Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 1: Những triệu trứng lâm sàng của bệnh máu nhiễm mỡ [30]

Hình 1: Những triệu trứng lâm sàng của bệnh máu nhiễm mỡ [30]

Tải bản đầy đủ - 0trang

hai gen bất thường (đồng hợp tử) bị ảnh hưởng nặng nề hơn so với những người chỉ

có một bất thường gen (dị hợp tử). Người bệnh có thể có mỡ (xanthoma) trong các

dây chằng, ở gót chân, đầu gối, khuỷu tay, và ngón tay [35].

Trong hội chứng rối loạn lipid di truyền, mức độ cholesterol, triglyceride, hoặc

cả hai có thể cao. Rối loạn này ảnh hưởng đến khoảng 1-2% dân vol. Các mức lipid

thường trở nên bất thường sau 30 tuổi nhưng đôi khi ở độ tuổi trẻ hơn, đặc biệt là ở

những người thừa cân, những người có chế độ ăn rất nhiều chất béo, hoặc những

người có hội chứng chuyển hóa .

Trong hội chứng dysbetalipoproteinemia (mức cao lipoprotein mật độ thấp) di

truyền, mức độ lipoprotein mật độ rất thấp (VLDL) và tổng vol cholesterol và

triglyceride cao. Các mức rất cao vì một dạng bất thường của VLDL tích tụ trong

máu. Mỡ (xanthoma) có thể hình thành trên da qua khuỷu tay, trên đầu gối và trong

lòng bàn tay. Ở tuổi trung niên, xơ vữa động mạch thường gây ra tắc nghẽn trong

động mạch vành và ngoại vi [32].

Trong hội chứng triglyceride di truyền, mức độ chất béo trung tính cao . Rối

loạn này ảnh hưởng đến khoảng 1% dân vol. Trong một vol gia đình bị ảnh hưởng

bởi rối loạn này, xơ vữa động mạch có xu hướng phát triển ở độ tuổi trẻ.

Trong hội chứng hypoalphalipoproteinemia (mức thấp lipoprotein mật độ cao),

mức HDL cholesterol thấp. Mức HDL cholesterol thấp thường được di truyền.

Nhiều bất thường về gen khác nhau có thể gây ra mức độ HDL thấp .

Ở những người có một rối loạn di truyền gây ra mức triglyceride cao (chẳng

hạn như tăng triglyceride máu di truyền hoặc tăng lipid máu di truyền), rối loạn và

một vol chất có thể làm tăng triglyceride đến mức rất cao. Việc uống rượu quá mức

và sử dụng một vol loại thuốc làm tăng nồng độ chất béo trung tính. Rối loạn này có

thể gây ra viêm tụy, đơi khi có thể gây tử vong.

1.1.3.2. Nguyên nhân thứ phát

Nguyên nhân thứ phát là nguyên nhân của nhiều trường hợp rối loạn lipid

máu. Bao gồm những nguyên nhân sau:





Ăn một chế độ ăn giàu chất béo bão hòa, chất béo trans, và cholesterol



6







Có bệnh tiểu đường hoặc một vol các bệnh rối loạn khác







Lười vận động







Tiêu thụ một lượng lớn rượu







Sử dụng một vol loại thuốc

Một vol rối loạn gây ra mức độ lipid tăng. Bệnh tiểu đường không được kiểm



sốt tốt hoặc bệnh thận mãn tính có thể gây ra tăng nồng độ cholesterol hay

triglycerid tăng. Một vol rối loạn gan (đặc biệt là xơ gan mật nguyên phát) và suy

tuyến giáp có thể làm mức cholesterol tăng lên. Sử dụng các loại thuốc

như estrogen,



thuốc



tránh



thai,



corticoid,



retinoid,



thuốc



lợi



tiểu



thiazide, cyclosporine, tacrolimus, và các loại thuốc kháng virus được sử dụng để

điều trị vi rút suy giảm miễn dịch ở người (HIV) bị nhiễm bệnh AIDS có thể gây

tăng cholesterol và nồng độ triglyceride . Hút thuốc lá, nhiễm HIV, tiểu đường, hoặc

rối loạn thận có thể gây ra một mức độ HDL cholesterol thấp.

