Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Thực trạng chất lượng tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội

2 Thực trạng chất lượng tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội

Tải bản đầy đủ - 0trang

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



nhằm nâng cao quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm của các tổ chức tín dụng. Những

qui định trên đây đã và đang tác động rất mạnh đến hoạt động Ngân hàng nói

chung và hoạt động tín dụng nói riêng.

Từ 1 tháng 3 năm 1985 chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội đã được

triển khai và đi vào hoạt động, có thể nói ngay từ buổi ban đầu chi nhánh đã có một

nền tảng tương đối tốt với một đội ngũ cán bộ có trình độ học vấn tương đối đồng

đều,sự hăng hái và nhiệt tình của lớp trẻ,sự đồn kết gắn bó của các cán bộ của chi

nhánh.Tuy nhiên Chi nhánh cũng gặp phải khơng ít khó khăn trong cơng tác xây

dựng thị phần trên địa bàn thủ đơ đã có nhiều Ngân hàng cạnh tranh, đội ngũ cán bộ

trẻ chưa có nhiều kinh nghiệm. Phòng tín dụng cũng khơng nằm ngồi những thuận

lợi khó khăn đó, đội ngũ cán bộ phòng tín dụng- chi nhánh Ngân hàng Ngoại

thương Hà Nội đã nổ lực phấn đấu, đã cố găng hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch được

giao năm 2007.

2.2.2 Qui trình tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

Để chuẩn hoá q trình tiếp xúc, phân tích, cho vay và thu nợ đối với các

khách hàng các Ngân hàng thường đặt ra quy trình phân tích tín dụng. Khi cho vay

thì đều phải tn thủ theo quy trình phân tích tín dụng này. Quy trình phân tích tín

dụng ngắn hạn là các bước (hay nội dung các công việc) mà cán bộ tín dụng, các

phòng ban có liên quan trong NHTM phải thực hiện khi cho khách hàng vay vốn

ngắn hạn. Quy trình phân tích tín dụng ngắn hạn bao gồm có 4 bước sau:



2.2.2.1 Phân tích trước khi cấp tín dụng ngắn hạn cho khách hàng

Đây là bước đầu tiên cũng là bước quan trọng nhất quyết định chất lượng của

phân tích tín dụng. Cơng việc chủ yếu là tìm kiếm, thu thập và xử lý các thông tin

liên quan đến khách hàng bao gồm năng lực sử dụng vốn vay và uy tín, khả năng

tạo ra lợi nhuận và nguồn ngân quỹ, quyền sở hữu các tài sản và các điều kiện kinh

tế khác có liên quan đến người vay.



Lê Tiến Dũng



31



Lớp: Tài chính 46B



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368







Phương pháp chủ yếu để thu thập và xử lý thơng tin khách hàng: có thể



thơng qua việc phỏng vấn trực tiếp khách hàng như tham quan nhà xưởng, máy

móc, cơng trường, văn phòng, gặp gỡ nói chuyện với cán bộ công nhân viên trong

doanh nghiệp, xem xét tài sản thế chấp.Thu thập thông tin khách hàng thông qua

các báo cáo tài chính của họ, trước khi cho vay Ngân hàng sẽ yêu cầu khách hàng

cung cấp các thông tin về năng lực sản xuất, kinh doanh và tiềm năng tài chính và

điều này được thể hiện qua các bản báo cáo tài chính như báo cáo kết quả kinh

doanh, bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Có thể mua hoặc tìm kiếm

thơng tin qua các trung gian như các cơ quan quản lý, qua các bạn hàng của người

vay, qua các trung tâm thông tin.

Thông qua những biện pháp thu thập như vậy Ngân hàng sẽ có một cái nhìn

chính xác, tồn diện về khách hàng của mình. Sau khi đã thu thập được những

thông tin cần thiết về khách hàng Ngân hàng tiến hành tổng hợp phân tích những

thơng tin đó để đưa ra quyết định cho vay hay không cho vay đối với khách hàng

đó.





Nội dung phân tích:



+ Đánh giá tài sản của khách hàng: Nếu khách hàng là pháp nhân như các doanh

nghiệp đều có bảng cân đối kế tốn trong đó phần tài sản phản ánh số kết dư giá trị

tài sản tại một thời điểm, hoặc kết dư trung bình trong kỳ. Nếu khách hàng là thể

nhân như hộ kinh doanh hoặc người tiêu dùng Ngân hàng yêu cầu các thơng tin về

tình hình kinh doanh, tài sản cá nhân, lương và các khoản thu nhập khác. Các thông

tin về tài sản cho biết quy mô, chất lượng tài sản, khả năng quản lý của khách hàng

rất quan trọng đối với quyết định cho vay.

