (1Z,3Z)-1-chlorohexadeca1,3-diene-5,7-diyne-14-ol



(98),



(1Z,3E,9Z)-15-acetoxy-1-chlorohexadeca-5,7-



diyne-1,3,9-triene (99) và (1Z,3E)-14-acetoxy-1-chlorohexadeca-1,3-diene-5,7diyne (100) là những chất mới.



21



1.1.3.2. Ở Việt Nam

Cho đến nay, có rất ít các nghiên cứu trong nước về thành phần hóa học cũng

như hoạt tính sinh học của chi Haliclona. Năm 2012, nhóm nghiên cứu của PGS.

TS Phan Văn Kiệm đã cơng bố phân lập được 5 hợp chất từ loài Haliclona

subarmigera [3].



Năm 2015, cũng nhóm nghiên cứu này đã cơng bố phân lập năm hợp chất

steroid (106-110) và hai hợp chất brominate lipid (111-112) từ lồi hải miên

Haliclona oculata, trong đó hợp chất 107 thể hiện hoạt tính khá mạnh trên các dòng

tế bào ung thư biểu mơ KB và ung thư phổi LU-1 với giá trị IC 50 trong khoảng 8,749,32 μM[29].



22



1.1.4. Vài nét về bệnh ung thư

Ung thư là một nhóm các bệnh liên quan đến việc phân chia tế bào một

cách vô tổ chức và những tế bào đó có khả năng xâm lấn những mơ khác bằng cách

phát triển trực tiếp vào mô lân cận hoặc di chuyển đến nơi xa (di căn). Mọi sinh vật

đều được cấu tạo bằng tế bào, các tế bào họp thành các mô, các mô họp thành các

cơ quan và các cơ quan họp thành cơ thể. Vì vậy, bất cứ cơ quan nào và cơ thể sinh

vật nào cũng có thể bị ung thư. Trên thế giới, mỗi năm có khoảng 6 triệu người chết

vì ung thư. Hiện nay, ung thư là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ hai ở Mỹ (chỉ

đứng sau bệnh tim mạch). Trong 30 năm trước, 50% dân Mỹ được chẩn đoán mắc

bệnh ung thư đều tử vong trong vòng 5 năm. Ngày nay, tỷ lệ sống sót trong vòng 5

năm đạt 65%.



Hình 2. Hình thái tổ chức của mơ từ dạng bình thường đến khi phát triển thành

khối u[2]

Nguyên nhân gây ung thư là sự sai hỏng của ADN, tạo nên các đột biến ở

các gen thiết yếu điều khiển quá trình phân bào cũng như các cơ chế quan trọng

khác. Một hoặc nhiều đột biến được tích lũy lại sẽ gây ra sự tăng sinh khơng kiểm

sốt và tạo thành khối u. Khối u là một khối mơ bất thường, có thể ác tính, tức ung

thư hoặc lành tính, tức khơng ung thư. Chỉ những khối u ác tính thì mới xâm lấn mơ

khác và di căn. Ung thư có thể gây ra nhiều triệu chứng khác nhau phụ thuộc vào vị

trí, đặc điểm và khả năng di căn của khối u. Chẩn đốn xác định ung thư thường đòi

hỏi phải sinh thiết rồi quan sát trên kính hiển vi. Người bị ung thư có thể được chữa

trị bằng phẫu thuật, hóa trị liệu hoặc xạ trị liệu.



23



Nếu không được chữa trị sớm, hầu hết các loại ung thư có thể gây tử vong,

đây là một trong những nguyên nhân gây tử vong chính trong những nước phát

triển. Hầu hết các bệnh ung thư có thể chữa trị và nhiều bệnh có thể chữa lành, nếu

được phát hiện và điều trị sớm. Nhiều dạng ung thư có liên quan đến các yếu tố mơi

trường mà có thể tránh khỏi. Hút thuốc lá là một trong những yếu tố gây nguy cơ

ung thư nhiều nhất.

