Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
• Các hợp chất alkaloid

• Các hợp chất alkaloid

Tải bản đầy đủ - 0trang

Một nghiên cứu khác cho biết hai hợp chất papuamine (24) và

haliclonadiamine (25), được phân lập từ một loài hải miên Haliclona sp. thuộc vùng

biển Indonesia. Hợp chất (24) và (25) thể hiện hoạt tính ức chế sự phát triển các

dòng tế bào ung thư người: ung thư vú (MCF-7), ung thư tuyến tiền liệt (LNCaP),

ung thư đại trực tràng (Caco-7) với giá trị IC 50 trong khoảng 0,93~4,44 µM [38].

Haliclonacyclamine A (26) được phân lập từ loài hải miên Haliclona sp. (thu tại

quần đảo Solomon) thể hiện hoạt tính kháng chủng vi trùng sốt rét Plasmodium

falciparum FCB1. Và trong thử nghiệm in vivo, hợp chất này có khả năng chống lại

chủng sốt rét Plasmodium vinckei petteri trên chuột [23]. Từ mẫu hải miên H.

vicosa được thu thập ở vùng biển Spitsbergen, Na Uy, Christoph và cộng sự đã phân

lập được 7 hợp chất mới: viscosamine (27), haliclamine C-F (28-31), cyclic



15



monome (32), trime vicosamine (33) và một chất đã biết cyclostellettamine C (34).

Kết quả sàng lọc cho thấy dịch chiết metanol từ lồi H. vicosa có hoạt tính kháng

sinh mạnh [35]. Trong các hợp chất alkaloid được phân lập từ một lồi hải miên

Haliclona sp. thu ở biển Thái Bình Dương, có 2 hợp chất mới là dimeric 3alkylpyridinium alkaloid (35) và trimeric 3-alkylpyridinium alkaloid (36) [11].



Hagit và cộng sự thông báo ba hợp chất alkaloid mới: isohalitulin (37),

haliclorensin B (38) và C (39) được phân lập từ loài hải miên H. tulearensis thu ở

vịnh Salary. Các hợp chất 37, 38 và 39 thể hiện độc tính trung bình đối với ấu trùng

tơm biển (Artemia salina). Trong đó, hợp chất 37 cho thấy một tiềm năng lớn hơn,

với giá trị LD50 0,9 µM, trong khi 38 và 39 có giá trị LD50 là 2,2 và 2,1 µM [33].

Cũng từ lồi này thu ở vịnh Sodwana, Durban, nhóm nghiên cứu trên đã phân lập

được ba hợp chất halitulin (40), haliclorensin (41) và isohaclirensin (42).

Từ loài Haliclona sp., Masayoshi và các cộng sự đã phân lập được ba

ankaloid, trong đó có một hợp chất mới là 22-hydroxyhaliclonacyclamine B (43) và

hai hợp chất đã biết, haliclonacyclamine A (44) và haliclonacyclamine B (45). Các

hợp chất 44 và 45 cho thấy khả năng kháng vi trùng lao rất mạnh với hai chủng

Mycobacterium smegmatis và BCG [25].



16



Một hợp chất mới có tên là haliclonin A (46) thuộc khung diamine

macrocylic được Kyoung và cộng sự phân lập từ loài hải miên thuộc chi Haliclona.

Hợp chất này được thơng báo có hoạt tính gây độc tế bào trung bình và kháng sinh

mạnh đối với các chủng vi khuẩn khác nhau [20]. Salicylihalamide A (47) và B (48)

được Karen và cộng sự được phân lập từ loài hải miên Haliclona sp. Lớp chất này

được đánh giá có hoạt tính gây độc tế bào cực mạnh và có tiềm năng phát triển

thành thuốc chống ung thư [15]. Blaine và Phillip đã thông báo và xác định một hợp

chất thuộc khung sesquiterpene dị vòng, helianane (49), từ lồi H. fascigera. Hợp

chất này lần đầu được phân lập từ thiên nhiên. Trong thử nghiệm hoạt tính gây độc

tế bào, hợp chất 49 có khả năng kháng lại dòng tế bào bạch cầu ở chuột P-388, tế

bào ung thư phởi người A-549, dòng tế bào ung thư đại tràng người HCT-8, ung thư

vú người MCF-7 và nhiều dòng tế bào khác [16].



17



Từ lồi hải miên H. nigra (vùng biển Papua New Guinea), Mohamad và cộng

sự đã phân lập được hai hợp chất mới có tên là haligramide A (50) và B (51). Cả hai

hợp chất này đều được thơng báo là có hoạt tính gây độc tế bào đối với một số dòng

tế bào ung thư người (A-549, HCT-15, SF-539 và SNB-19). Giá trị IC 50 của hợp

chất 50 trong khoảng 5,17-15,62 (µg/mL) và của hợp chất 51 trong khoảng 3,898,82 mg/mL [31]. Hợp chất mới haliclorensin (52) được Gainit và cộng sự phân lập

từ loài hải miên H. tulearensis thu ở vùng vịnh Sodwana, Durban, Nam Phi ở độ sâu

15 m. Trước đó, dịch chiết thơ của lồi hải miên này được đánh giá là có hoạt tính

gây độc tế bào mạnh với dòng tế bào ung thư bạch cầu chuột P-388 với giá trị IC 50

0,1 mg/mL [21].



Hai alkaloid isoquinolin được phân lập từ một loài hải miên thuộc chi

Haliclona (Philippine). Trong đó, một hợp chất mới là 1-hydroxymethyl-7methoxyisoquinolin-6-ol (53) và một hợp chất đã biết là mimosamycin (54). Trong

thử nghiệm hoạt tính gây độc tế bào, hợp chất 54 thể hiện hoạt tính kháng u đối với

khối u ác tính LOX và các dòng tế bào khối u buồng trứng người OVCAR-3 [32].



18



• Các hợp chất polyene



Từ lồi Haliclona tubifera thu ở vùng biển Brazil, Taduesz và cộng sự đã phân

lập được 2 hợp chất sphingoid có tên là halisphingosine A (55) và B (56) [27]. Từ loài

hải miên Haliclona cyemaformis thu tại vùng biển Hàn Quốc, một loạt các hợp chất 1glyceryl ete được phân lập (57-62). Các hợp chất này được thơng báo là có khả năng

gây độc tế bào yếu với dòng tế bào ung thư cở tử cung Hela [5]. Một axit béo không no

chứa brom được phân lập từ một loài hải miên thuộc chi Haliclona và được xác định là

mới có tên là 6-bromoicosa-3Z,5E,8Z,13E,15E-pentaene-11,19-diynoic acid (63) [6].



19



Từ loài hải miên Haliclona sp. thu ở vịnh Eilat, một polyacetylen mới đã

được phân lập, đó là haliclonyne (64) [12]. Một hợp chất ceramide mới Ndocosanoyl-D-erythro-(2S,3R)-16-methyl-heptadecasphing-4(E)-enine (65) được

phân lập từ lồi hải miên Haliclona koremella được thơng báo là có hoạt tính chống

gỉ và chống nấm tảo [17]. Richard và cộng sự đã công bố khả năng kháng nấm của

các rượu ankyl amino (66-80) được phân lập từ một loài hải miên thuộc chi

Haliclona thu ở vùng biển nhiệt đới. Các hợp chất thu được đều là những hợp chất

mới. Các hợp chất này đều có khả năng hoạt động như một tác nhân chống nấm và

ức chế sự phát triển của ấu trùng Herdmania curvata [13].



20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

• Các hợp chất alkaloid

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×