Đánh giá những tài sản có tính thanh khoản cao nhất như ngân quỹ gồm tiền

mặt trong két, tiền gửi ngân hàng, các khoản phải thu. Tiền mặt và tiền gửi chỉ

chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng tài sản của khách hàng. Các khoản phải thu chủ yếu

là tiền bán hàng hoá và dịch vụ chưa thu được tiền có khả năng chuyển đổi thành

tiền mặt. Ngân hàng cần xem xét kỹ các khoản này vì có những khoản bán chịu khó,



Lê Tiến Dũng



32



Lớp: Tài chính 46B



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



khơng thu được tiền.Hoạt động tín dụng ngắn hạn của ngân hàng có liên quan chặt

chẽ với tình hình ngân quỹ của khách hàng.

Các chứng khốn có giá đây là tài sản chính của doanh nghiệp các tài sản

này tăng nguồn thu và có thể mang bán khi cần tiền để chi trả. Rất nhiều món vay

ngắn hạn của khách hàng với mục tiêu tăng dự trữ hàng hóa, do đó ngân hàng cần

phải quan tâm đến số lượng, chất lượng, mẫu mã, bảo hiểm, rủi ro đối với hàng hóa

trong kho.Ngân hàng cũng xem xét đánh giá tài sản cố định của khách hàng như nhà

cửa, sân bãi, trang thiết bị, phương tiện vận tải.

+ Đánh giá các khoản nợ: Ngân hàng phải xem xét các khoản nợ phải trả trong

năm và trong năm sau. Nếu khoản cho vay của ngân hàng phải trả trong năm thì các

khoản nợ đến hạn và tài sản ngân quỹ trong năm của khách hàng là những yếu tố

chính để ngân hàng quyết định cho vay. Ngân hàng cũng quan tâm đến nợ quá hạn

và các nguyên nhân, quan tâm tới tất cả các chủ nợ của khách hàng như ngân hàng

khác, nhà cung cấp, người lao động và vị trí của ngân hàng trong danh sách chủ nợ

của khách hàng.. Ngân hàng cũng xem xét các khoản nợ ưu đãi, nợ có đảm bảo và

nợ khác, các tài sản đã làm đảm bảo cho các khoản vay cũ cần được tính lại theo giá

thị trường và bị loại trừ nếu chúng được lấy làm tài sản đảm bảo cho khoản vay mới

thì cần tính tốn giá trị dơi thừa so với tiền vay cũ.

+ Phân tích luồng tiền: Nhiều khách hàng tạo ra lợi nhuận trong quá khứ và có

khả năng tạo ra lợi nhuận trong tương lai. Nhưng việc trả nợ lại liên quan chặt chẽ

đến ngân quỹ của khách hàng (ví dụ: cho vay hộ kinh doanh, nguồn trả nợ là các

khoản thu của người vay). Trong khi lợi nhuận là chỉ tiêu quan trọng phản ánh khả

năng sinh lợi, trên thực tế Tỷ lệ dòng tiền/ Tổng các khoản nợ là chỉ tiêu quan trọng

nhất để dự đoán các vấn đề tín dụng trong tương lai. Các luồng tiền trong tương lai

-phụ thuộc vào kế hoạch chi tiêu trong tương lai- cần được dự kiến.

+ Ngân hàng thường quan tâm đến khả năng trả nợ của khách hàng: Thông qua

việc theo dõi các tỷ lệ như tỷ lệ thanh khoản, tỷ lệ đo khả năng tạo lợi nhuận, tỷ lệ

đo khả năng tài trợ bằng vốn tự có, tỷ lệ đo rủi ro.



Lê Tiến Dũng



33



Lớp: Tài chính 46B



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



- Nhóm tỷ lệ thanh khoản: Nhóm tỷ lệ này đo khả năng của người vay trong

việc đáp ứng trách nhiệm tài chính ngắn hạn. Dựa vào đó Ngân hàng xác định khả

năng thanh tốn các khoản nợ khi đến hạn của người vay. Nhìn chung, tỷ lệ này

càng cao thì khả năng thanh tốn của người vay có thể càng tốt.