Ung thư có thể được phân loại dựa theo tính chất giải phẫu bệnh hoặc theo

cơ quan bị tổn thương. Các tế bào ung thư trong một khối u (bao gồm cả tế bào đã

di căn) đều xuất phát từ một tế bào duy nhất phân chia mà thành. Do đó một bệnh

ung thư có thể được phân loại theo loại tế bào khởi phát và theo vị trí của tế bào đó.

Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, người ta không xác định được khối u nguyên

phát.

* Ung thư biểu mơ (carcinoma) có nguồn gốc từ tế bào biểu mơ (ví dụ như ở

ống tiêu hóa hay các tuyến tiêu hố).

* Bệnh lý huyết học ác tính (hematological malignancy), như bệnh bạch

cầu (leukemia) và u lympho bào (lymphoma), xuất phát từ máu và tủy xương.

* Ung thư mô liên kết (sarcoma) là nhóm ung thư xuất phát từ mơ liên kết,

xương hay cơ.

* U hắc tố do rối loạn của tế bào sắc tố.

* U ác bắt nguồn từ các tế bào mầm.

Báo cáo thống kê bệnh ung thư hàng năm của Hiệp hội Ung thư Hoa Kì nhận

thấy tỷ lệ tử vong do bệnh ung thư trong vòng hai thập kỷ qua giảm hơn 20 phần

trăm trong tổng số nguy cơ tử vong do bệnh ung thư trong cùng khoảng thời gian

đó. Báo cáo Thống kê bệnh ung thư năm 2014 nhận thấy: tỷ lệ tử vong do bệnh ung

thư ở đàn ông da đen giảm nhiều nhất, khoảng 50 phần trăm, tuy nhiên tỷ lệ mắc

bệnh ung thư và tử vong của đàn ơng da đen có tỉ lệ cao nhất, người Mỹ gốc Á có tỉ

lệ mắc và tử vong do bệnh ung thư thấp nhất.



24



Báo cáo cũng ước tính có 1.665.540 trường hợp ung thư mới mắc và 585.720

ca tử vong do bệnh ung thư ở Hoa Kỳ vào năm 2014. Ở nam giới: ung thư tuyến

tiền liệt, ung thư phổi và ung thư đại tràng sẽ chiếm khoảng một nửa trong tổng số

các bệnh ung thư được chẩn đốn mới, trong đó ung thư tuyến tiền liệt đứng hàng

đầu trong 4 loại ung thư trên. Ba bệnh ung thư phổ biến nhất trong năm 2014 ở nữ

giới là: ung thư vú, ung thư phổi và ung thư đại tràng, chiếm khoảng 50% . Ung thư

vú dự kiến chiếm 29% trong tổng số tất cả các bệnh ung thư mới mắc ở nữ giới.

Ước tính 585.720 ca tử vong do ung thư vào năm 2014, tương ứng khoảng

1.600 trường hợp tử vong mỗi ngày. Ung thư phổi, ung thư đại tràng, ung thư tuyến

tiền liệt và ung thư vú tiếp tục là nguyên nhân gây tử vong phổ biến nhất, chiếm gần

một nửa trong tổng số các trường hợp tử vong do ung thư ở nam giới và nữ giới.

Ung thư phổi là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng đầu trong bốn bệnh ung thư

trên.

John R. Seffrin, tiến sĩ, giám đốc điều hành của Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ

cho biết: “Sự tiến bộ của chúng ta là rất tốt, đáng chú ý, nhưng chúng ta cần phải

làm tốt hơn. Giảm một nửa nguy cơ tử vong do ung thư ở đàn ông da đen trung niên

chỉ trong hai thập kỷ qua là bất thường, nhưng ngay lập tức nó được làm giảm đi

bởi tỷ lệ tử vong của đàn ông da đen vẫn cao hơn đàn ông da trắng trong hầu hết các

bệnh ung thư chính và các bệnh ung thư nói chung”[1].



