Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 3

HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 3

Tải bản đầy đủ - 0trang

91



khác nhau.

Thứ ba, áp lực của thị trường chứng khoán đòi hỏi thơng tin BCTC của

các doanh nghiệp ngày càng phải công khai, minh bạch, thuận lợi cho việc

đọc và phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp. Sự ra đời và phát triển

ngày càng mạnh mẽ của thị trường chứng khoán nước ta hiện nay đã tạo ra

một kênh huy động vốn quan trọng cho các doanh nghiệp thông qua việc phát

hành cổ phiếu, trái phiếu. Để huy động vốn trên thị trường chứng khốn thì

thơng tin trên BCTC phải trung thực, hợp lý, thuận lợi cho người đầu tư phân

tích tình hình tài chính doanh nghiệp.

Thứ tư, Với tốc độ phát triển nhanh chóng, khơng ngừng, nền kinh tế thị

trường luôn nảy sinh nhiều hoạt động, nghiệp vụ kinh tế mới, cho nên việc

hoàn thiện, đổi mới cơ chế, chính sách kế tốn cũng như hệ thống BCTC

doanh nghiệp càng được đặt ra như là một yêu cầu cấp bách khi hoạt động

kinh tế ngày càng đa dạng, hình thức vận động của đồng tiền ngày càng đa

dạng, phức tạp, thậm chí chưa từng có ở Việt Nam.

3.1.2 u cầu và ngun tắc hồn thiện Cơng tác tổ chức hệ thống Báo

cáo Tài chính

* Quan điểm hồn thiện

Xuất phát từ môi trường kinh tế và luật pháp của Việt Nam hiện nay thì

quá trình xây dựng hệ thống BCTC phải quán triệt một số quan điểm sau đây :

Thứ nhất : Tuân thủ pháp luật đồng thời đảm bảo tính trung thực và hợp

lý của các thơng tin trình bày trên BCTC. Điều này có nghĩa là BCTC được

soạn thảo theo một luật định qui định sẵn, bất chấp việc tuân thủ những luật lệ

đó có đi ngược lại thực tế kinh doanh hay không. Quan điểm này chú trọng

nhiều đến việc bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ và những người cho vay cao

hơn quyền lợi của các nhà đầu tư. Việc xác định các khoản tiền thuế mà doanh

nghiệp phải đóng dẫn đến những qui định rất chi tiết về đo lường thu nhập,

đánh giá tài sản và cách ghi chép các khoản mục trong BCTC.



92



Thứ hai : Công khai BCTC.

- Khẳng định việc công khai BCTC của doanh nghiệp là việc làm rất cần

thiết trong tình hình hiện nay, thực hiện đúng mục tiêu của BCTC. Qua việc

công bố công khai BCTC, tạo sự tin tưởng đối với đối tượng bên ngoài khi họ

cân nhắc mua trái phiếu, cổ phiếu của doanh nghiệp, từ đó tạo điều kiện thúc

đẩy q trình cổ phần hố doanh nghiệp phát triển nhanh chóng, đồng thời tạo

mơi trường thông tin cần thiết cho sự ra đời của thị trường chứng khốn đang

trong q trình hình thành.

- Mức độ công khai thông tin trên BCTC đối với các doanh nghiệp được

xác định trong một phạm vi nhất định. Phạm vi thông tin được công bố công

khai trên BCTC, được qui định cụ thể trong “Bảng công bố công khai một số

chỉ tiêu tài chính năm”, bao gồm các chỉ tiêu tổng quát về tài sản lưu động, tài

sản cố định, nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, vốn kinh doanh, các quỹ, kết quả kinh

doanh, nộp ngân sách Nhà nước, lao động, thu nhập. Bộ Tài chính đã nêu rõ

tuỳ theo từng đối tượng và mục đích cụ thể mà doanh nghiệp lựa chọn các chỉ

tiêu cơng khai thích hợp, và trong những điều kiện đặc biệt, doanh nghiệp

được phép khơng cơng bố cơng khai tình hình tài chính hằng năm của mình.