1.1.4. Điều trị bệnh máu nhiễm mỡ

Mức độ lipid cao trong máu thường khơng có triệu chứng . Thỉnh thoảng, khi

mức độ đặc biệt cao, chất béo lắng đọng ở da và gân hình thành các bướu gọi là

xanthoma. Đơi khi chúng hình thành các hạt màu trắng hoặc màu xám mờ ở rìa giác

mạc. Mức triglycerid rất cao có thể gây ra to gan hoặc lá lách, gây ngứa hoặc cảm

giác nóng rát ở bàn tay và bàn chân, khó thở, và có thể làm tăng nguy cơ phát triển

viêm tụy. Viêm tụy có thể gây đau bụng dữ dội và đơi khi gây tử vong. Mức độ

cholesterol tồn phần, LDL cholesterol, cholesterol HDL, và triglyceride được đo

trong mẫu máu. Bởi vì khi tiêu thụ thức ăn hoặc đồ uống có thể gây ra mức độ

triglyceride tăng tạm thời, bệnh nhân cần phải nhịn ăn ít nhất 12 giờ trước khi tiến

hành các phép đo.Việc điều trị máu nhiễm mỡ có hiệu quả bằng cách kết hợp các

biện pháp điều trị sau:



7



-



Giảm cân



-



Bài tập



-



Giảm chất béo bão hòa trong chế độ ăn uống



-



Các loại thuốc hạ lipid máu

Thông thường, cách điều trị tốt nhất cho mọi người là giảm cân, không sử



dụng thuốc lá, giảm tổng lượng chất béo bão hòa và cholesterol trong chế độ ăn

uống, tăng cường hoạt động thể chất, và sau đó, nếu cần thiết, uống thuốc hạ lipid

máu. Hoạt động thể chất thường xuyên có thể giúp giảm lượng triglyceride thấp hơn

và tăng mức độ HDL cholesterol . Một chế độ ăn với ít chất béo bão hòa và

cholesterol có thể làm giảm mức LDL cholesterol . Theo các chuyên gia thì nên hạn

chế lượng calo từ chất béo không quá 25-35% tổng vol calo tiêu thụ trong vòng vài

ngày. Tuy nhiên, những người có mức triglyceride cao cũng cần tránh tiêu thụ một

lượng lớn đường (trong thực phẩm hoặc đồ uống), và các loại thực phẩm giàu tinh

bột (như khoai tây và gạo). Các loại chất béo tiêu thụ là một vấn đề đáng lưu tâm.

Chất béo có thể bão hòa hoặc khơng bão hòa. Chất béo bão hòa làm tăng nồng độ

cholesterol hơn so với các chất béo khơng bão hòa. Chất béo bão hòa nên cung cấp

khơng q 7% tổng lượng calo tiêu thụ mỗi ngày. Chất béo không no (trong đó bao

gồm các chất béo omega-3 và omega-6) có thể giúp giảm nồng độ triglyceride và

LDL cholesterol trong máu . Ăn nhiều trái cây, rau, và ngũ cốc nguyên hạt, là những

thực phẩm tự nhiên ít chất béo và khơng chứa cholesterol. Các thực phẩm giàu chất

xơ hòa tan, liên kết với các chất béo trong ruột và giúp giảm mức cholesterol . Các

loại thực phẩm này bao gồm bột yến mạch, đậu, đậu Hà Lan, cám gạo, lúa mạch,

các loại trái cây họ cam quýt, dâu tây, táo... Psyllium, thường dùng để làm giảm táo

bón, cũng có thể làm giảm mức độ cholesterol.

