Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Khái quát chung về họ hành tỏi:

Khái quát chung về họ hành tỏi:

Tải bản đầy đủ - 0trang

đất, lượng mưa, nhiệt độ, độ cao so với mực nước biển, thời điểm gieo trồng trong

năm và chế độ nghiêm ngặt của nước tưới…

Tỏi là loại cây thảo volng một năm. Thân thực hình trụ, phía dưới mang nhiều

rễ phụ, phía trên có nhiều lá. Lá cứng, hình dài, thẳng dài 15-50cm, rộng 1- 2,5cm

có rãnh khía, mép lá hơi ráp. Phần dưới của lá phía gốc có một chồi nhỏ sau này

phát triển thành một tép tỏi; các tép này nằm chung trong một cái bao (do các bẹ lá

trước tạo ra) thành một củ tỏi tức là thân hành (giò) của tỏi. Hoa mọc ở ngọn thân

trên, một cán hoa dài 55cm hay hơn. Bao hoa màu trắng hay hồng bao bởi nhiều

tán, rơi rụng thành mũi nhọn dài. Hoa mọc thành cụm trên đầu một trục hình trụ từ

thân củ kéo dài ra. Cụm hoa là một tán giả hình cầu, màu trắng, đỏ hoặc xanh nhạt.

Phần hay được sử dụng nhất của cả cây tỏi là củ tỏi. Củ tỏi có thể có một hoặc nhiều

tép. Từng tép tỏi cũng như cả củ tỏi đều có lớp vỏ mỏng bảo vệ. Tỏi sinh trưởng tốt

trong mơi trường nóng và ẩm .



13



Hình 2: Cây tỏi

1.2.2. Thành phần trong tỏi

Tỏi có chứa 0.1-0.36% các hợp chất dầu dễ bay hơi quy định cho các tính chất

dược lí của tỏi. Tỏi có chứa ít nhất 33 hợp chất sulfur như aliin, allicin, ajoene,

allylpropl, diallyl, trisulfide, sallylcysteine, vinyldithiines, s-allylmercaptocystein,

và các hợp chất khác. Bên cạnh các hợp chất sulfur còn có chứa 17 amino axit,

đường, arginine và các chất khác. Khoáng chất như selenium và enzym như

allinase, peroxidases, myrosinase, và một vài enzym khác. Tỏi chứa hàm lượng cao

hợp chất sulfur hơn bất kì cây họ hành nào. Hợp chất lưu huỳnh quyết định cả mùi

hăng của tỏi và nhiều dược tính khác. Mùi được hình thành bởi phản ứng của enzym

allinase với hợp chất sulfur alliin. Enzym này bất hoạt bởi nhiệt độ là nguyên nhân

tỏi nấu chín khơng có mùi mạnh như tỏi volng và hoạt tính sinh học cũng ít hơn .

1.3. Allicin

Từ hàng nghìn năm trước tỏi đã được biết đến có nhiều tiềm năng y học đặc

biệt. Trong lịch sử, tỏi đã được sử dụng để chữa bệnh thương hàn, bệnh dại. Thực

sự, sau khi Cavallito phát hiện ra allicin – một hoạt chất quan trọng của tỏi năm

1944 đã có tới 1500 cơng bố khoa học và vô vol các nghiên cứu khác xung quanh

vấn đề dược học của tỏi . Vì vậy, người xưa đã đặt cho tỏi những biệt hiệu: thần

dược, thuốc trị bách bệnh. Trong những thập niên gần đây, cùng với sự phát triển

của 2 loại bệnh tim mạch và ung thư, các nhà khoa học đặc biệt quan tâm đến tác

dụng chống oxy hóa, chống đột biến tế bào, hạ độ mỡ trong máu và làm giảm nguy



14



cơ máu đơng của tỏi. Nhiều cơng trình nghiên cứu đã chứng minh tỏi có tác dụng

giảm lượng cholesterol trong máu . Giảm tỉ lệ tử vong và tim mạch ở những người

mắc bệnh cao huyết áp . Chống đông máu , làm giảm nguy cơ ung thư dạ dày và

ung thư tuyến tiền liệt , chữa cảm lạnh . Trong đó, tỏi là một thảo dược có hoạt chất

quan trọng tổng hợp allicin - chất có khả năng chống oxy hóa mạnh nhất, có thể

ngăn chặn các q trình trên. Tuy nhiên allicin không tồn tại trong tỏi cho đến khi

tỏi bị đập nát kích thích sự hoạt động của enzym allinase, chất chuyển hóa alliin

thành allicin . Thêm vào đó allicin lại tiếp tục chuyển hóa thành vinyldithiines. Q

trình này xảy ra trong vòng vài giờ ở nhiệt độ phòng và vài phút khi đun nóng .