Ngân quỹ của người vay

Tỷ lệ thanh toán =

nhanh



Các khoản nợ hiện hành

Tài sản lưu động



Tỷ lệ thanh tốn =

trung bình



Nợ hiện hành



Tuỳ từng trường hợp mà Ngân hàng phân tích tỷ lệ thích hợp. Nếu cho vay

trong thời gian ngắn 2-3 tháng Ngân hàng cần quan tâm tới tỷ lệ thanh tốn nhanh,

còn cho vay từ 9-12 tháng Ngân hàng cần quan tâm đến thanh khoản trung bình.

- Nhóm tỷ lệ sinh lời: Nếu khoản vay được trả từ lợi nhuận thì điều quan trọng

là phải đánh giá được khả năng của người vay trong kinh doanh nhằm tìm kiếm đủ

số lời để trả nợ. Nhóm tỷ lệ này đo khả năng tạo lợi nhuận của người vay, các tỷ lệ

này có tử số là thu nhập ròng trước hoặc sau thuế thu nhập hoặc doanh thu và mẫu

số là vốn tự có, vốn lưu động hoặc tổng vốn. Khả năng trả nợ của khách hàng thực

chất bắt nguồn từ khả năng tạo thu nhập, tức là người vay có khả năng thu về giá trị

lớn hơn giá trị đã bỏ ra ban đầu.

- Nhóm tỷ lệ rủi ro: Rủi ro của người vay có thể do nhiều nguyên nhân, có thể

ở khâu sản xuất, tiếp thị hoặc từ phía nhân sự, vấn đề tài chính hay từ phía nhân sự,

vấn đề tài chính hay từ những tác động từ cơ chế chính sách. Tuỳ trường hợp cụ thể

mà Ngân hàng sẽ đánh giá xem xét rủi ro của khách hàng là nhiều hay ít để ra quyết

định có cho vay hay khơng .

- Nhóm tỷ lệ đo khả năng tài trợ bằng vốn sở hữu : Thơng thường một doanh

nghiệp phải có vốn tự có đủ tài trợ cho một phần tài sản cố định hay tài sản lưu

động, hiện nay các Ngân hàng thường đầu từ 70% còn 30% còn lại do vốn tự có đầu

tư vào tài sản cố định hoặc tài sản lưu động.



Lê Tiến Dũng



34



Lớp: Tài chính 46B



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



Khi cấp tín dụng ngắn hạn thì NHTM xem xét vốn lưu động tự có của doanh

nghiệp, một khoản xin vay ngắn hạn có thể được Ngân hàng chấp nhận nếu khơng

làm xấu đi tình trạng tài trợ của doanh nghiệp.

+ Các điều kiện kinh tế: Các điều kiện kinh tế có ảnh hưởng đến khả năng hoàn

trả của người vay nhưng chúng thường vượt quá sự kiểm soát của người vay lẫn

người cho vay. Vậy nên nhân viên tín dụng phải trở thành nhà dự đoán kinh tế.

2.2.2.2 Xây dựng và ký kết Hợp đồng Tín dụng

Sau khi đã thực hiện xong việc thu thập và thông tin khách hàng, Ngân hàng

sẽ tiến hành xây dựng và ký kết Hợp đồng Tín dụng với khách hàng có đủ điều kiện

và thoả mãn yêu cầu của Ngân hàng.

Hợp đồng Tín dụng là văn bản viết ghi lại thoả thuận giữa người tài trợ

(khách hàng) và Ngân hàng với nội dung chủ yếu là Ngân hàng cam kết cho khách

hàng một khoản tín dụng (hoặc hạn mức tín dụng) trong một khoảng thời gian và lãi

suất nhất định.Hợp đồng Tín dụng là một văn bản mang tính pháp luật xác định

quyền và nghĩa vụ của hai bên trong quan hê tín dụng và tuân theo quy định của quy

định pháp luật, hai bên phải cân nhắc trước khi kí kết.

Nội dung Hợp đồng Tín dụng gồm các khoản mục:

+ Khách hàng: Họ tên, điều kiện, tư cách pháp nhân (nếu có).

+ Mục đích sử dụng: Khách hàng phải ghi rõ vay để làm gì.

+ Số lượng tín dụng: Là số tiền NHTM cam kết cấp cho khách hàng.

+ Lãi suất: Hợp đồng Tín dụng phải ghi rõ lãi suất mà khách hàng trả đồng

thời xác định tính chất của lãi suất, nếu lãi suất có thay đổi thì phải xác định rõ các

điều kiện thay đổi đó.

