Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Nước thải được lấy từ hố thu nước tập trung trước khi đưa vào hệ thống xử lý, lấy

trong 3 ngày liên tiếp để phân tích thành phần, tính chất của nước thải đầu vào và mẫu

được lấy theo cách lấy mẫu đơn.



Hình 10. Vị trí lấy nước thải

Đề tài được thực hiện tại Khoa Môi trường & Tài nguyên Thiên nhiên – Trường Đại

học Cần Thơ trên mơ hình bể bùn hoạt tính và bể IFAS. Mơ hình được đặt tại phòng

thí nghiệm Xử lý nước thuộc Bộ mơn Kỹ Thuật Môi Trường. Các chỉ tiêu cần theo dõi

trong thí nghiệm được phân tích tại các phòng thí nghiệm thuộc bộ môn Kỹ thuật Môi

trường – Trường Đại học Cần Thơ.

Đề tài được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2016.



6. TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Đề tài “Đánh giá khả năng xử lý nước thải thuỷ sản của bể bùn hoạt tính có bổ

sung giá thể vật liệu lọc nổi” được thực hiện nhằm tìm ra giải pháp xử lý nước thải

29



thủy sản (cụ thể trong đề tài này là nước thải chế biến tôm) đạt hiệu quả về mặt kỹ

thuật và kinh tế.

Kết quả thí nghiệm trên các mơ hình cho thấy, ở cùng thời gian tồn lưu nước là 7 giờ,

tải nạp chất hữu cơ là 1,41 kg BOD 5/m3*ngày, bể bùn hoạt tính và bể IFAS (bể bùn

hoạt tính bổ sung một lượng giá thể chiếm 30% thể tích bể) đều cho nước thải sau xử

lý đạt QCVN 11-MT:2015/BTNMT (cột A) ở các chỉ tiêu theo dõi. Tuy nhiên nồng độ

chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học (BOD 5) trong nước thải đầu ra của bể IFAS thấp hơn

của bể bùn hoạt tính và khác biệt có ý nghĩa (mức 5%), thêm vào đó chất rắn lơ lửng

trong nước thải đầu ra của bể IFAS lắng tốt hơn chất rắn lơ lửng trong nước thải đầu ra

của bể bùn hoạt tính. Các chỉ tiêu còn lại như COD, TKN, TP, N-NO 3- đều khơng khác

biệt có ý nghĩa (mức 5%). Như vậy có thể kết luận rằng bể IFAS cho hiệu quả loại

BOD5 tốt hơn và làm tăng hiệu quả lắng của bể lắng thứ cấp. Để nâng cao hiệu quả

loại bỏ chất hữu cơ của các bể bùn hoạt tính hiện hành có thể bổ sung giá thể vào bể để

chuyển đổi nó thành bể IFAS.

Khi vận hành mơ hình bể IFAS với thời gian lưu nước 6 giờ (tải nạp chất hữu cơ là 1,8

kg BOD5/m3*ngày) và ở thời gian lưu nước 7 giờ (tải nạp chất hữu cơ là 1,54 kg

BOD5/m3*ngày), nước thải sau xử lý của 02 mơ hình đều đạt QCVN 11MT:2015/BTNMT (cột A) ở những chỉ tiêu theo dõi. Tuy nhiên, nồng độ COD, BOD 5

và TP của nước thải đầu ra của bể IFAS vận hành ở thời gian lưu 7 giờ thấp hơn và

khác biệt có ý nghĩa (mức 5%) so với nước thải đầu ra của bể IFAS vận hành ở thời

gian lưu 6 giờ. Các chỉ tiêu khác như SS, TKN, N-NO3- của 02 thời gian lưu nước đều

không khác biệt có ý nghĩa (mức 5%). Nồng độ BOD 5 đầu ra của bể IFAS vận hành ở

thời gian lưu 6 giờ là 27,27 ± 2,39 mg/L đã tiến gần tới ngưỡng giới hạn của QCVN

11-MT:2015/BTNMT cột A là 30 mg/L, như vậy thời gian lưu nước ngắn nhất có thể

sử dụng để thiết kế bể IFAS xử lý nước thải chế biến tôm là 6 giờ.

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Chương 1 SO SÁNH KHẢ NĂNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI THUỶ SẢN CỦA

BÙN HOẠT TÍNH TRUYỀN THỐNG VÀ BỂ IFAS



30



BỂ



1.1 THÀNH PHẦN VÀ TÍNH CHẤT NƯỚC THẢI CHẾ BIẾN THỦY SẢN

CÔNG TY TNHH HẢI SẢN VIỆT HẢI

Nước thải dùng làm thí nghiệm được lấy từ Cơng ty TNHH Hải sản Việt Hải, huyện

Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang, công ty sản xuất các sản phẩm từ tôm. Nước thải được

lấy trong 3 ngày liên tiếp theo cách lấy mẫu đơn để xác định thành phần, tính chất

nước thải và định hướng cho các thí nghiệm.