Allilcin có tác dụng kháng khuẩn chống lại được nhiều virut, vi khuẩn, nấm

và kí sinh trùng . Allicin được mơ tả với các khái niệm khác nhau như diallyl

thiosulphinate, allylsuiphide hay s-(2-propenyl) 2-propene-1-sulfinothioate. Phần

hoạt động mạnh nhất của phân tử allicin là liên kết đôi S=S với phân tử. Đây là một

liên kết rất hoạt động nó mang đến cho allicin đặc tính kháng sinh. Trước khi kháng

sinh thương mại được sản xuất dịch chiết tỏi được dùng để chữa các bệnh lây

nhiễm rộng như kiết lỵ, volt phát ban, dịch tả, bệnh đậu mùa và bệnh lao. Lớp

kháng sinh đầu tiên là sulphonamides, được phát minh đầu tiên những năm 1930 và

lí do nó thành cơng rực rỡ vì nó chứa nhóm sulfer hoạt động giống như nhóm

sulfer của allicin.



Hình 3: Cấu trúc allicin



15



1.3.1. Quá trình sinh tổng hợp của allicin tự nhiên

Allicin là 2-propene-1-sulfinothioc axit s-2-propenyl este. Allicin được tạo ra

bởi một phản ứng enzym khi tỏi được nghiền nát. Allicin không tồn tại trong tỏi

trong tự nhiên, thay vào đó tỏi chứa amio axit alliin. Enzym alliinase được lưu giữ

trong một ngăn riêng biệt, chỉ khi tỏi bị nghiền nát thì các phản ứng dây chuyền mới

bắt đầu xảy ra. Phức hợp alliin và alliinase enzym được hình thành khi có sự hiện

diện của nước. Phức hợp khơng bền vững này tiếp tục bị mất nước bởi tác động của

pyridoxal phosphate và chuyển thành allyl sulfenic axit, pyruvic axit và ammoniac.



Quá trình tổng hợp allyl sulfenic axit

Allyl sulfenic axit không bền vững và hoạt động rất mạnh ở nhiệt độ phòng. Tiếp

tục loại bỏ nước và hai phân tử allyl sulfenic axit kết hợp để tạo allicin .



Allyl sulfenic axit bị loại bỏ nước để tạo thành allicin

Ở nhiệt độ phòng những biến đổi enzym xảy ra trong 10-15 phút. pH tối ưu là

6.5 và nhiệt độ là 33oC. Năng lượng tác động để allicin phân hủy là 14.7kJ/mol.

Enzym alliinase cực kì nhạy cảm với axit. Bằng cách thêm retinol 10 -5 mol/l và

dung dịch hydroxylamine sulfate 5*10-5 mol/l. Hiệu suất chuyển đổi alliin thành

allicin có thể lên tới 90%. Allicin là một chất khơng bền vững nó dễ dàng biến đổi

thành các hợp chất khác vì thế nếu không dùng các phương pháp đặc biệt để chế

biến, xử lí thì allicin dễ dàng biến thành hợp chất khác trong từ 1 tới 6 ngày.



16



1.3.2. Tổng hợp allicin theo phương pháp hóa học

Phương pháp thường được sử dụng nhất là oxi hóa sunfide bằng hydro

peroxide trong mơi trường axit trung bình. Oxi hóa allyl disulfide với mchloroperbenzoic axit trong chloroform và xử lí dung dịch dichloromethane của

allyl disulfide bằng magnesium monoperoxy hydrate trong sự có mặt ammoniumbutyl sulfate. Tất cả những phương pháp này được thực hiện ở nhiệt độ thấp và phụ

thuộc vào phương pháp tổng hợp và quy trình tinh chế. Trong một nghiên cứu gần

đây, allicin được tổng hợp từ allyl disulfide và hydrogen peroxide trong mơi trường

axit trung bình. Vì năng lượng phân ly của liên kết O-O trong hydro peroxide

(200KJ/mol) thấp hơn liên kết S-S trong disulfide (301.39 kJ/mol), nó hỗ trợ gốc

hydroxyl tấn công phân tử allyl disulfide để tạo thành gốc thiyl và allyl sulfenic

axit. Gốc thiyl có thể kết hợp với gốc hydroxyl để tạo allyl sulfenic axit khơng bền

hay nó có thể tái phản ứng với hydrogen peroxide để tạo gốc hydroxyl mới và allyl

sulfenic axit. Ngoài ra, sự tái tổ hợp của 2 gốc thiyl với allyl sulfide (chất nền ban

đầu để tổng hợp allicin) có thể xảy ra. Hai phân tử allyl sulfenic axit tái phản ứng

tạo allicin và phân tử nước.

1.3.3. Hoạt tính của allicin

Các hoạt động sinh học của allicin là sự kết hợp của nhiều yếu tố:



17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Khái quát chung về họ hành tỏi:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×