Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI TMCP PHƯƠNG ĐÔNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI TMCP PHƯƠNG ĐÔNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

 Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD: Ths. Trịnh Thị Trinh



3.2 Thuận lợi và khó khăn

3.2.1.Những thuận lợi:

Ngân hàng có một đội ngũ nhân viên trẻ có trình độ chun mơn cao và

rất năng động có thể đảm nhận tốt các lãnh vực hoạt động của Ngân hàng. Bên

cạnh đó cán bộ nhân viên Ngân hàng luôn được bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ

Ngân hàng đáp ứng kịp thời sự phát triển của công nghệ Ngân hàng trên thế giới.

Được đánh giá là một trong những Ngân hàng áp dụng rộng rãi cơng nghệ

thơng tin vào q trình hoạt động, tất cả các q trình từ cấp phát tiền vay, quản lí

và thu nợ đều được xử lí bằng máy tính với phần mềm ln được đổi mới cho

phù hợp. Từ đó tăng khả năng quản lí và giảm thời gian chờ đợi của khách hàng.

Ngoài ra OCB-ĐN nằm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng là trung tâm kinh

tế của miền Trung, mức sống của người dân đạt mức cao nhất ở miền Trung và

nhu cầu tiêu dùng cũng được nâng cao phù hợp với sự phát triển chung của nền

kinh tế thành phố; đây vừa là động lực vừa là nguyên nhân để mọi người vay vốn

phục vụ cho nhu cầu chi tiêu của mình. Do đó tạo điều kiện để hoạt động cho vay

tiêu dùng được mở rộng.

Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi và kết quả đạt được vẫn còn tồn tại

những khó khăn và hạn chế nhất định.

3.2.2. Những khó khăn:

Việc cắt giảm lãi suất của Ngân hàng Nhà nước và vấn đề cạnh tranh lãi

suất giữa các Ngân hàng trên địa bàn thành phố đã ảnh hưởng đến hoạt động kinh

doanh của Ngân hàng. Các Ngân hàng quốc doanh trên địa bàn trong khi có ưu

thế của mình là chủ động áp dụng lãi suất đối với từng chủ thể đi vay khác nhau,

đã không ngừng điều chỉnh giảm dần thì OCB- ĐN khơng có được điều đó. Mọi

việc điều chỉnh lãi suất đều do Ngân hàng Thương mại Phương Đông Hội sở

quyết định. .

Thời gian qua, mặc dù đã có những bước tiến vượt bậc nhưng OCB-ĐN

vẫn còn tồn tại những khó khăn đặc thù của khối Ngân hàng Thương mại cổ phần

như: mạng lưới chi nhánh chưa nhiều để có thể phân bố rộng rãi trên các địa bàn

quận huyện, quan niệm của các tổ chức và dân cư (chưa thật sự tin tưởng vào các

Ngân hàng Thương mại cổ phần), việc tham gia thị trường mở qua kênh tái chiết



SVTH: Hà Thanh Bình



Trang 34



 Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD: Ths. Trịnh Thị Trinh



khấu với Ngân hàng Nhà nước bị hạn chế (vì thiếu cơng cụ là các giấy tờ có

giá). Điều đó ảnh hưởng tới việc huy động vốn của OCB-ĐN.

Đối với hình thức vay vốn bằng sự bảo lãnh của cơ quan, doanh nghiệp

nơi người lao động làm việc thì sự hợp tác của nhiệt tình của thủ trưởng cơ quan,

doanh nghiệp đó với Ngân hàng là điều rất quan trọng. Người lãnh đạo vì lý do

khách quan hay chủ quan mà thường không mặn mà lắm trong quan hệ với Ngân

hàng để dẫn đến rủi ro. Nhất là trong trường hợp ban lãnh đạo khơng quản lí tốt

nhân viên của mình nên để xãy ra tình trạng kí nhận nhiều lần để họ có dư nợ tồn

tại ở nhiều Ngân hàng cùng một lúc. Hơn nữa khi có sự thay đổi về thu nhập, nơi

làm việc của nhân viên đã được xác nhận vay vốn thì Ban lãnh đạo đã khơng

thơng báo kịp thời cho Ngân hàng biết để có biện pháp xử lý cho phù hợp. Có

nhiều trường hợp lãnh đạo kí xác nhận trên hợp đồng vay nhưng lại khơng có

trách nhiệm gì về sự xác nhận của mình cả, đây là rào cản với Ngân hàng trong

quá trình thực hiện cho vay tiêu dùng.

