Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỔ CHỨC HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH Ở CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 3

2 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỔ CHỨC HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH Ở CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 3

Tải bản đầy đủ - 0trang

97



khơng ổn định và khó dự đốn. Chính vì vậy trong chuẩn mực và thơng lệ kế

tốn quốc tế lãi kinh doanh là các khoản lãi lỗ từ các hoạt động kinhdoanh

thông thường của doanh nghiệp, không bao gồm các khoản thu nhập và chi

phí tài chính; điều này cho phép các nhà đầu tư có thể dự đốn trong những

năm tới nếu các điều kiện khác không thay đổi, lãi kinh doanh của Cơng ty

cũng sẽ ở mức đó cộng với một tỷ lệ tăng trưởng nào đó. Tuy nhiên theo VAS

21 “ Trình bày Báo cáo Tài chính ” thì lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh

doanh bao gồm cả lợi nhuận và chi phí tài chính; điều này dễ làm cho các nhà

đầu tư nhầm lẫn rằng trong năm tới nếu khơng có gì thay đổi lãi kinh doanh

của Công ty cũng sẽ ở mức tương tự; tuy nhiên khoản thu nhập tài chính

khơng phải là khoản thu nhập thường xuyên và không chắc chắn sẽ xuất hiện

trong năm tới.

* Quy định thống nhất việc xác định lãi cơ bản trên cổ phiếu ( EPS )

EPS là một trong những chỉ tiêu được sử dụng thường xuyên nhất đối

với các nhà đầu tư, và cũng ảnh hưởng lớn đối với giá cổ phiếu công ty. Tuy

nhiên VAS và các hướng dẫn về nó vẫn còn chưa đầy đủ cũng như việc triển

khai thực hiện nó còn có nhiều vấn đề

EPS cơ bản: theo VAS 30, thông tư số 21/2006/TT-BTC hướng dẫn VAS

30 và IAS 33, EPS cơ bản đều được tính theo cơng thức sau

EPS = Tổng lãi ( lỗ ) thuần thuộc các cổ đông phổ thơng / Số bình qn

gia quyền cổ phiếu phổ thơng lưu hành trong kỳ

Trong đó

Tử số: Lãi thuộc cổ đơng phổ thông nhưng lại chưa trừ các quỹ không

thuộc cổ đông: VAS 30 không đề cập đến việc phảI điều chỉnh giảm các

khoản lãI nhưng không dành cho cổ đông phổ thông như quỹ khen thưởng

cho khách hàng, quỹ thưởng cho Hội đồng Quản trị, Quỹ khen thưởng phúc

lợi dành cho nhân viên. Những khoản này theo IAS nó được ghi nhận là các



98



khoản chi phí được trừ khỏi lãi dành cho cổ đông. Thông thường sau một năm

hoạt động có lãi, các cơng ty thường dành khoảng 5-15 % tổng số lãi thuần

sau thuế để chi cho nhân viên dưới hình thức lập Quỹ khen thưởng, phúc lợi.