Hệ thống BCTC chỉ được gửi đến các cơ quan quản lý Nhà nứoc theo qui

định (QĐ 15/2006/QĐ - BTC do Bộ Tài chính ban hành ).

Thứ ba : Phù hợp với tính đa dạng của các loại hình doanh nghiệp. Trong

cơng cuộc đổi mới ngày nay, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng nền

kinh tế thị trường nhiều thành phần, đa dạng hoá các hình thức sở hữu. Do vậy,

trong nền kinh tế hiện nay đang tồn tại một số lượng lớn các doanh nghiệp hoạt

động ở nhiều lĩnh vực, có qui mơ, kết cấu tổ chức, hình thức sở hữu rất đa

dạng. Những doanh nghiệp này có những đặc điểm khác nhau, đòi hỏi Nhà

nước phải xây dựng một hệ thống BCTC thật linh hoạt, phù hợp với tính đa

dạng của các loại hình doanh nghiệp, nhằm đáp ứng được yêu cầu quản lý kinh



93



tế, tài chính của Nhà nước đối với mọi loại hình doanh nghiệp ; cũng như yêu

cầu chỉ đạo, điều hành của các ngành, các tổng công ty. Hệ thống BCTC ban

hành theo quyết định 15/2006/QĐ-BTC được xây dựng để áp dụng cho tất cả

các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế. Nhưng trong

tình hình hiện nay, hệ thống BCTC hiện đang áp dụng vẫn còn có những điểm

chưa phù hợp với các loại hình doanh nghiệp như các tổng công ty, các công ty

cổ phần. Vì thế Bộ Tài chính cần nghiên cứu, xây dựng và ban hành những qui

định bổ sung đối với các loại hình doanh nghiệp nói trên, nhằm đảm bảo tính

linh hoạt của hệ thống BCTC, phù hợp với tính đa dạng của các loại hình

doanh nghiệp trong nền kinh tế hiện nay.

Thứ tư : Đảm bảo có tiếng nói chung. Nền kinh tế khu vực và nền kinh tế

thế giới đã, đang và sẽ tiếp tục có những thay đổi to lớn với xu hướng nổi bật

là tự do hố nền thương mại thế giới. Trong bối cảnh tồn cầu hoá nền kinh tế

thế giới, đã mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội và khả năng trong việc huy

động mọi nguồn lực cho sự phát triển, đồng thời cũng đang đặt Việt Nam

trước nhiều thách thức mới. Trước tình hình đó dù muốn hay khơng Việt Nam

cũng sẽ phải hội nhập vào dòng chảy của thời đại.

Hiện nay, Việt Nam đang từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới,

hiện là thành viên của ASEAN, APEC ,WTO... Để đáp ứng yêu cầu của sự hội

nhập nền kinh tế, Việt Nam đang tích cực chủ động đổi mới cơ chế quản lý

kinh tế, vì thế các cơng cụ quản lý kinh tế, trong đó có kế tốn, cũng đòi hỏi

phải được đổi mới sao cho thích hợp với các chuẩn mực, thơng lệ kế tốn của

các nước trên thế giới, nhằm giúp thu hẹp những khác biệt về hệ thống BCTC ở

những nước khác nhau, tăng cường tính so sánh của hệ thống BCTC giữa các

nước khác nhau, từ đó từng bước tạo ra tiếng nói chung về kế tốn.

- Thứ năm, Cần phải hồn thiện về phương pháp lập, kỹ thuật tính tốn

các chỉ tiêu trên Báo cáo Tài chính để đảm bảo tính chính xác và thơng tin trình



94



bày trung thực, hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu. Bởi vì Báo cáo Tài chính là

bức tranh chụp lại tình hình tài chính tổng qt của Doanh nghiệp tại một thời

điểm nhất định. Đây là báo cáo kế tốn rất quan trọng, phản ánh tồn bộ hoạt

động kinh doanh của đơn vị

- Thứ sáu: Đảm bảo tính kinh tế trong việc tổ chức cơng tác kế tốn và tổ

chức hệ thống Báo cáo Tài chính vì việc lập Báo cáo Tài chính là yêu cầu bắt

buộc đối với các doanh nghiệp. Cho nên quan điểm hoàn thiện phải xuất phát

từ công việc tổ chức hệ thống thơng tin để phục vụ lập và trình bày Báo cáo Tài

chính đảm bảo tính kinh tế.