3.3 Phương hướng và nhiệm vụ của OCB-ĐN trong thời gian tới:

Với những thành tựu đạt được cũng như những vướng mắc khó khăn còn

tồn tại kết hợp dự báo xu hướng chiến lược phát triển kinh tế của thành phố Đà

Nẵng, OCB-ĐN đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ cụ thể phấn đấu trong năm

2018 như sau:

Cải tiến toàn diện cung cách phục vụ khách hàng một cách tốt nhất, thực

hiện chính sách khách hàng, coi sự thành đạt của khách hàng là sự thành đạt của

Ngân hàng, bảo đảm lợi ích của hai phía là giải pháp tốt nhất để mở rộng kinh

doanh.

Ứng dụng và phát triển thêm một số sản phẩm dịch vụ hiện có của OCB

tại địa bàn thành phố Đà Nẵng.

Mở rộng mạng lưới chuyển tiền nhanh Western Union, các đại lí thanh

tốn thẻ tín dụng quốc tế Visa Card và Master Card.

Đẩy mạnh hoạt động cho vay nhằm góp phần thúc đẩy hoạt động kinh

doanh tín dụng nói chung và mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng nói riêng.



SVTH: Hà Thanh Bình



Trang 35



 Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD: Ths. Trịnh Thị Trinh



Xây dựng và đào tạo một đội ngũ cán bộ ngân hàng trẻ trung, năng động,

có trình độ và phong cách kinh doanh hiện đại, trang bị đầy đủ kỹ thuật công

nghệ hiện đại, tiên tiến nhằm tạo thế mạnh cạnh tranh và uy tín trên thị trường.

3.4. Một số giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh và nâng cao hiệu

quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại OCB-ĐN:

3.4.1 Giải pháp mở rộng cho vay tiêu dùng:

3.4.1.1 Mở rộng thị phần tín dụng:

Tình hình kinh tế-xã hội thành phố trong thời gian qua, ta thấy tình hình

kinh tế xã hội của thành phố có sự phát triển vượt bậc và với chính sách quản lí

kinh tế của thành phố nhiều cơ hội đầu tư mới sẽ mở ra đòi hỏi cần phải có một

nguồn tài trợ về vốn mạnh. Đây là một thuận lợi cho các Ngân hàng hoạt động

trên địa bàn thành phố. Do đó Ngân hàng nào nắm được thị phần tín dụng nhiều

hơn thì Ngân hàng đó sẽ có lợi nhuận cao hơn.

Hiện nay thị phần tín dụng mà OCB-ĐN nắm giữ còn thấp hơn so với các

Ngân hàng thương mại quốc doanh.

Vì vậy để nâng cao hiệu quả cho vay nói chung và kết quả cho vay tiêu

dùng nói riêng, Ngân hàng phải chiếm lĩnh hơn nữa thị phần tín dụng đòi hỏi

phải có sự kết hợp bởi nhiều yếu tố và biện pháp khác nhau như chính sách lãi

suất, chính sách khách hàng…trong đó đặc biệt là chính sách khách hàng bởi

hiện nay khách hàng có nhiều sự chọn lựa và cái mà họ quan tâm là sự hài lòng

khi tiêu dùng sản phẩm cứ không phải là giá cả của sản phẩm hơn thế nữa giá cả

của sản phẩm tín dụng chênh lệch nhau rất ít.

Tiếp tục mở rộng cho vay tiêu dùng đối với những doanh nghiệp mà Ngân

hàng đã thiết lập quan hệ, trong đó lựa chọn những doanh nghiệp hoạt động có

hiệu quả.