Mẫu số: Số bình quân gia quyền của các cổ phiếu phổ thông lưu hành

trong kỳ. Tuy nhiên những sự kiện chia tách cổ phiếu, thưởng cổ phiếu, chia

cổ tức bằng cổ phiếu thì cổ phiếu được tính từ ngày đầu tiên trong kỳ

Thông tư 21 hướng dẫn VAS 30 đã đề cập khá rõ ràng là trong những

trường hợp gộp, chia tách và thưởng cổ phiếu mà khơng có bất cứ một sự

tăng, giảm về dòng tiền, hay tài sản và nguồn vốn đối với Cơng ty, thì cổ

phiếu gộp, chia tách, thưởng mặc dù phát sinh vào bất kỳ thời điểm nào trong

kỳ cũng phải được tính vào ngày đầu tiên của năm báo cáo. Và cũng sẽ điều

chỉnh tương ứng cho số cổ phiếu của những năm trước để có tính so sánh giữa

các năm. Mặc dù thơng tư 21 không đề cập đến việc chia cổ tức bằng cổ

phiếu, nhưng bản chất của việc chia cổ tức bằng cổ phiếu giống như thưởng

cổ phiếu, điều này được ghi rất rõ trong IAS 33. Vì vậy nên chế độ kế toán

Việt Nam nên bổ sung việc chia cổ tức bằng cổ phiếu để việc thực hiện tại

các công ty dễ dàng hơn. Kể cả trong trường hợp chưa có hướng dẫn bổ sung

việc này thì các donah nghiệp cũng nên điều chỉnh cho đúng bản chất mà nó

khơng tráI với các quy định của chuẩn mực.

* Quy định thống nhất việc xác định các chỉ tiêu trên Bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán là một Báo cáo Tài chính quan trọng để phản ánh

tình hình tài chính của một doanh nghiệp tại một ngày cụ thể

- Vốn chủ sở hữu bao gồm cả những khoản không thuộc chủ sở hữu.

Một số khoản phải trả thưởng cho nhân viên, cho Hội đồng Quản trị như các

quỹ khen thưởng phúc lợi,thực chất là các khoản phải trả chứ không thuộc

vốn chủ sở hữu những vẫn được báo cáo trong mục vốn chủ sở hữu. Nó cần

phả được loại ra khỏi vốn chủ sở hữu và đối xử như các khoản chi phí phải trả



99



- Các khoản cổ tức phải trả theo đề nghị nên được ghi giảm “ Lãi chưa

phân phối ”. Đa phần các công ty đều chia cổ tức lần cuối hoặc duy nhất sau

kỳ họp đại hội đồng cổ đông thường vào cuối quý 1 và đầu quý 2 năm tiếp

theo. Tuy vậy khi lập Báo cáo Tài chính năm, các cơng ty thường đã có kế

hoạch chia cổ tức cho năm rồi mặc dù nó có thể được cơng bố hay chưa. Xét

về bản chất các khoản vốn chủ sở hữu là những khoản mà công ty được sử

dụng lâu dài mà không phải lo trả nợ. Những khoản cổ tức này dù chưa có

quyết định chính thức,mới chỉ có đề nghị từ Hội đồng Quản trị hay sự ước

tính của ban lãnh đạo cơng ty thì các cơng ty cũng nên ghi nó vào là một

khoản cổ tức ước tính phải trả và ghi giảm phần vốn “ LãI chưa phân phối ”.

Làm được điều đó sẽ làm cho Bảng cân đối kế tốn phản ánh chính xác hơn

tình hình tài chính, vốn chủ sở hữu của Công ty.

- Các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn và dài hạn dưới 20 % vốn vào

một công ty nên được báo cáo theo giá trị hợp lý có thể thực hiện được ( giá

thị trường ) giống như IAS hơn là báo cáo theo giá vốn như VAS hiện nay.

Hiện nay do giá chứng khoán trên thị trường xuống ở mức khá thấp các nhà

đầu tư nên xem phần thuyết minh các Báo cáo Tài chính liên quan đến việc

lập dự phòng giảm giá các khoản đầu tư, xem xét việc Cơng ty có lập dự

phòng đúng và trung thực theo quy định hay khơng. Nó có thể ảnh hưởng rất

lớn đến kết quả kinh doanh nếu Cơng ty có khoản đầu tư tài chính lớn.

3.2.1.2 Hồn thiện cơ sở pháp lý hiện hành về những vấn đề liên quan đến

việc lập và trình bày Báo cáo Tài chính hợp nhất.