Xuất phát từ những quan điểm nói trên, mục tiêu hồn thiện hệ thống

BCTC là phải phù hợp với môi trường kinh tế, luật pháp của Việt Nam, phù

hợp với tập quán kế toán của Việt Nam. Đồng thời có tính đến sự phù hợp với

thơng lệ kế tốn quốc tế, đảm bảo cho thơng tin trình bày trên BCTC vừa tn

thủ pháp luật vừa mang tính trung thực hợp lý. Trên cơ sở đó cung cấp những

thơng tin hữu ích nhất cho các đối tượng sử dụng BCTC.

* Ngun tắc hồn thiện Cơng tác tổ chức hệ thống Báo cáo Tài chính

- Một là, Hệ thống BCTC áp dụng cho các doanh nghiệp được xây dựng

trên cơ sở, nguyên tắc, thông lệ và chuẩn mực kế toán quốc tế và điều chỉnh

cho phù hợp với tình hình cụ thể của nước ta. Nền kinh tế khu vực và nền

kinh tế thế giới đã,đang và sẽ tiếp tục có những thay đổi to lớn với xu hướng

là tự do hóa nền thương mại thế giới. Trong bối cảnh tồn cầu hóa nền kinh tế

thế giới đã mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội và khả năng trong việc huy động

mọi nguồn lực cho sự phát triển, đồng thời cũng đang đặt Việt Nam trước

nhiều thách thức mới. Tính tin cậy và khả năng so sánh của thông tin so sánh

của thông tin kế toán là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hấp dẫn của

đầu tư. Trước tình hình đó, Việt Nam đang từng bước hội nhập vào dòng chảy

của thời đại, vào nền kinh tế của thế giới; trở thành thành viên của WTO năm



95



2006 là một mốc son quan trọng khẳng định rõ điều này. Để đáp ứng yêu cầu

của hội nhập nền kinh tế, Việt Nam đang tích cực chủ động đổi mới cơ chế

quản lý kinh tế, vì thế cơng cụ quản lý kinh tế trong đó có kế tốn đòi hỏi phảI

được đổi mới sao cho thích hợp với các chuẩn mực, thơng lệ kế tốn của các

nước trên thế giới, nhằm thu hẹp những khác biệt về hệ thống BCTC và cách

thức trình bày BCTC, tăng cường so sánh giữa hệ thống BCTC Việt Nam với

các nước trên thế giới, từ đó từng bước tạo ra tiếng nói chung về kế tốn.

- Hai là, Phải phù hợp với môi trường, đặc điểm kinh tế và luật pháp Việt

Nam, phù hợp với tập quán, thông lệ, trình độ kế tốn, trình độ quản lý và tính

đa dạng của các loại hình doanh nghiệp Việt Nam. Quá trình hình thành và

phát triển của kế tốn Việt Nam trải qua một thời gian dài. Các doanh nghiệp,

các tổ chức kinh tế đã và đang trong quá trình đổi mới cùng với sự chuyển đổi

của cơ chế quản lý kinh tế. Trong công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước ta

chủ trương xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, đa dạng hóa các hình thức

sở hữu. Do vậy, trong nền kinh tế hiện nay đang tồn tại một số lượng lớn các

doanh nghiệp hoạt động ở nhiều lĩnh vực,có quy mơ, kết cấu tổ chức, hình

thức sở hữu rất đa dạng. Những doanh nghiệp này có những đặc điểm khác

nhau, đòi hỏi Nhà nước phải xây dựng một hệ thống BCTC phải linh hoạt,

phù hợp với đa dạng của các loại hình doanh nghiệp cũng như phù hợp với

trình độ quản lý của các doanh nghiệp.