1.1.4.1. Thuốc hạ lipid máu

Điều trị bằng thuốc hạ lipid máu không chỉ phụ thuộc vào mức độ lipid mà

còn về việc bệnh nhân có bệnh động mạch vành, bệnh tiểu đường, hoặc các yếu tố

nguy cơ lớn khác đối với bệnh mạch vành hay không. Đối với những người có bệnh

động mạch vành hay bệnh tiểu đường, nguy cơ đau tim hoặc đột quỵ có thể được



8



giảm bằng cách sử dụng các loại thuốc hạ lipid máu gọi là statin. Những người có

mức cholesterol rất cao hoặc những người có yếu tố nguy cơ cao bị đau tim hoặc

đột quỵ cũng có thể được hưởng lợi từ uống thuốc hạ lipid máu. Các loại thuốc điều

trị máu nhiễm mỡ như sau:

 Thuốc gắn kết với axit mật

+ Bao gồm một vol loại thuốc như: Cholestyramine, Colesevelam, Colestipol.

+ Cơ chế: Giảm lượng axit mật được vận chuyển về gan, khiến các tế bào gan phải

tăng cường tổng hợp axit mật từ cholesterol. Do lượng cholesterol trong gan giảm

nên làm tăng vol lượng và hoạt tính của LDL-receptor ở màng tế bào, đẩy nhanh tốc

độ loại trừ cholesterol ra khỏi huyết tương .

+ Tác dụng phụ: Đau bụng, làm giảm hiệu quả của các loại thuốc khác, đầy hơi, táo

bón, buồn nơn, tăng ở mức độ chất béo trung tính (đặc biệt là ở những người có

mức triglyceride cao) .

 Dẫn xuất của axit fibric

+ Bao gồm một vol loại thuốc như: Bezafibrate, Ciprofibrate, Fenofibrate,

Gemfibrozil.

+ Cơ chế: Làm giảm triglyceride máu bằng cách làm tăng hoạt tính của lipoprotein

lipase trong tác dụng thủy phân triglyceride từ VLDL. Các tác dụng khác bao gồm

làm giảm tổng hợp cholesterol ở gan và làm tăng bài tiết cholesterol ở mật .

+ Tác dụng phụ: Đau bụng, đầy hơi, tiêu chảy, bệnh sỏi mật, nồng độ men gan cao,

nhức mỏi cơ do viêm (viêm cơ), buồn nôn, phát ban .

 Niacin

+ Cơ chế: Chậm loại bỏ các HDL, làm giảm nồng độ triglyceride, ở liều cao, giảm

tỷ lệ sản xuất VLDL, được sử dụng để tổng hợp LDL. Niacin cũng làm giảm giải

phóng các axit béo tự do từ mơ mỡ vào vòng tuần hồn .

+ Tác dụng phụ: Khó chịu tiêu hóa, bệnh gút, mức độ đường trong máu cao (tăng

đường huyết), nồng độ men gan cao, ngứa, loét .



9



 Statin

+ Bao gồm một vol loại thuốc như: Atorvastatin, Fluvastatin, Lovastatin,

Pitavastatin, Pravastatin, Rosuvastatin, Simvastatin.

+ Cơ chế: Statin ức chế cạnh tranh với HMG-CoA reductase, ngăn cản sự biến đổi

HMG-CoA thành mevalonate, một bước then chốt trong sinh tổng hợp cholesterol ở

gan . Bên cạnh việc làm giảm sản xuất cholesterol nội bào ở gan, statin làm tăng

hoạt tính của LDL receptor ở gan và tạo thuận cho việc thanh thải LDL-C khỏi vòng

tuần hồn .

+ Tác dụng phụ: Đầy hơi, táo bón (nhẹ), mệt mỏi, đau đầu, nồng độ men gan cao,

đau cơ do viêm (viêm cơ) hoặc thối hóa (teo cơ vân) .

 Bổ sung chất béo

+ Bao gồm một vol loại thuốc như: Axit béo omega-3

+ Cơ chế: Liều cao các axit béo omega-3 làm giảm tổng hợp VLDL, có lẽ là do

DHA và EPA khơng được chuyển hóa một cách hiệu quả bởi các enzym tham gia

vào quá trình tổng hợp triclyceride. DHA và EPA còn ức chế sự este hóa của các

axit béo khác và tăng cường q trình beta oxy hóa các axit béo ở trong gan .