* Hồn thiện kỹ thuật lập BCTC hợp nhất trong các Công ty, tập đồn

kinh tế Việt Nam theo mơ hình cơng ty mẹ – cơng ty con vào ngày quyền

kiểm sốt được thiết lập

Thứ nhất: Cần thiết phải quy định việc lập BCTC hợp nhất tại ngày

quyền kiểm sốt được thiết lập



100



Khi Cơng ty, tập đồn có những biến động về quy mơ, lĩnh vực kinh

doanh do đạt được quyền kiểm soát đối với các doanh nghiệp khác cần thiết

phải công bố báo cáo tài chính hợp nhất tại thời điểm đó

Thứ hai: Cần có những hướng dẫn cụ thể hơn về việc xác định giá trị

hợp lý trong các giao dịch hợp nhất kinh doanh

Một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định để các doanh nghiệp có

thể lập BCTCHN là việc xác định giá trị hợp lý của các tài sản, nợ phải trả và

các yếu tố khác phát sinh trong giao dịch hợp nhất liên quan đến việc tính

tốn giá phí hợp nhất kinh doanh và phân bổ giá phí hợp nhất cho tài sản, nợ

phải trả thu được từ giao dịch hợp nhất.

Việc quy định phương pháp xác định giá trị hợp lý một cách cụ thể như

trong Chuẩn mực kế toán số 11 “ Hợp nhất kinh doanh ” đã tạo ra những

thuận lợi trong việc tính toán xác định giá trị hợp lý của từng bộ phận tài sản,

nợ phải trả trong từng trường hợp. Tuy nhiên, cần phải đưa ra những quy định

mang tính chất tổng quát về phương pháp xác định giá trị hợp lý để áp dụng

trong các trường hợp khác nhau có thể phát sinh trong thực tiễn.

Thứ ba: Hoàn thiện Kế toán lợi thế thương mại

Theo VAS 11, lợi thế thương mại là khoản chênh lệch giữa giá phí hợp

nhất kinh doanh lớn hơn phần sở hữu của bên mua trong giá trị hợp lý thuần

của tài sản, nợ phải trả có thể xác định và khoản nợ tiềm tàng. Kết hợp với

khái niệm về lợi thế thương mại được định nghĩa trong VAS 04 “ Các tài sản

vơ hình khi mua doanh nghiệp nếu không thỏa mãn định nghĩa về tài sản vơ

hình và tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định vơ hình thì được coi là lợi thế

thương mại ”. ở cả hai khái niệm đều thừa nhận lợi thế thương mại là một tài

sản. Hiện nay chế độ kế toán quy định lợi thế thương mại được hạch toán vào

TK 242 và được phân bổ dần vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp mua trong thời gian không quá 10 năm. Việc phân bổ lợi thế thương



101



mại có ảnh hưởng quan trọng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi

vậy nó cần phải được theo dõi và hạch toán trên một tài khoản riêng biệt, đó

là tài khoản “ Lợi thế thương mại ”. Tài khoản này có nội dung và kết cấu như

một tài khoản tài sản, được trích khấu hao theo phương pháp đường thẳng

trong thời gian tối đa 10 năm, được trình bày thành một chỉ tiêu riêng biệt trên

BCTC trong phần Tài sản dài hạn.

Thứ tư: Hoàn thiện phương pháp xử lý các khoản điều chỉnh trong giao

dịch hợp nhất kinh doanh để lập BCTCHN tại ngày quyền kiểm soát được

thiết lập.

Tại ngày mua, để phục vụ lập BCTCHN kế tốn phải tính tốn và lập các

bút tốn điều chỉnh gồm

- Điều chỉnh để ghi nhận số chênh lệch giữa giá trị hợp lý và giá trị ghi

sổ của các tài sản và các khoản nợ phải trả có thể xác định được của công ty

con tại ngày mua

- Ghi nhận giá trị ghi sổ khoản đầu tư của công ty mẹ trong công ty con và

phần vốn của công ty mẹ trong vốn chủ sở hữu của công ty con tại ngày mua

để loại trừ khi hợp nhất. Đồng thời xác định lợi thế thương mại phát sinh khi

hợp nhất kinh doanh ( nếu có ) để ghi nhận trên Bảng cân đối kế toán hợp nhất

- Xác định lợi ích của cổ đơng thiểu số trong giá trị tài sản thuần của

công ty con hợp nhất để ghi nhận trên Bảng cân đối kế toán hợp nhất.