Như đã đề cập ở phần thuận lợi, OCB-ĐN có được những khách hàng là

các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao hoạt

động trên địa bàn, điều nay hỗ trợ rất nhiều cho việc xúc tiến hình thức vay tiêu

dùng đối với các cán bộ công nhân viên làm việc tại đó. Do đặc điểm của hình

thức cho vay tiêu dùng nên việc đạt được hiệu quả tốt của loại hình này hồn

tồn phụ thuộc vào sự hợp tác của lãnh đạo doanh nghiệp, vì chỉ sau khi có được



SVTH: Hà Thanh Bình



Trang 36



 Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD: Ths. Trịnh Thị Trinh



sự đồng ý của Ban lãnh đạo, ngân hàng mới có thể xúc tiến cho vay từng

CBCNV làm việc trong đơn vị đó. Trong khi các doanh nghiệp luôn bận bịu với

công việc sản xuất kinh doanh của mình thì họ sẽ khơng nhiệt tình trong việc này

lắm nhưng mối quan hệ tốt đẹp đã có từ trước với ngân hàng thì sự hợp tác này

sẽ diễn ra suôn sẽ hơn.

Bên cạnh các quan hệ kinh tế đã thiết lập từ trước, ngân hàng OCB-ĐN

phải tiếp tục tạo dựng mối quan hệ mới với các doanh nghiệp lớn khác trên địa

bàn. Trên cơ sở cung cấp các nghiệp vụ mạnh của Ngân hàng như dịch vụ chuyển

tiền, dịch vụ thẻ…, Ngân hàng thiết lập nên những quan hệ kinh tế tốt đẹp, qua

đó có cơ hội hướng khách hàng sử dụng những dịch vụ phong phú khác của

Ngân hàng trong đó có hoạt động cho vay tiêu dùng.

Tập trung chủ yếu vào nhóm khách hàng có thu nhập cao và ổn định.

Những người có thu nhập khá và ổn định làm việc trong các doanh

nghiệp, các hộ sản xuất kinh doanh hoạt động có hiệu quả. Họ thường rơi vào

nhóm cơng nhân kĩ thuật, cán bộ văn phòng, các chủ hộ sản xuất kinh doanh…,

rất ít trường hợp là những người lao động chân tay, công nhân không có chun

mơn. Những người này có nhu cầu tiêu dùng cho cuộc sống tương đối cao. Với

những lý do trên nhóm khách hàng này trở thành đối tượng chủ yếu ngân hàng

nên hướng đến do quĩ tài chính của họ khơng hình thành cùng một lúc với nhu

cầu mà thường được hình thành dần sau đó vì thế mà họ cần đến Ngân hàng với

vai trò là người cung ứng trước quỹ tài chính mà họ sẽ có trong tương lai.

Đây là một nhóm khách hàng đầy tiềm năng, chính vì ở chỗ họ có thu

nhập trung bình hàng tháng ở mức cao, điều này còn thể hiện ở phần nào sự phát

triển và kết quả kinh doanh của đơn vị họ đang làm việc. Một triển vọng tốt về

việc làm ổn định cộng thêm mức lương tương đối, sẽ làm người lao động không

muốn thay đổi về chỗ làm, gắn bó với cơng việc và nơi cơng tác. Đây là yếu tố

tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ tín dụng Ngân hàng trong việc xét duyệt cho

vay tiêu dùng. Hơn thế nữa nhóm khách hàng này đạt trình độ nhất định nên họ

sẽ ý thức rõ hơn về trách nhiệm của mình đối với món nợ vay Ngân hàng, từ đó

dẫn đến khả năng thu hồi nợ vay của Ngân hàng nói rộng hơn là chất lượng món

vay sẽ đạt mức cao. Đứng về phía Ngân hàng, nếu giao dịch với những khách



SVTH: Hà Thanh Bình



Trang 37



 Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD: Ths. Trịnh Thị Trinh



hàng như thế thì công việc sẽ trôi chảy hơn rất nhiều, những vấn đề khách hàng

thắc mắc được giải tỏa một cách nhanh chóng vì họ có khả năng nắm bắt vấn đề

nhanh hơn. Trong khi những người có trình độ hạn chế thì càng gặp nhiều vướng

mắc khi tiếp xúc với cơng nghệ Ngân hàng, cán bộ tín dụng sẽ phải dành nhiều

thời gian hơn để giải đáp với họ một cách cặn kẽ, nhiều lần cho một vấn đề dẫn

đến kém hiệu quả trong giao dịch của hoạt động cho vay tiêu dùng.