- Ba là, Hồn thiện hệ thống BCTC phải đảm bảo tính khả thi, tiết kiệm

và có hiệu quả. Hồn thiện hệ thống BCTC phải làm cho các BCTC trở nên

đơn giản, gọn nhẹ, không cồng kềnh, phức tạp, dễ lập, dễ hiểu nhưng vẫn đảm

bảo đủ thơng tin và thơng tin chính xác cho các đối tượng sử dụng. Chi phí bỏ

ra phảI đảm bảo thu được lợi ích lớn hơn. Hệ thống BCTC được hoàn thiện

phải đảm bảo tiết kiệm hơn trong công tác và đem lại hiệu quả cao hơn.

- Bốn là, Phải nhất quán, lâu dài, phù hợp với chính sách phát triển kinh



96



tế xã hội của đất nước. Chế độ kế tốn Việt Nam nói chung và hệ thống

BCTC nói riêng khơng mang tính ổn định. Điều này được lý giải bởi chung ta

đang trong q trình hồn thiện nhưng thực tế này đã gây ra khơng ít khó

khăn cho doanh nghiệp. Thực tế là hầu như các doanh nghiệp chưa tiếp thu và

thực hiện tốt sự sửa đổi, bổ sung lần trước thì đã tiếp tục có sửa đổi, bổ sung.

Chính sách kinh tế- xã hội ln gắn liền với chính sách tài chính và chế độ kế

tốn. Do đó cần phải có tầm nhìn chiến lược giữa hai chính sách này trong

q trình đổi mới nền kinh tế.

- Năm là, Phải phù hợp và thích ứng tối đa với các phần mềm kế tốn,

với cơng nghệ thông tin. Cùng với việc xây dựng hệ thống BCTC phù hợp với

loại hình doanh nghiệp, phải tính đến việc hệ thống BCTC này phảI tương

thích với việc thiết kế các phần mềm kế tốn; có như vậy mới nâng cao hiệu

quả kinh tế và thu hẹp các khoảng cách với các nước, tạo thuận lợi cho các

doanh nghiệp mở rộng thị trường ra nước ngồi thơng qua các chi nhánh, đại

lý, công ty con trong việc trao đổi thông tin cũng như gửi, nhận BCTC khi sử

dụng internet.

3.2 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỔ

CHỨC HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH Ở CƠNG TY CỔ PHẦN XÂY

DỰNG SỐ 3



3.2.1 Hoàn thiện cơ sở pháp lý hiện hành về những vấn đề liên quan đến

tổ chức lập và trình bày Báo cáo Tài chính

3.2.1.1 Hồn thiện cơ sở pháp lý hiện hành về những vấn đề liên quan đến

tổ chức lập và trình bày Báo cáo Tài chính riêng

* Quy định thống nhất về việc xác định lãi từ hoạt động kinh doanh

Lãi từ hoạt động kinh doanh của một Cơng ty rất quan trọng, nó là nguồn

lãi quan trọng nhất và ổn định nhất của một doanh nghiệp. Khác với nguồn lãi

từ các hoạt động tài chính hay các hoạt động khác về nguyên tắc thường



97



khơng ổn định và khó dự đốn. Chính vì vậy trong chuẩn mực và thơng lệ kế

tốn quốc tế lãi kinh doanh là các khoản lãi lỗ từ các hoạt động kinhdoanh

thông thường của doanh nghiệp, không bao gồm các khoản thu nhập và chi

phí tài chính; điều này cho phép các nhà đầu tư có thể dự đốn trong những

năm tới nếu các điều kiện khác không thay đổi, lãi kinh doanh của Cơng ty

cũng sẽ ở mức đó cộng với một tỷ lệ tăng trưởng nào đó. Tuy nhiên theo VAS

21 “ Trình bày Báo cáo Tài chính ” thì lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh

doanh bao gồm cả lợi nhuận và chi phí tài chính; điều này dễ làm cho các nhà

đầu tư nhầm lẫn rằng trong năm tới nếu khơng có gì thay đổi lãi kinh doanh

của Công ty cũng sẽ ở mức tương tự; tuy nhiên khoản thu nhập tài chính

khơng phải là khoản thu nhập thường xuyên và không chắc chắn sẽ xuất hiện

trong năm tới.