Theo quy định của chế độ kế toán Việt Nam quy định tại ngày mua, kế

toán bên mua phải phản ánh các bút toán điều chỉnh nêu trên vào sổ kế toán

hợp nhất để phục vụ cho việc lập BCTCHN vào cuối niên độ kế toán. Cũng

như các nội dung hướng dẫn khác về BCTCHN, chế độ kế tốn khơng quy

định sử dụng tài khoản trong quá trình xử lý số liệu lập BCTCHN. Ngồi ra

các bút tốn điều chỉnh cũng chỉ được ghi trên sổ kế toán hợp nhất. Những

quy định này đã tạo ra một số khó khăn nhất định trong việc hiểu và tổ chức



102



lập BCTCHN. Do vậy, cần quy định một hệ thống tài khoản riêng để phản

ánh các nghiệp vụ điều chỉnh này.

Ngoài ra việc sử dụng một sổ kế toán hợp nhất duy nhất để phản ánh tất

cả các bút toán điều chỉnh dẫn đến khối lượng ghi chép vào sổ quá lớn, do vậy

cần quy định một hệ thống sổ kế toán để ghi chép các nghiệp vụ điều chỉnh

khi lập BCTC. Có thể sử dụng các hình thức sổ đơn giản như: Nhật ký chung,

chứng từ ghi sổ…

* Hoàn thiện mẫu bảng biểu khi lập BCTCHN

Các mẫu biểu mà Thông tư 23/2005/ TT-BTC hướng dẫn đưa ra nhằm

để lập BCTCHN, trong đó có sổ kế toán hợp nhất, Bảng tổng hợp kết quả

kinh doanh hợp nhất, Bảng cân đối kế toán hợp nhất. Tuy nhiên khi tìm hiểu

và tiếp cận các mẫu sổ thì ở các mẫu sổ có nhiều điểm khơng phù hợp với

thông lệ chung và không khoa học, dẫn đến việc làm cho người làm cơng tác

kế tốn khó thực hiện được và đối chiếu số liệu, cụ thể:

-



Đối với sổ kế toán hợp nhất và bảng cân đối kế toán hợp nhất



Nhìn vào cột bút tốn điều chỉnh trên mẫu sổ kế toán hợp nhất và Bảng

cân đối kế toán hợp nhất gồm có 2 phần: phần tăng (+), phần giảm (-). Bút

toán điều chỉnh tăng bao gồm bên Nợ của các tài khoản tài sản và bên có các

khoản đầu tư vốn; bút toán điều chỉnh giảm bao gồm bên Có của các tài

khoản tài sản và bên Nợ của các tài khoản thuộc nguồn vốn. Theo nguyên tắc

kế toán kép, nếu ta phản ánh bút toán để phản ánh tài khoản tài sản tăng – ghi

Nợ nhưng kết quả là các tài khoản phản ánh nợ và vốn chủ sở hữu lại tăng.

Như vậy, việc ghi bút toán điều chỉnh như vậy là không phù hợp với thông lệ

quốc tế về kế toán đồng thời làm cho người sử dụng hay bị nhầm lẫn trong

việc ghi chép, đối chiếu số liệu.

Ngồi ra trên sổ kế tốn hợp nhất ở cột diễn giải, cứ mỗi một chỉ tiêu thì

liên quan đến công ty mẹ và công ty con và chỉ tiêu kế tiếp lại phân ra là công



103



ty mẹ và công ty con… Như vậy cụm từ “ Công ty mẹ ” và “ Công ty con ”

lặp lại rất nhiều lần trên sổ kế toán hợp nhất, do đó thể hiện sự rườm rà,

khơng khoa học.