25



CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Nguyên liệu: Mẫu hải miên Haliclona varia được thu thập tại Cô Tô – Quảng

Ninh vào tháng 3 năm 2014. Tên khoa học được giám định bởi PGS.TS. Đỗ Công

Thung, Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, Viện Hàn lâm Khoa học và Công

nghệ Việt Nam. Mẫu tiêu bản được lưu giữ tại Viện Hoá sinh biển, Viện Hàn lâm

Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Viện Tài nguyên Môi trường biển.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp phân lập các hợp chất

• Sắc ký lớp mỏng (TLC)

Sắc ký lớp mỏng được thực hiện trên bản mỏng tráng sẵn DC-Alufolien 60

F254 (Merck 1,05715), RP18 F254s (Merck). Phát hiện chất bằng đèn tử ngoại ở hai

bước sóng 254 nm và 365 nm hoặc dùng thuốc thử là dung dịch H 2SO4 10% được

phun đều lên bản mỏng, sấy khô rồi hơ nóng từ từ trên bếp điện đến khi hiện màu.

• Sắc ký lớp mỏng điều chế

Sắc ký lớp mỏng điều chế thực hiện trên bản mỏng tráng sẵn silica gel 60G

F254 (Merck 1,05875), phát hiện vệt chất bằng đèn tử ngoại hai bước sóng 254 nm

và 365 nm, hoặc cắt rìa bản mỏng để phun thuốc thử là dung dịch H 2SO4 10%, hơ

nóng để phát hiện vệt chất; ghép lại bản mỏng như cũ để xác định vùng chất; sau đó

cạo lớp silica gel có chất, giải hấp phụ và tinh chế lại bằng cách kết tinh trong dung

mơi thích hợp.

• Sắc ký cột (CC)

Sắc ký cột được tiến hành với chất hấp phụ là silica gel pha thường và chất

hấp phụ pha đảo. Silica gel pha thường có cỡ hạt là 0,040-0,063 mm (240-430

mesh). Chất hấp phụ pha đảo là octadecylsilyl (ODS) hoặc YMC (30-50 µm,



26



FuJisilisa Chemical Ltd.). Nhựa trao đổi ion Diaion HP-20 (Misubishi Chem. Ind.

Co., Ltd.).

2.2.2. Phương pháp xác định cấu trúc hoá học các hợp chất

Phương pháp chung để xác định cấu trúc hoá học của các hợp chất là sự kết

hợp xác định giữa các thông số vật lý với các phương pháp phổ hiện đại bao gồm:

Phổ cộng hưởng từ hạt nhân

Phổ NMR đo trên các máy: máy Bruker AM500 FT-NMR Spectrometer của

Viện Hố học, Viện Hàn lâm Khoa học và Cơng nghệ Việt Nam. Chất nội chuẩn là

TMS (Tetrametyl silan).

Các kỹ thuật phổ cộng hưởng từ hạt nhân được sử dụng bao gờm:

• Phở cộng hưởng từ hạt nhân một chiều: 1H-NMR, 13C-NMR và DEPT.

• Phở cộng hưởng từ hạt nhân hai chiều: HSQC, HMBC và COSY

• Dung mơi được sử dụng bao gồm các dung môi: CD3OD hoặc CDCl3.

Phổ khối lượng

Phổ khối lượng được đo trên máy Agilent 1100 của Viện Hố sinh biển, Viện

Hàn lâm Khoa học và Cơng nghệ Việt Nam.

Độ quay cực [α ]D

Độ quay cực được đo trên máy JASCO DIP-1000 KUY polarimeter của Viện

Hóa sinh biển, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

2.2.3. Phương pháp đánh giá hoạt tính gây độc tế bào in vitro

• Nguyên liệu

Các hoạt chất được pha ở nồng độ gốc là 4 mg/ml trong DMSO 100%. Sau

đó, được pha lỗng để có nồng độ cuối cùng trong giếng thử là 100 µg/ml trong các

phép thử sàng lọc. Ở các phép thử xác định nồng độ ức chế 50% sự phát triển tế bào

ung thư IC50, các mẫu được tiếp tục pha loãng 5 lần trong 4 lần liên tục để tạo loạt

nồng độ bằng DMSO 10%. Các dòng tế bào ung thư bao gồm: KB, LU-1, SK-Mel2,



27



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

• Các hợp chất polyene

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×