* Quy định thống nhất việc xác định lãi cơ bản trên cổ phiếu ( EPS )

EPS là một trong những chỉ tiêu được sử dụng thường xuyên nhất đối

với các nhà đầu tư, và cũng ảnh hưởng lớn đối với giá cổ phiếu công ty. Tuy

nhiên VAS và các hướng dẫn về nó vẫn còn chưa đầy đủ cũng như việc triển

khai thực hiện nó còn có nhiều vấn đề

EPS cơ bản: theo VAS 30, thông tư số 21/2006/TT-BTC hướng dẫn VAS

30 và IAS 33, EPS cơ bản đều được tính theo cơng thức sau

EPS = Tổng lãi ( lỗ ) thuần thuộc các cổ đông phổ thơng / Số bình qn

gia quyền cổ phiếu phổ thơng lưu hành trong kỳ

Trong đó

Tử số: Lãi thuộc cổ đơng phổ thông nhưng lại chưa trừ các quỹ không

thuộc cổ đông: VAS 30 không đề cập đến việc phảI điều chỉnh giảm các

khoản lãI nhưng không dành cho cổ đông phổ thông như quỹ khen thưởng

cho khách hàng, quỹ thưởng cho Hội đồng Quản trị, Quỹ khen thưởng phúc

lợi dành cho nhân viên. Những khoản này theo IAS nó được ghi nhận là các



98



khoản chi phí được trừ khỏi lãi dành cho cổ đông. Thông thường sau một năm

hoạt động có lãi, các cơng ty thường dành khoảng 5-15 % tổng số lãi thuần

sau thuế để chi cho nhân viên dưới hình thức lập Quỹ khen thưởng, phúc lợi.

Mẫu số: Số bình quân gia quyền của các cổ phiếu phổ thông lưu hành

trong kỳ. Tuy nhiên những sự kiện chia tách cổ phiếu, thưởng cổ phiếu, chia

cổ tức bằng cổ phiếu thì cổ phiếu được tính từ ngày đầu tiên trong kỳ

Thông tư 21 hướng dẫn VAS 30 đã đề cập khá rõ ràng là trong những

trường hợp gộp, chia tách và thưởng cổ phiếu mà khơng có bất cứ một sự

tăng, giảm về dòng tiền, hay tài sản và nguồn vốn đối với Cơng ty, thì cổ

phiếu gộp, chia tách, thưởng mặc dù phát sinh vào bất kỳ thời điểm nào trong

kỳ cũng phải được tính vào ngày đầu tiên của năm báo cáo. Và cũng sẽ điều

chỉnh tương ứng cho số cổ phiếu của những năm trước để có tính so sánh giữa

các năm. Mặc dù thơng tư 21 không đề cập đến việc chia cổ tức bằng cổ

phiếu, nhưng bản chất của việc chia cổ tức bằng cổ phiếu giống như thưởng

cổ phiếu, điều này được ghi rất rõ trong IAS 33. Vì vậy nên chế độ kế toán

Việt Nam nên bổ sung việc chia cổ tức bằng cổ phiếu để việc thực hiện tại

các công ty dễ dàng hơn. Kể cả trong trường hợp chưa có hướng dẫn bổ sung

việc này thì các donah nghiệp cũng nên điều chỉnh cho đúng bản chất mà nó

khơng tráI với các quy định của chuẩn mực.