- Đối với Bảng Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh

Trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất thì cột điều chỉnh

phần tăng, phần giảm lại ghi cột mà khơng quy định cụ thể là tăng thì ghi bình

thường, còn giảm thì ghi trong ngoặc, thể hiện tính khơng nhất quán. Điều đó

gây khó khăn cho các đối tượng sử dụng BCTC và các cơ quan trong việc

kiểm tra số liệu vì quy định khơng thống nhất.

* Hồn thiện một số điểm chưa giải quyết triệt để trong thông tư 23

Thứ nhất: Theo hệ thống kế toán cao cấp của Mỹ thì các bút tốn điều

chỉnh được ghi vào sổ kế tốn hợp nhất trước, sau đó mới ghi đồng thời vào

Báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất và Bảng cân đối kế tốn hợp nhất.

Trong khi đó theo thơng tư 23 thì các bút tốn điều chỉnh phản ánh một cách

rời rạc, tách biệt nhau để lập từng báo cáo tài chính một. Với cách hướng dẫn

như vậy sẽ rất khó thực hiện đối chiếu, kiểm tra số liệu, định vị các sai sót để

lập một BCTCHN hoàn chỉnh.

Thứ hai: Về vấn đề xảy ra trong giao dịch nội bộ giữa các cơng ty trong

tập đồn.

Trong thực tế, giao dịch nội bộ xảy ra trong tập đoàn khi thành viên

trong tập đồn cung cấp hàng hóa dịch vụ qua lại lẫn nhau nhưng trong

Thông tư 23 hướng dẫn chỉ đề cập đến việc loại trừ các chỉ tiêu liên quan đến

các giao dịch trong nội bộ tập đồn đó là nghiệp vụ Cơng ty mẹ bán hàng cho

Cơng ty con ( giao dịch xI chiều ), còn trường hợp giao dịch ngược chiều

( Công ty con bán hàng cho Cơng ty mẹ ) thì khơng được đề cập và thông tư

23 thiếu hướng dẫn cụ thể trong trường hợp hàng hóa giao dịch nội bộ cho

từng trường hợp:



104



-



Hàng hóa đã bán hết ra ngồi



-



Hàng hóa chưa bán hết ra ngoài



Trong giao dịch nội bộ trong tập đoàn đối với nghiệp vụ cung cấp hàng

hóa lẫn nhau, thơng tư 23 khơng thể phân biệt cụ thể hàng hóa giao dịch đó là

hàng tồn kho hay hàng hóa đó là Tài sản cố định và không phân biệt chi tiết

hơn là tài sản mua về nhằm mục đích sử dụng hay mục đích bán lại. Và nếu

như thế thì các bút toán điều chỉnh giao dịch nội bộ là hàng tồn kho khác với

giao dịch nội bộ là tài chính cố định cho từng trường hợp cụ thể khác nhau.

Thứ ba: Trong VAS 25 có quy định là cơng ty mẹ phải hợp nhất tồn bộ

các cơng ty con trong và ngồi nước, nhưng trong Thơng tư hướng dẫn lại quy

định cụ thể việc ảnh hưởng tỷ giá hối đối khi chuyển đổi Báo cáo Tài chính

từ hoạt động ở nước ngoài để lập BCTCHN của đơn vị báo cáo

Thứ tư: Thông tư 23 chưa đưa ra đầy đủ các trường hợp xác định quyền

kiểm soát mà chỉ đưa ra hai trường hợp đó là:

- Xác định quyền kiểm sốt trực tiếp của cơng ty mẹ đối với Cơng ty con

- Xác định quyền kiểm soát gián tiếp của Công ty mẹ thông qua một

công ty con khác vừa đầu tư trực tiếp.