Ta có mối quan hệ về thu nhập và tiêu dùng của người dân, khi thu nhập

tăng thì tiêu dùng cũng tăng với một tỉ lệ tương ứng. Khi thu nhập càng tăng, tiêu

dùng cũng sẽ tăng theo nhưng khi thu nhập tăng vượt qua một ngưỡng nhất định

thì tỉ lệ trên có sự thay đổi. Đặc điểm của nhóm khách hàng này là thu nhập cao

nhưng chưa vượt qua ngưỡng nói trên nên sự gia tăng giữa thu nhập và chi tiêu là

tỉ lệ thuận. Chính vì thế mà với mức thu nhập cao hơn những nhóm khách hàng

khác thì nhu cầu vốn vay của họ cũng cao hơn. Việc phát vay trên một hợp đồng

lớn sẽ giúp Ngân hàng tăng doanh số cho vay lên đáng kể. Cho dù theo cách này

thì tốc độ tăng số lượng khách hàng thấp hơn so với việc cho vay với mức vay

thấp và không tập trung vào một đối tượng khách hàng cụ thể nào, nhưng có thể

có được tốc độ tăng doanh số, dư nợ cho vay tiêu dùng khá cao. Như thế sẽ tiết

kiệm được chi phí quản lí, chi phí nhân cơng, chi phí in ấn giấy tờ…từ việc giảm

khách hàng trong khi vẫn tăng thu nhập do việc tăng dư nợ. Đây là bằng chứng

chứng tỏ tính hiệu quả của phương án mở rộng doanh số cho vay tập trung vào

những đối tượng nhất định.

Như vậy việc cho vay tập trung vào những khách hàng có mức thu nhập

khá, cụ thể bằng việc tăng qui mô món vay đối với một khách hàng và mở rộng

số lượng khách hàng vay sẽ mang lại hiệu quả cao trong hoạt động tín dụng tiêu

dùng của Ngân hàng. Tăng doanh số cho vay đối với nhóm khách hàng này đồng

thời sẽ làm tăng chất lượng của món vay với xác suất rủi ro được đánh giá là thấp

nhất và ít tốn kém chi phí nhất.

3.4.1.2 Đẩy mạnh hoạt động Marketing:

Trong xu thế hội nhập và phát triển như hiện nay thì hoạt động Marketing

trong lãnh vực Ngân hàng có vai trò đặc biệt quan trọng, nó đem lại kết quả gián

tiếp cho từng nghiệp vụ kinh doanh của Ngân hàng. Vì thế chi nhánh nên có



SVTH: Hà Thanh Bình



Trang 38



 Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD: Ths. Trịnh Thị Trinh



chính sách Marketing thích hợp và vận dụng rộng rãi trong lãnh vực hoạt động

của mình. Ở nước ta dịch vụ này chưa được phổ biến rộng rãi trên các phương

tiện thông tin đại chúng như; qua báo chí, đài truyền thanh, đài truyền hình,sự

truyền miệng nhằm làm thay đổi nhận thức và tạo thói quen sử dụng các dịch vụ

Ngân hàng để thu hút thêm khách hàng. Bên cạnh đó thì chính sách Marketing là

để Ngân hàng tự giới thiệu về mình đối với khách hàng, tức là làm sao cho Ngân

hàng luôn ẩn hiện trong tầng lớp nhân dân mỗi khi có nhu cầu và ln làm sao

cho Ngân hàng trở thành chỗ dựa trung gian tài chính trung thành của người dân.