+ Tác dụng phụ: Triglyceride cao, ợ hơi, bệnh tiêu chảy

Mỗi loại làm giảm nồng độ lipid bởi một cơ chế riêng. Do đó, các loại thuốc

khác nhau có tác dụng phụ khác nhau và có thể ảnh hưởng đến lượng lipid khác

nhau.



10



1.1.4.2. Thực vật trong điều trị máu nhiễm mỡ

Khi mà các loại thuốc điều trị máu nhiễm mỡ gây ra nhiều tác dụng phụ khơng

mong muốn thì các nhà khoa học đã tìm ra hướng mới trong việc điều trị máu

nhiễm mỡ, đó chính là các sản phẩm tự nhiên có khả năng trong việc điều trị máu

nhiễm mỡ và an toàn cho người sử dụng. Trong nhiều nghiên cứu gần đây các nhà

khoa học đã chứng minh thực vật có tác dụng rất hiệu quả trong việc điều trị máu

nhiễm mỡ. Tiêu biểu như nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc trong việc

dùng chất berberine tách chiết từ cây vàng đắng có tác dụng trong việc điều trị rối

loạn lipid máu . Hay trong nghiên cứu gần đây dịch chiết methanol từ cây chua ngút

có tác dụng rất tốt trên chuột mắc bệnh rối loạn mỡ máu và tiểu đường . Tương tự

như thế, dịch chiết của cây Ajuga iva L. cũng được các nhà khoa học chứng minh có

tác dụng rất tốt trong việc điều trị bệnh máu nhiễm mỡ .

1.2. Cây tỏi

1.2.1. Cây tỏi

Việt Nam có lãnh thổ trải dài từ Bắc đến Nam, khí hậu thuộc vùng nhiệt đới

gió mùa ẩm, nước ta có nguồn tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng, trong đó

cây cỏ làm thuốc chiếm một tỉ lệ khá cao. Nhiều loài cây cỏ Việt Nam là những

nguồn nguyên liệu quý cho y học dân tộc và y học hiện đại, là nguồn chất thơm có

giá trị kinh tế cho các ngành thực phẩm, hương liệu, mỹ phẩm, dược phẩm … Từ

hàng ngàn năm nay tỏi đã được coi như một gia vị không thể thiếu ở nhiều quốc gia

trên thế giới. Từ Hy Lạp và La Mã, từ Châu Á đến Trung Đông, tỏi luôn đứng đầu

trong việc điều trị chống vi khuẩn . Tỏi được sử dụng phổ biến trong đời volng hàng

ngày của con người . Từ lâu đời con người đã biết sử dụng tỏi để chữa bệnh, nhưng

hiểu biết những tác dụng huyền bí của tỏi thì ít người biết. Một vol dân tộc trên thế

giới tin rằng tỏi giúp họ chống lại ma, quỷ, ma cà rồng .

Việt Nam ta có nhiều vùng trồng tỏi nổi tiếng như: tỏi Lý sơn, tỏi Phan Rang...

Và gần đây nhất là tỏi Bắc Giang. Nhưng nổi tiếng thơm ngon nhất là “Vương quốc

tỏi Huyện đảo Lý Sơn”. Điều làm nên sự khác biệt của tỏi Lý Sơn là củ của nó

khơng q to, khơng q cay lại có mùi thơm đặc biệt.



11



1.2.1.1. Phân loại thực vật, đặc điểm sinh thái.

 Phân loại thực vật

Tên khoa học: Allium sativum L . Thuộc họ Hành tỏi Alliaceae .