* Quy định thống nhất việc xác định các chỉ tiêu trên Bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán là một Báo cáo Tài chính quan trọng để phản ánh

tình hình tài chính của một doanh nghiệp tại một ngày cụ thể

- Vốn chủ sở hữu bao gồm cả những khoản không thuộc chủ sở hữu.

Một số khoản phải trả thưởng cho nhân viên, cho Hội đồng Quản trị như các

quỹ khen thưởng phúc lợi,thực chất là các khoản phải trả chứ không thuộc

vốn chủ sở hữu những vẫn được báo cáo trong mục vốn chủ sở hữu. Nó cần

phả được loại ra khỏi vốn chủ sở hữu và đối xử như các khoản chi phí phải trả



99



- Các khoản cổ tức phải trả theo đề nghị nên được ghi giảm “ Lãi chưa

phân phối ”. Đa phần các công ty đều chia cổ tức lần cuối hoặc duy nhất sau

kỳ họp đại hội đồng cổ đông thường vào cuối quý 1 và đầu quý 2 năm tiếp

theo. Tuy vậy khi lập Báo cáo Tài chính năm, các cơng ty thường đã có kế

hoạch chia cổ tức cho năm rồi mặc dù nó có thể được cơng bố hay chưa. Xét

về bản chất các khoản vốn chủ sở hữu là những khoản mà công ty được sử

dụng lâu dài mà không phải lo trả nợ. Những khoản cổ tức này dù chưa có

quyết định chính thức,mới chỉ có đề nghị từ Hội đồng Quản trị hay sự ước

tính của ban lãnh đạo cơng ty thì các cơng ty cũng nên ghi nó vào là một

khoản cổ tức ước tính phải trả và ghi giảm phần vốn “ LãI chưa phân phối ”.

Làm được điều đó sẽ làm cho Bảng cân đối kế tốn phản ánh chính xác hơn

tình hình tài chính, vốn chủ sở hữu của Công ty.

- Các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn và dài hạn dưới 20 % vốn vào

một công ty nên được báo cáo theo giá trị hợp lý có thể thực hiện được ( giá

thị trường ) giống như IAS hơn là báo cáo theo giá vốn như VAS hiện nay.

Hiện nay do giá chứng khoán trên thị trường xuống ở mức khá thấp các nhà

đầu tư nên xem phần thuyết minh các Báo cáo Tài chính liên quan đến việc

lập dự phòng giảm giá các khoản đầu tư, xem xét việc Cơng ty có lập dự

phòng đúng và trung thực theo quy định hay khơng. Nó có thể ảnh hưởng rất

lớn đến kết quả kinh doanh nếu Cơng ty có khoản đầu tư tài chính lớn.

3.2.1.2 Hồn thiện cơ sở pháp lý hiện hành về những vấn đề liên quan đến

việc lập và trình bày Báo cáo Tài chính hợp nhất.

* Hồn thiện kỹ thuật lập BCTC hợp nhất trong các Công ty, tập đồn

kinh tế Việt Nam theo mơ hình cơng ty mẹ – cơng ty con vào ngày quyền

kiểm sốt được thiết lập

Thứ nhất: Cần thiết phải quy định việc lập BCTC hợp nhất tại ngày

quyền kiểm sốt được thiết lập



100



Khi Cơng ty, tập đồn có những biến động về quy mơ, lĩnh vực kinh

doanh do đạt được quyền kiểm soát đối với các doanh nghiệp khác cần thiết

phải công bố báo cáo tài chính hợp nhất tại thời điểm đó

Thứ hai: Cần có những hướng dẫn cụ thể hơn về việc xác định giá trị

hợp lý trong các giao dịch hợp nhất kinh doanh

Một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định để các doanh nghiệp có

thể lập BCTCHN là việc xác định giá trị hợp lý của các tài sản, nợ phải trả và

các yếu tố khác phát sinh trong giao dịch hợp nhất liên quan đến việc tính

tốn giá phí hợp nhất kinh doanh và phân bổ giá phí hợp nhất cho tài sản, nợ

phải trả thu được từ giao dịch hợp nhất.