+ Phí: Để có được cam kết tín dụng khách hàng phải trả một khoản phí được

tính bằng tỷ lệ % trên hạn mức cam kết.

+ Thời hạn tín dụng: Thường được xác định cụ thể (ngày, tháng,năm) và ghi

trong Hợp đồng Tín dụng là thời hạn mà Ngân hàng cam kết cho khách hàng một

khoản tín dụng. Thời hạn tín dụng có thể được chia thành thời gian đầu tư, thời gian

ân hạn và thời gian trả nợ (có thể được chia thành nhiều kì hạn).



Lê Tiến Dũng



35



Lớp: Tài chính 46B



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



+ Các loại đảm bảo: Hợp đồng Tín dụng phải ghi rõ các loại đảm bảo (nếu

có) cho các khoản tín dụng (kèm theo hợp đồng phụ) như hợp đồng bảo lãnh, vật tư

hàng hoá trong kho, tài sản cố định hoặc các chứng khốn có giá…các nội dung

quan trọng như quyền sở hữu, quyền chuyển nhượng hoặc bán, định giá, bảo

hiểm…

+ Giải ngân: Hợp đồng Tín dụng xác định các điều kiện và kì hạn giải ngân,

đối với các khoản cho vay ngắn hạn thường cấp tiền vay một lần vào đầu kỳ hoặc

theo từng lần.

+ Điều kiện thanh toán: Bao gồm thanh tốn tiền gốc và lãi, thường tín dụng

ngắn hạn thanh toán lãi hàng tháng và gốc thanh toán vào cuối kỳ.

+ Các điều kiện kinh tế khác: gồm các thoả thuận giữa Ngân hàng và khách

hàng về ưu tiên thanh toán, kiểm soát vật thế chấp và các hoạt động khác của người

vay, phong toả tài sản, điều kiện và phương thức phát mại tài sản…

2.2.2.3 Giải ngân và kiểm sốt trong khi cấp tín dụng ngắn hạn

Sau khi Hợp đồng Tín dụng đã được ký kết giữa người vay và Ngân

hàng.Ngân hàng có trách nhiệm giải ngân tín dụng có thể là đưa tiền mặt hoặc thanh

tốn tiền mặt cho khách hàng như đã thoả thuận. Đi đơi với việc giải ngân thì Ngân

hàng cần theo dõi kiểm tra xem khách hàng được cấp tín dụng có sử dụng đúng mục

đích đã thoả thuận khơng, q trình sản xuất kinh doanh biến động như thế nào, ý

đồ của khách hàng ra sao… Qua đây cho phép Ngân hàng có thể thấy được chất

lượng tín dụng ra sao để có thể có những phán quyết hợp lý cho quan hệ tín dụng

ngắn hạn này.

2.2.2.4 Thu nợ và đưa ra phán quyết tín dụng mới

Quan hệ tín dụng kết thúc khi Ngân hàng thu hồi được hết cả gốc và lãi. Các

khoản tín dụng đảm bảo trả đầy đủ đúng hạn là tốt, còn một số trường hợp thì

ngược lại. Nhưng Ngân hàng phải tìm hiểu nguyên nhân vì sao nếu khách hàng có

khó khăn về tài chính song vẫn kiên trì tìm cách khắc phục để trả nợ, ngân hàng

thường áp dụng phương án khai thác gồm gia hạn nợ, giảm lãi hoặc cho vay thêm,

còn nếu khách hàng có ý đồ lừa đảo, cố tình dây dưa, làm ăn kém… thì ngân hàng



Lê Tiến Dũng



36



Lớp: Tài chính 46B



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



mọi biện pháp thu hồi nợ nhanh như phong toả và bán các tài sản thế chấp, tước

đoạt các khoản tiền gửi.

2.2.3 Kết quả đạt được và các hoạt động của phòng tín dụng

2.2.3.1 Thực trạng tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

Năm 2007 là năm thứ hai ngân hàng Ngoại thương Hà Nội thực hiện áp dụng

quy trình tín dụng mới (quy trình 90 do tổng giám đốc ngân hàng Ngoại thương Việt

Nam ban hành ngày 26/5/2006 theo Quyết định số 90/QĐ- NHNT.QLTD ), nhằm

làm giảm các hạn chế của quy trình tín dụng cũ và hướng tới chẩn mực quốc tế. Sau