Bảng 4. Thành phần, tính chất nước thải Công ty TNHH Hải sản Việt Hải

Chỉ tiêu



Kết quả phân tích



Trung bình



QCVN 11MT:2015/BTNMT



Ngày 1



Ngày 2



Ngày 3



pH



7,1



6,9



6,9



DO



0,8



0,9



0,6



SS



120



163,3



247,6



0,77 ± 0,15



50



COD



1.133,3 1.065



1.275



176,97 ± 64,89



75



BOD5



661,3



636,7



698,3



TKN



37,97



36,02



28,14



TP



23,4



25,27



24,23



665,43 ± 31,01



N-NO3-



1,63



4,05



3,7



34,04 ± 5,2



6,5 – 8,5

6,97 ± 0,12



-



30

1.157,77 ± 107,12



10

-



24,3 ± 0,94

3,13 ± 1,31



Từ các số liệu trong Bảng 4 có thể rút ra một số nhận xét như sau:

- pH của nước thải nằm trong khoảng 6,97 ± 0,12 đây là khoảng thích hợp cho hoạt

động của vi sinh vật. Do đó khơng cần phải điều chỉnh pH của nước thải đầu vào của

bể bùn hoạt tính truyền thống.

- Nồng độ SS dao động từ 120 – 247,6 mg/L, cho thấy có sự biến động lớn trong 3

ngày lấy mẫu. Về mặt lý học do đây là nước thải chế biến hải sản nên nồng độ SS

trong nước thải là khá cao tuy nhiên theo số liệu từ Bảng 4 cho thấy nồng độ SS chỉ

nằm trong khoảng trung bình là 176,97 ± 64,89 mg/L thấp so với tính chất của nước

thải thủy sản do nước thải đã được đưa qua các hố ga trước khi đổ vào hố thu nước

31



thải tập trung cuối cùng. Tuy nhiên có thời điểm SS vẫn lớn hơn 150 mg/L do đó cần

lắng sơ bộ bằng cách lắng nước thải qua tấm vải mỏng, tương ứng với quá trình đưa

nước thải qua lưới lọc chất rắn của nhà máy, trước khi đưa nước thải vào bể sinh học.

- Nồng độ COD dao động từ 1.133,3 – 1.275 mg/L, BOD 5 từ 661,3 – 698,3 mg/L như

vậy qua 3 ngày lấy mẫu có sự biến động lớn về nồng độ COD và BOD 5. Tỷ lệ

BOD5/COD trung bình là 0,58 > 0,5 phù hợp với điều kiện xử lý sinh học.

- Theo các số liệu từ bảng 4 tỉ lệ BOD 5:N:P trung bình = 665,43:34,04:24,3 

100:5,12:3,65, với tỉ lệ này khơng cần bổ sung thêm dưỡng chất cho bể bùn hoạt tính

vì đã có đủ dưỡng chất cho sự hoạt động của vi sinh vật.

- Sau khi kiểm tra nồng độ BOD5 đầu vào của nước thải Công ty TNHH Hải sản Việt

Hải là 665,43 ± 31,01 mg/L vì vậy mơ hình sẽ được vận hành với nồng độ bùn

(MLVSS) ở mức cận trên của khoảng cho phép (theo Trịnh Xuân Lai 2009 với BOD 5 >

200 mg/L thì chọn MLVSS từ 2.800 mg/L đến 4.000 mg/L).

So với thành phần và tính chất của nước thải đã lược khảo ở Bảng 1 thì nước thải của

Cơng ty TNHH Hải sản Việt Hải có tính chất tương tự về các chỉ tiêu pH, SS, BOD 5,

tuy nhiên các chỉ tiêu về ni-tơ và phốt-pho có phần khác biệt và cao hơn.

1.2 KẾT QUẢ SO SÁNH KHẢ NĂNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI THUỶ SẢN CỦA

BỂ BÙN HOẠT TÍNH TRUYỀN THỐNG VÀ BỂ IFAS

Thí nghiệm 1 được tiến hành nhằm so sánh hiệu quả xử lý nước thải thủy sản giữa mơ

hình bể bùn hoạt tính truyền thống và bể IFAS, từ đó nhận xét đánh giá lựa chọn mơ

hình cho hiệu quả xử lý cao hơn. Thí nghiệm được tiến hành trên mơ hình bể bùn hoạt

tính truyền thống và bể IFAS ở cùng thời gian lưu nước 7 giờ và cùng điều kiện vận

hành. Mẫu nước thải trước và sau khi xử lý ở bể bùn hoạt tính truyền thống và bể IFAS

được phân tích các chỉ tiêu như: SS, COD, BOD5, TKN, TP, N-NO3-, MLVSS.

Bảng 5. Các thông số vận hành trong thí nghiệm với thời gian lưu 7 giờ

Thơng số



Đơn vị



Bể bùn hoạt tính



Bể IFAS



truyền thống

pH



-



7,8 ± 0,1



7,6 ± 0,4



DO



mg/L



3,6 ± 0,17



3,5 ± 0,1



32



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×