Ngoài ra, Ngân hàng cần tiến hành các đợt quảng bá và tiếp thị nhằm thay

đổi nhận thức và thói quen sử dụng các dịch vụ Ngân hàng: chiến dịch quảng cáo

được tiến hành ở đây không phải là quảng cáo ào ạt trên các phương tiện thông

tin đại chúng hoặc các chương trình khuyến mãi lớn. Để tiết kiệm giảm chi phí

đồng thời tiếp thị quảng bá sản phẩm hiệu quả nhất thì Ngân hàng cần phải thực

hiện việc tiếp cận trực tiếp với đối tượng vay vốn những người thực sự có nhu

cầu vay vốn và có điều kiện, khả năng trả nợ tốt. Cụ thể Ngân hàng có thể liên hệ

với cơng đồn doanh nghiệp, hội phụ nữ, hội nông dân…, tiến hành một buổi hội

nghị cho tất cả những ai có nhu cầu vay vốn. Ngân hàng cần cử một đến hai nhân

viên đến hướng dẫn qui trình, giải thích chi phí trả lãi vay, giải đáp các thắc mắc

khác…Hoặc Ngân hàng có thể liên hệ với các trường học, các doanh nghiệp trên

địa bàn thành phố để tổ chức những buổi họp hội nghị cho khách hàng tương tự

như vậy, chi phí tổ chức không cao, vả lại các cơ quan chủ quản sẵn lòng trả số

chi phí đó vì đó cũng là một hoạt động xã hội của các đoàn thể như cơng đồn,

hội nơng dân, hội phụ nữ, đồn thanh niên…

Ngân hàng cần cung cấp thông tin cho các báo đài, tuyên truyền về hoạt

động cho vay tiêu dùng, giải thích cho người dân hiểu được việc đi vay vốn của

Ngân hàng là hồn tồn bình thường.

Khi tìm kiếm được khách hàng thì phải làm cho nhu cầu khách hàng được

thỏa mãn. Trước tiên nhân viên Ngân hàng cần tạo sự vui vẻ, thoải mái, lịch sự

với khách hàng trong quá trình vay vốn, khơng nên để cho khách hàng chờ quá

lâu mà phải giải quyết dứt điểm công việc của họ càng nhanh càng tốt.



SVTH: Hà Thanh Bình



Trang 39



 Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD: Ths. Trịnh Thị Trinh



Để đảm bảo được khả năng cạnh tranh với các Ngân hàng trên địa bàn

thành phố Đà Nẵng và để cho hoạt động Ngân hàng được diễn ra thơng suốt

khơng bị trì trệ do thiếu vốn thì cơng tác huy động đóng vai trò rất quan trọng, nó

quyết định về qui mơ cho vay của Ngân hàng. Do đó Ngân hàng cần phải quan

tâm hơn nữa công tác huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau. Tại Ngân hàng

trong lúc chờ đợi để khách hàng khỏi phải sốt ruột thì nên có dịch vụ giải trí nhỏ,

chẳng hạn như: có một bàn để các loại sách báo nói về Ngân hàng, bên cạnh đó

thì giới thiệu sơ qua về hệ thống thông tin hiện đại, đội ngũ nhân viên trẻ trung,

lịch sự; có những tờ hướng dẫn khách hàng sử dụng séc, cách mở tài khoản tiền

gởi, lãi suất, tuyên tryền về những cải tiến trong dịch vụ chuyển tiền.

3.4.1.3 Giải pháp nâng cao chất lượng trong cho vay tiêu dùng:

Thu thập thông tin:

Cán bộ tín dụng có thể thu thập thơng tin về khách hàng từ nhiều nguồn

khác nhau, cụ thể là:

Phỏng vấn trực tiếp người vay để xem xét tính trung thực của người vay

và thu nhập của họ. Trong quá trình phỏng vấn, cán bộ tín dụng yêu cầu người

vay cung cấp thêm thơng tin cần thiết như: tình hình tài chính của khách hàng,

nơi làm việc, tình trạng gia đình, độ tuổi…Đối với cán bộ công nhân viên làm

việc tại khu vực kinh tế ngồi quốc doanh thì phải trình bảng hợp đồng lao động

để ngăn chặn sự lừa đảo ngay từ đầu. Bên cạnh đó qua cuộc phỏng vấn cán bộ tín

dụng giúp cho người vay hiểu được những gì họ chưa hiểu như: lãi suất và cách

tính lãi suất…

Thu thập thông tin gián tiếp về người vay như: phỏng vấn những người

thân hoặc những người sống gần người vay để xem sự khai báo của người vay có

đúng sự thật hay khơng khi thấy người vay có dấu hiệu khơng trung thực.