đây là một số kết quả mà ngân hàng Ngoại thương đạt được trong năm 2007 vừa

qua : dư nợ tín dụng tính đến cuối ngày 31/12/2007 là 2533000 triệu, trong đó tín

dụng ngắn hạn chiếm 77,7% tương ứng với số tiền là 198368 triêụ , tín dụng dài hạn

chiếm 22,3% tương ứng với số tiền là 569,319 tỷ. Nếu so với các năm gần đây là

2005 : tổng dư nợ đạt 3518028 triệu (trong đó tín dụng ngắn hạn chiếm 74% tương

ứng với số tiền là 26083 triệu, tín dụng dài hạn chiếm 26% tương ứng với số tiền là

915191 triệu ), năm 2006 : tổng dư nợ đạt 4274000 triệu ( trong đó tín dụng ngắn

hạn chiếm 74,7% tương ứng với số tiền là 3192171,2 triệu , tín dụng dài hạn chiếm

22,3% tương ứng với số tiền là 1081828,8 triệu) thì đều khơng bằng. Điều này

được giải thích là do : tới năm 2005 ngân hàng Ngoại thương HN bao gồm 5 chi

nhánh là Cầu giấy, Ba đình, Chương dương, Thành cơng và Hà nội; sang năm 2006

ngân hàng Ngoại thương HN đã tách 3 chi nhánh Cầu giấy, Ba đình, Chương

dương ra làm 3 chi nhánh độc lập, nó chỉ bao gồm 2 chi nhánh là Thành công và

Hà nội. Tiếp theo sang năm 2007 ngân hàng Ngoại thương HN tiếp tục tách chi

nhánh Thành công ra thành 1 chi nhánh độc lập và ngân hàng Ngoại thương HN

hiện nay chỉ là chi nhánh Hà Nội cũ của nó trước kia( ở 344 Bà Triệu. Nhưng ta lại

thấy tổng lượng tín dụng của ngân hàng Ngoại thương HN năm 2006 lại lớn hơn

tổng lượng tín dụng của nó năm 2005 (cho dù là bao gồm ít chi nhánh hơn ), điều

này là do 2 chi nhánh Thành công và Hà nội là 2 chi nhánh lớn nhất trong 5 chi



Lê Tiến Dũng



37



Lớp: Tài chính 46B



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



nhánh trên khối lượng tín dụng được thực hiện ở 2 chi nhánh này lớn hơn rất nhiều

so với 3 chi nhánh còn lại.

Bảng 1: tín dụng phân theo thời hạn

Đơn vị : triệu đồng



Chỉ tiêu

Ngắn hạn

%

Trung & dài hạn

%

Tổng



Năm 2005

2602837

74%

915119

26%

3518028



Năm 2006

3192171,2

74,7%

1081828,8

25,3%

4274000



Năm 2007

1983681

77,7%

596319

22,3%

2553000



Phân loại tín dụng theo loại tiền cho vay :

Nói chung tỷ lệ cho vay bằng tiền VND qua các năm tương đối ổn định : năm 2005

dư nợ cho vay bằng VND chiếm 48,6% tổng dư nợ tương ứng với số tiền 1710532

triệu đồng, năm 2006 con số này chiếm 48,6% tổng dư nợ tương ứng với số tiền

1710532 triệu đồng, năm 2007 dư nợ cho vay bằng VND chiếm 48,6% tổng dư nợ

tương ứng với số tiền 1710532 triệu đồng. Tương tự như nợ cho vay bằng VND, dư

nợ cho vay bằng ngoại tệ qua các năm cũng tương đối ổn định : năm 2005 dư nợ

cho vay bằng ngoại tệ chiếm 51,4% tổng dư nợ tương ứng với số tiền 1807496 triệu

đồng, năm 2006 con số này chiếm 50,9% tổng dư nợ tương ứng với số tiền 2175466

triệu đồng, năm 2007 dư nợ cho vay bằng ngoại tệ chiếm 51,3% tổng dư nợ tương

ứng với số tiền 1309869 triệu đồng.