Như vậy thơng tư 23 còn thiếu trường hợp xác định quyền kiểm soát gián

tiếp

3.2.2 Những nội dung cần hồn thiện trong Cơng tác tổ chức hệ thống

Báo cáo Tài chính tại Cơng ty Cổ phần Xây dựng số 3

3.2.2.1 Các giải pháp hoàn thiện về tổ chức thu thập thông tin phục vụ lập

Báo cáo Tài chính

- Hồn thiện tổ chức cơng tác kế tốn phục vụ thơng tin cho việc lập và

trình bày Báo cáo Tài chính. Đặc biệt, Có thể nói hệ thống thơng tin kế toán

phục vụ cho lập BCTCHN là yêu cầu tiên quyết trong việc lập Báo cáo này.

Để lập được BCTCHN, kế toán cần rất nhiều dữ liệu và chứng từ kế tốn của



105



cơng ty mẹ và các cơng ty con.

- Xây dựng chính sách kế tốn thống nhất giữa công ty mẹ và công ty

con. Công ty cần nghiên cứu và ban hành quy chế tổ chức kế toán trong tồn

đơn vị để đảm bảo khi thực hiện chính sách kế toán, kỳ kế toán cũng như việc

ghi nhận các thông tin chi tiết liên quan đến vấn đề cung cấp nội bộ nhằm

giúp cho việc xử lý thông tin khi hợp nhất Báo cáo Tài chính được thuận lợi,

dễ dàng và trung thực hợp lý.

- Nghiên cứu và xây dựng mơ hình tổ chức kế tốn phù hợp với tình hình

tổ chức quản lý, tổ chức kinh doanh và đặc điểm hoạt động để có được thơng

tin thích hợp khi đánh giá các công ty con và phục vụ thông tin cho việc lập

BCTCHN trong tương lai.

- Thiết kế hệ thống kiểm sốt nơi bộ theo hướng thơng tin phục vụ cho

lập và trình bày BCTC để có được thông tin đáng tin cậy cho đối tượng sử

dụng BCTC

- Nâng cao trình độ hiểu biết của nhà quản lý tại doanh nghiệp khi đọc

các thơng tin trình bày trên BCTC để BCTC là cơng cụ hữu ích cho việc kiểm

soát và ra các quyết định liên quan đến các hoạt động của toàn doanh nghiệp

3.2.2.2 Các giải pháp hoàn thiện các chỉ tiêu trên BCTC

* Hoàn thiện một số khoản mục tài sản trên bảng CĐKT

Đoạn 37 của chuẩn mực kế tốn số 21- Trình bày báo cáo tài chính (VAS

21) quy định khi lập Bảng CĐKT phải phân loại và trình bày riêng biệt các tài

sản thành ngắn hạn và dài hạn. Đây được xem là yêu cầu cơ bản khi lập Bảng

CĐKT vì các thơng tin này nếu bị trình bày sai lệch sẽ ảnh hưởng đến tình

hình tài chính của doanh nghiệp. Mặc dù chế độ kế toán doanh nghiệp nước ta

trong thời gian qua đã có nhiều thay đổi, hòan thiện để phù hợp với thông lệ

quốc tế.

Tuy nhiên, trên thực tế các doanh nghiệp vẫn còn lúng túng trong việc



106



phân loại và trình bày một số khoản mục tài sản thành ngắn hạn và dài hạn

trên bảng cân đối kế toán do một số nội dung quy định của chế độ kế toán

doanh nghiệp hiện hành chưa hợp lý.

* Các khoản chi phí trả trước:

Chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số

15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ Tài chính quy định chi phí trả trước

được hạch tốn và theo dõi trên tài khoản 142 – “Chi phí trả trước ngắn hạn”,

tài khoản 242 – “Chi phí trả trước dài hạn” với các quy định cụ thể như sau:

Tài khoản 142 chỉ phản ánh những khoản chi phí trả trước ngắn hạn phát

sinh có giá trị lớn liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều kỳ

hạch toán trong một năm tài chính hoặc một chu kỳ kinh doanh khơng thể tính

hết cho kỳ phát sinh chi phí. Số dư cuối kỳ của tài khoản này được điền vào

chỉ tiêu “Chi phí trả trước ngắn hạn” trên bảng cân đối kế toán.