 Phát sinh tên gọi:

Tỏi có tên khoa học là Allium sativum. Tiếng La tinh gọi tỏi là Olere có nghĩa

là “ngửi thấy”, tiếng Hy Lạp là Hallestai là “nhảy vọt ra” để mô tả sự tăng trưởng

nhanh chóng các tép tỏi trong một củ. Một nhà thơ La mã Plaupus (250 – 184 trước

CN) dùng thuật ngữ allium để gọi cây tỏi, nên người ta cho rằng đó là một từ phát

sinh từ chữ Arya cổ áluh hoặc álukám qua alum mà ra, vì người xưa dùng từ đó với

nghĩa là một gia vị [. Một cách giải thích khác allium là phát sinh từ alare hoặc

halare có nghĩa là “thở”, “thở ra” đều liên quan đến mùi ngửi thấy. Ngồi ra từ

Celtic all có nghĩa là “ấm áp”, “làm nóng, đốt nóng” cũng được coi là nguồn gốc

phát sinh của tên gọi cây tỏi .

 Khái quát chung về họ hành tỏi:

Trên thế giới có hơn 600 loại tỏi khác nhau bởi độ lớn, màu sắc, hình dáng của

củ, mùi vị, vol lượng tép tỏi trong một củ, vị hăng cay và công dụng trong từng loại

tỏi khác nhau. Các nhà phân loại thực vật học cho rằng sơ khai chỉ có một lồi

Allium sativum. Lồi tỏi này có hai lồi phụ: Ophioscorodon (tỏi cổ cứng) và

Sativum (tỏi cổ mềm). Tỏi Ophioscorodon là loại tỏi chính gốc và Sativum là loại

tỏi Ophioscorodon đã bị lai hóa bởi do điều kiện thổ nhưỡng gieo trồng khác nhau

trong quá trình chọn lọc tự nhiên. Nghiên cứu gần đây (2003) đã cơng bố rằng có 8

nhóm tỏi khác biệt đã được tiến hóa; 6 nhóm thuộc loại hard-necked garlics (tỏi cổ

cứng) có tên gọi là Asiatic, Creole, Purple Stripe, Marbled Purple Stripe,

Porcelain, Rocambole và 2 nhóm thuộc lồi soft-necked garlics (tỏi cổ mềm) là

Artichoke và Silverskin. Một nghiên cứu gần đây cho rằng có 17 lồi tỏi khác nhau

được biến hóa từ 8 nhóm trên. Thực tế trên khắp thế giới, có hàng trăm lồi tỏi khác

nhau đều được phát triển từ 17 loài cơ bản trên . Chúng có những đặc tính khác

nhau bởi được trồng trong điều kiện thổ nhưỡng khác nhau như: Sự phì nhiêu của



12



đất, lượng mưa, nhiệt độ, độ cao so với mực nước biển, thời điểm gieo trồng trong

năm và chế độ nghiêm ngặt của nước tưới…

Tỏi là loại cây thảo volng một năm. Thân thực hình trụ, phía dưới mang nhiều

rễ phụ, phía trên có nhiều lá. Lá cứng, hình dài, thẳng dài 15-50cm, rộng 1- 2,5cm

có rãnh khía, mép lá hơi ráp. Phần dưới của lá phía gốc có một chồi nhỏ sau này

phát triển thành một tép tỏi; các tép này nằm chung trong một cái bao (do các bẹ lá

trước tạo ra) thành một củ tỏi tức là thân hành (giò) của tỏi. Hoa mọc ở ngọn thân

trên, một cán hoa dài 55cm hay hơn. Bao hoa màu trắng hay hồng bao bởi nhiều

tán, rơi rụng thành mũi nhọn dài. Hoa mọc thành cụm trên đầu một trục hình trụ từ

thân củ kéo dài ra. Cụm hoa là một tán giả hình cầu, màu trắng, đỏ hoặc xanh nhạt.

Phần hay được sử dụng nhất của cả cây tỏi là củ tỏi. Củ tỏi có thể có một hoặc nhiều

tép. Từng tép tỏi cũng như cả củ tỏi đều có lớp vỏ mỏng bảo vệ. Tỏi sinh trưởng tốt

trong môi trường nóng và ẩm .



13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 1: Những triệu trứng lâm sàng của bệnh máu nhiễm mỡ [30]

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×