Nếu như khách hàng đã có quan hệ trước đây với ngân hàng thì cán bộ tín

dụng thu thập thông tin từ hồ sơ lưu trữ tại Ngân hàng để xem xét việc vay và trả

nợ của họ trước đây cho ngân hàng như thế nào.

Do đó yêu cầu của công tác thu thập thông tin phải chính xác, đầy đủ và

kịp thời. Nếu đạt được những u cầu này sẽ có những nguồn thơng tin chính

xác, từ đó giúp cán bộ tín dụng có những quyết định đúng đắn. Việc thu thập



SVTH: Hà Thanh Bình



Trang 40



 Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD: Ths. Trịnh Thị Trinh



thông tin để tránh tình trạng một số đơn vị phát hành nhiều thư bảo lãnh vay vốn

cho một nhân viên ở nhiều Ngân hàng khác nhau; xem người vay có sử dụng vốn

vay đúng mục đích hay khơng hay là cho mục đích khác như: cho bạn bè mượn,

người thân mua sắm…Để đi đến quyết định cho vay hoặc không cho vay, nếu

cho vay thì mức cho vay tối đa là bao nhiêu nhằm tránh sự lừa đảo của khách

hàng và không gây khó khăn trong việc trả nợ của khách hàng.

Thẩm định trước khi vay:

Thẩm định là khâu hết sức quan trọng với hoạt động cho vay của Ngân

hàng, giúp cho Ngân hàng biết được tình hình tài chính, mục đích sử dụng vốn

vay cũng như khả năng trả nợ của người vay. Đối với nghiệp vụ cho vay tiêu

dùng thì khâu này cũng khơng kém phần quan trọng vì: trong cho vay tiêu dùng

thì khách hàng vay dưới hình thức bảo lãnh là chủ yếu và nguồn trả nợ cam kết

từ thu nhập, vốn vay được sử dụng vào mục đích tiêu dùng. Hoạt động cho vay

tiêu dùng trực tiếp của Ngân hàng liên quan đến rất nhiều khách hàng. Mỗi khách

hàng thường vay với số tiền nhỏ hơn nhiều so với cho vay ở lãnh vực sản xuất

kinh doanh. Muốn có thu nhập lớn trong hoạt động cho vay tiêu dùng, Ngân hàng

phải thực hiện một số lượng lớn các hợp đồng cho vay. Khi mà số lượng khách

hàng lớn thì yêu cầu một cơ chế quản lý an toàn và hiệu quả đối với việc ra quyết

định cho vay là hết sức cần thiết nhằm tránh rủi ro tổn thất xãy ra. Cho nên trước

tiên cán bộ tín dụng nên kiểm tra tính trung thực lời khai báo của người vay nhất

là nguồn thu nhập.

Cán bộ tín dụng xem xét nguồn thu nhập có đủ khả năng trả nợ hay khơng

sau khi đã trừ đi chi phí phát sinh từ thu nhập của người vay. Với nguồn thu

nhập, sau khi trả nợ có làm ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của người vay

không. Khi thực hiện xong công tác thẩm định cán bộ cho vay đi đến quyết định

mức cho vay như thế nào là hợp lý nhất, vừa làm cho khách hàng được thỏa mãn

vừa giảm thiểu rủi ro xãy ra đối với Ngân hàng. Ngoài ra khi cho vay có bảo đảm

bằng tài sản hay bảo lãnh của người thứ ba thì cán bộ tín dụng phải kiểm tra thẩm

định tài sản đó và tình hình tài chính của người bảo lãnh.