Tài khoản 242 chỉ phản ánh các chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có

liên quan đến kết quả hoạt động SXKD trên một số năm tài chính. Số dư cuối

kỳ của tài khoản này được điền vào chỉ tiêu “Chi phí trả trước dài hạn” trên

bảng cân đối kế tốn.

Do đó, nếu căn cứ theo quy định của chế độ kế tốn hiện hành thì tài

khoản 142- “Chi phí trả trước ngắn hạn” cuối năm số dư sẽ bằng không nghĩa

là trên bảng cân đối kế tốn năm của doanh nghiệp chỉ tiêu “chi phí trả trước

ngắn hạn” sẽ khơng có số liệu. Trong khi đó, đoạn 40 VAS 21 quy định một

tài sản được xếp vào loại tài sản ngắn hạn khi tài sản này:

- Được dự tính để bán hoặc sử dụng trong khn khổ của chu kỳ kinh

doanh bình thường của doanh nghiệp;

- Được nắm giữ chủ yếu cho mục đích thương mại hoặc cho mục đích

ngắn hạn và dự kiến thu hồi hoặc thanh tốn trong vòng 12 tháng kể từ ngày



107



kết thúc niên độ;

- Là tiền hoặc tài sản tương đương tiền mà việc sử dụng không gặp một

hạn chế nào

Như vậy, đã có sự khác biệt giữa chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán

bởi lẽ nếu xét theo đoạn 49 của VAS 21 thì trên thực tế vào điểm cuối năm tài

chính doanh nghiệp vẫn có thể có các khoản chi phí trả trước ngắn hạn.

Trên thực tế có thể thấy việc phân loại các khoản chi phí trả trước thành

ngắn hạn và dài hạn chỉ cần thiết khi lập BCTC tức là ở thời điểm cuối kỳ kế

tốn, còn khi nghiệp vụ kinh tế phát sinh thì khơng cần thiết phải phân chia

các tài sản này thành ngắn hạn và dài bạn bởi vì ở những thời điểm khác nhau

các khoản chi phí trả trước dài hạn có thể chuyển thành ngắn hạn. Do đó, để

đơn giản cơng tác kế tốn và đảm bảo tn thủ chuẩn mực kế tốn khi lập và

trình bày báo cáo tài chính, chế độ kế tốn khơng cần thiết phải mở riêng hai

toàn khoản 142 và 242 mà chỉ cần sử dụng một tài khoản 142 để theo dõi tất

cả các khoản chi phí trả trước của doanh nghiệp với tên gọi là chi phí trả

trước. Vào thời điểm lập báo cáo tài chính, căn cứ sổ chi tiết tài khoản 142 và

quy định của đoạn 49 VAS 21, doanh nghiệp sẽ phân loại các khoản chi phí

trả trước thành ngắn hạn và dài hạn để trình bày trên bảng cân đối kế tốn.

Khi đó sẽ đảm bảo tính thống nhất của chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán.

* Vật tư thiết bị dùng cho xây dựng cơ bản:

Hiện nay, các doanh nghiệp dù tổ chức công tác kế toán đầu tư xây dựng

cơ bản riêng hay thực hiện trên cùng hệ thống sổ kế toán của doanh nghiệp thì

giá trị vật tư thiết bị dùng cho xây dựng cơ bản (XDCB) cũng đều được thể

hiện trên Tài khoản 152- Nguyên vật liệu và được trình bày ở khoản mục

Hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp.

Theo đoạn 03 của chuẩn mực kế toán Hàng tồn kho (VAS 02) thì hàng

tồn kho là những tài sản:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỔ CHỨC HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH Ở CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 3

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x