Việc quy định phương pháp xác định giá trị hợp lý một cách cụ thể như

trong Chuẩn mực kế toán số 11 “ Hợp nhất kinh doanh ” đã tạo ra những

thuận lợi trong việc tính toán xác định giá trị hợp lý của từng bộ phận tài sản,

nợ phải trả trong từng trường hợp. Tuy nhiên, cần phải đưa ra những quy định

mang tính chất tổng quát về phương pháp xác định giá trị hợp lý để áp dụng

trong các trường hợp khác nhau có thể phát sinh trong thực tiễn.

Thứ ba: Hoàn thiện Kế toán lợi thế thương mại

Theo VAS 11, lợi thế thương mại là khoản chênh lệch giữa giá phí hợp

nhất kinh doanh lớn hơn phần sở hữu của bên mua trong giá trị hợp lý thuần

của tài sản, nợ phải trả có thể xác định và khoản nợ tiềm tàng. Kết hợp với

khái niệm về lợi thế thương mại được định nghĩa trong VAS 04 “ Các tài sản

vơ hình khi mua doanh nghiệp nếu không thỏa mãn định nghĩa về tài sản vơ

hình và tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định vơ hình thì được coi là lợi thế

thương mại ”. ở cả hai khái niệm đều thừa nhận lợi thế thương mại là một tài

sản. Hiện nay chế độ kế toán quy định lợi thế thương mại được hạch toán vào

TK 242 và được phân bổ dần vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp mua trong thời gian không quá 10 năm. Việc phân bổ lợi thế thương



101



mại có ảnh hưởng quan trọng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi

vậy nó cần phải được theo dõi và hạch toán trên một tài khoản riêng biệt, đó

là tài khoản “ Lợi thế thương mại ”. Tài khoản này có nội dung và kết cấu như

một tài khoản tài sản, được trích khấu hao theo phương pháp đường thẳng

trong thời gian tối đa 10 năm, được trình bày thành một chỉ tiêu riêng biệt trên

BCTC trong phần Tài sản dài hạn.

Thứ tư: Hoàn thiện phương pháp xử lý các khoản điều chỉnh trong giao

dịch hợp nhất kinh doanh để lập BCTCHN tại ngày quyền kiểm soát được

thiết lập.

Tại ngày mua, để phục vụ lập BCTCHN kế tốn phải tính tốn và lập các

bút tốn điều chỉnh gồm

- Điều chỉnh để ghi nhận số chênh lệch giữa giá trị hợp lý và giá trị ghi

sổ của các tài sản và các khoản nợ phải trả có thể xác định được của công ty

con tại ngày mua

- Ghi nhận giá trị ghi sổ khoản đầu tư của công ty mẹ trong công ty con và

phần vốn của công ty mẹ trong vốn chủ sở hữu của công ty con tại ngày mua

để loại trừ khi hợp nhất. Đồng thời xác định lợi thế thương mại phát sinh khi

hợp nhất kinh doanh ( nếu có ) để ghi nhận trên Bảng cân đối kế toán hợp nhất

- Xác định lợi ích của cổ đơng thiểu số trong giá trị tài sản thuần của

công ty con hợp nhất để ghi nhận trên Bảng cân đối kế toán hợp nhất.

Theo quy định của chế độ kế toán Việt Nam quy định tại ngày mua, kế

toán bên mua phải phản ánh các bút toán điều chỉnh nêu trên vào sổ kế toán

hợp nhất để phục vụ cho việc lập BCTCHN vào cuối niên độ kế toán. Cũng

như các nội dung hướng dẫn khác về BCTCHN, chế độ kế tốn khơng quy

định sử dụng tài khoản trong quá trình xử lý số liệu lập BCTCHN. Ngồi ra

các bút tốn điều chỉnh cũng chỉ được ghi trên sổ kế toán hợp nhất. Những

quy định này đã tạo ra một số khó khăn nhất định trong việc hiểu và tổ chức



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 3

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x