Cơng tác theo dõi nợ, xử lý nợ và ngăn ngừa các khoản phí phát sinh:



SVTH: Hà Thanh Bình



Trang 41



 Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD: Ths. Trịnh Thị Trinh



Cho vay tiêu dùng món vay rất nhỏ nhưng số lượng khách hàng nhiều, hồ

sơ quản lý phức tạp nên cán bộ tín dụng khơng đủ thời gian theo dõi, đôn đốc thu

hồi nợ chặt chẽ như các loại cho vay khác. Cũng chính vì lý do này mà nhiều

khách hàng đã trì hỗn việc trả nợ. Ngồi ra cũng có thể do các ngun nhân bất

khả kháng làm cho người vay khó khăn trong việc trả nợ như thiên tai, hạn hán,

bệnh tật…hay cán bộ công nhân viên bị đình chỉ làm việc, sự đóng cửa tạm thời

của xí nghiệp, nhà máy hoặc cơng ty phá sản, giải thể. Những nguyên nhân này

làm cho cán bộ công nhân viên và người lao động mất việc làm hay thất nghiệp

tạm thời dẫn đến thu nhập của họ bị giảm sút và làm cho họ gặp khó khăn trong

việc hoàn trả nợ cho ngân hàng. Đây là một trong những lý do xãy ra nợ quá hạn,

nợ khó đòi trong cho vay tiêu dùng. Để ngăn chặn và phát hiện kịp thời những

khoản cho vay tiêu dùng có nguy cơ xãy ra nợ quá hạn hay không thu hồi được

nợ thì việc theo dõi việc trả nợ của khách hàng sau khi vay là rất cần thiết. Cán

bộ tín dụng phải thường xuyên kiểm tra, xem xét họ có còn làm việc tại cơ quan

đó hay chuyển đi nơi khác hoặc bỏ việc để kịp thời thu hồi nợ tránh rủi ro có thể

xãy ra.

Với nghiệp vụ cho vay tiêu dùng đối tượng vay là cán bộ công nhân viên

có thu nhập ổn định thì việc kiểm tra mục đích sử dụng vốn là khơng cần thiết.

Vì khách hàng này vay vốn đảm bảo khả năng trả nợ của mình từ tiền lương nên

việc sử dụng vốn vay vào mục đích khác nhau khơng làm ảnh hưởng đến khả

năng trả nợ của họ, vì nguồn trả nợ của họ không phụ thuộc vào vốn vay.

Mặt khác hoạt động cho vay tiêu dùng số lượng khách hàng đông nhưng

qui mô vốn vay nhỏ nên nếu áp đặt khuôn kiểm tra mục đích sử dụng vốn thì

cũng chỉ là hình thức vì đối với cán bộ tín dụng họ quản lý rất nhiều khách hàng

nên họ không thể kiểm tra hết được. Vì vậy để nâng cao hiệu quả thì Ngân hàng

nên bỏ qua khâu kiểm tra mục đích sử dụng vốn sau khi vay để giảm thời gian

giao dịch giữa cán bộ tín dụng và khách hàng, góp phần tăng năng suất hoạt động

của cán bộ tín dụng từ dó giúp cho họ co thể quan hệ với nhiều khách hàng hơn.

Cán bộ tín dụng phải quan tâm cố gắng hơn nữa trong việc theo dõi quá trình trả

nợ của khách hàng, các khoản cho vay phát ra lành mạnh thì việc thu hồi nợ rất là

dễ dàng và thuận lợi. Khi phát hiện ra dấu hiệu không lành mạnh của khách hàng



SVTH: Hà Thanh Bình



Trang 42



 Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD: Ths. Trịnh Thị Trinh



trong việc trả nợ, cán bộ tín dụng lập tức áp dụng các biện pháp để ngăn chặn

như: giúp họ tìm kiếm việc làm, yêu cầu tài sản đảm bảo, rút bớt vốn cho vay

hoặc yêu cầu sự bảo lãnh của người thứ ba.

Ngân hàng nên tăng cường xử lý các khoản cho vay tiêu dùng bị quá hạn

để tránh thất thoát cho Ngân hàng. Đối với công nhân viên chuyển địa điểm công

tác nhưng đến nay chưa trả được nợ cho Ngân hàng, cán bộ tín dụng phải cố

gắng liên hệ với cơ quan họ làm việc trước đây và hiện nay để đôn đốc và nhắc

nhở họ trả nợ. Đối với những khách hàng vay vốn không may bị chết, bị mất mát

tài sản hay gặp khó khăn trong cuộc sống…thì cán bộ tín dụng cố gắng đàm phán

với người vay, người thừa kế hoặc người bảo lãnh yêu cầu họ trả nợ hoặc gia hạn

nợ. Trường hợp cần thiết thì nhờ đến cơ quan pháp luật như: cơng an, Tòa án giải

quyết thu hồi nợ, phát mãi tài sản cầm cố…Bên cạnh đó chi nhánh nên lập quĩ dự

phòng rủi ro loại hình tín dụng này, vì cho vay khơng thu hồi được vốn và lãi do

những nguyên nhân khác nhau như: khách hàng lừa đảo, qua đời, mất cắp…

Đồng thời cán bộ tín dụng phụ trách cho vay tiêu dùng có nghiệp vụ theo dõi, dự

đốn các chủ trương, chính sách của Nhà nước, tình hình lưu thơng hàng hóa, các

đối tượng vay vốn…để định kì có những báo cáo phòng tránh, hạn chế đến mức

thấp nhất các rủi ro khách quan. Một khi Ngân hàng đã chủ động dự đoán tất cả

những rủi ro có thể xãy ra thì có thể hạn chế tốt nhất rủi ro này.

Tăng cường phát triển nguồn nhân lực:

Chất lượng đội ngũ nhân viên Ngân hàng quyết định chất lượng dịch vụ

Ngân hàng. Do đó OCB- ĐN nên tiến hành các biện pháp nâng cao chất lượng

đội ngũ cán bộ tín dụng cho phù hợp với tình hình kinh tế xã hội hiện nay như

tạo điều kiện cho cán bộ nâng cao kiến thức chuyên mơn, ngoại ngữ, vi tính ở

nhiều cấp độ khác nhau. Ln ln động viên khuyến khích nhân viên thơng qua

thưởng vật chất, tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp cho họ làm tốt cơng việc. Tăng

cường sự đồn kết nội bộ, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, ý thức tổ chức kỉ luật

cao, gương mẫu trong lối sống.

Ngoài những biện pháp trên, chi nhánh nên áp dụng đưa công nghệ thơng

tin tiên tiến hiện đại vận dụng trong q trình hoạt động của mình góp phần

khơng nhỏ vào việc mở rộng nâng cao chất lượng tín dụng.



SVTH: Hà Thanh Bình



Trang 43



 Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD: Ths. Trịnh Thị Trinh



KẾT LUẬN

Với đặc thù kinh doanh của ngành Ngân hàng là người đi vay để cho

vay thì hoạt động cho vay giữ vai trò rất quan trọng, nó mở rộng lợi nhuận cho

Ngân hàng và cũng tiềm ẩn rủi ro rất cao, trong đó hoạt động cho vay tiêu dùng

là một hoạt động mang lại lợi nhuận cũng như hiệu quả cao cho Ngân hàng bởi

nó có tính an tồn cao. Khách hàng của hoạt động này rất đa dạng, thuộc nhiều

thành phần kinh tế, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế nhưng Ngân

hàng ít gặp khó khăn trong vấn đề này vì nguồn thu nợ của cho vay tiêu dùng là

đảm bảo, ổn đ ịnh vì nó được trích từ tiền lương mỗi tháng của khách hàng. Tuy

nhiên, Ngân hàng phải thẩm định thật kỹ thu nhập, uy tín của khách hàng, nếu

khơng làm như vậy có thể Ngân hàng sẽ gặp trở ngại lớn trong việc thu hồi nợ,

dẫn đến kết quả hoạt động của Ngân hàng không được cao.

Một lần nữa em xin cảm ơn giáo viên trực tiếp hướng dẫn là Ths Trịnh

Thị Trinh và các anh chị phòng tín dụng OCB- ĐN đã tận tình hướng dẫn, giúp

đỡ em hồn thành đề tài này.



SVTH: Hà Thanh Bình



Trang 44



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI TMCP PHƯƠNG ĐÔNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×