Bảng 2 :Bảng phân loại tín dụng theo loại tiền cho vay

Đơn vị : triệu đồng

Dư nợ

Bằng VND

%

Bằng ngoại tệ(quy đổi)

%

Tổng



Năm 2005

1710532

48,6

1807496

51,4

3518028



Năm 2006

2098534

49,1

2175466

50,9

4274000



Năm 2007

1243311

48,7

1309689

51,3

2553000



Phân loại tín dụng theo thành phần kinh tế :



Lê Tiến Dũng



38



Lớp: Tài chính 46B



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



Ngân hàng Ngoại thương HN luôn cho vay thành phần doanh nghiệp Nhà

Nước với tỷ lệ lớn nhất : năm 2007 là 59,7% tương ứng với số tiền là 1322975 triệu

đồng; năm 2006 là 52,9% tương ứng với số tiền là 2257717,7 triệu đồng; năm 2005

là 55,6% tương ứng với số tiền là 1956459,6 triệu đồng. Sau đó là đến thành phần

Cơng ty cổ phần, Cơng ty trách nhiệm hữu hạn với các con số : năm 2007 với tỷ lệ

19,7% tương ứng với số tiền là 502941 triệu đồng; năm 2006 với tỷ lệ 22,5% tương

ứng với số tiền là 960019,7 triệu đồng; năm 2005 với tỷ lệ 26,8% tương ứng với số

tiền là 1046107,8 triệu đồng. Thành phần hợp tác xã : năm 2007 với tỷ lệ 9,8%

tương ứng với số tiền là 250194 triệu đồng; năm 2006 với tỷ lệ 8% tương ứng với

số tiền là 343965,5 triệu đồng; năm 2005 với tỷ lệ 5% tương ứng với số tiền là

175900,9 triệu đồng. Với đầu tư nước ngoài các con số là: năm 2007 với tỷ lệ

10,3% tương ứng với số tiền là 331890 triệu đồng; năm 2006 với tỷ lệ 13,3% tương

ứng với số tiền là 561297,3 triệu đồng; năm 2005 với tỷ lệ 6,5% tương ứng với số

tiền là 224960,75 triệu đồng. Thành phần đối tượng khác vay với tỷ lệ : năm 2007

với tỷ lệ 5,7% tương ứng với số tiền là 145000 triệu đồng; năm 2006 với tỷ lệ 3,5%

tương ứng với số tiền là 151000 triệu đồng; năm 2005 với tỷ lệ 6,1% tương ứng với

số tiền là 144599,7 triệu đồng.

Bảng 3 : bảng tín dụng phân theo thành phần kinh tế:

Đơn vị : triệu đồng

Năm 2005



Năm 2006



Năm 2007



Doanh nghiệp Nhà Nước



1956459,6



2257717,7



1322975



%



55,6



52,9



59,7



Công ty cổ phần, TNHH



1046107,8



960019,7



502941



%



26,8



22,5



19,7



Hợp tác xã



175900,9



343965,5



250194



%



5



8



9,8



Đầu tư nước ngoài



224960,75



561297,3



331890



%



6,5



13,3



10,3



Các đối tượng khác



114599,7



151000



145000



STT



Chỉ tiêu



1

2

3

4

5



Lê Tiến Dũng



39



Lớp: Tài chính 46B



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



%



6,1



3,5



5,7



Tổng



3518028



4274000



2553000



2.3.3.2. Thực trạng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương HN

Nói về thực trạng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương HN, ta có thể

thấy một nét nổi bật là nợ quá hạn năm 2007 giảm suống một các manh mẽ so với

những năm trước : năm 2005 nợ quá hạn chiếm 2,74% tổng dư nợ tương ứng với số

tiền là 96510 triệu đồng, sang năm 2006 tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ có giảm

tuy nhiên là không nhiều 2,46%, nhưng tới năm 2007 con số này chỉ còn 0,75%,

đây là một điều rất đáng mừng, nó cho thấy các khoản nợ của ngân hàng Ngoại

thương HN rất lành mạnh.

Bảng 4 : Bảng nợ quá hạn

Đơn vị :triệu đồng



Năm



Tổng dư nợ



Nợ quá hạn



Tỷ lệ(%)



2005



3518028



96510



2,74



2006



4274000



105140,4



2,46



2007



2553000



19913,4



0,78



Nợ quá hạn phân theo nhóm nợ

Nói chung nợ quá hạn từ nhóm 2 đến nhóm 5 qua các năm đều giảm và

từ năm 2006 tới năm 2007 thì giảm mạnh, cá biệt nợ nhóm 2 và nhóm 3 năm

2006 lại tăng hơn năm 2005( Nợ nhóm 2 năm 2005 chiếm 1,4% tổng dư nợ

tương ứng với số tiền là 52320,5 triệu đồng, sang năm 2006 con số này là 1,47%

tương ứng với số tiền là 62807,8 triệu đồng. Nợ nhóm 3 năm 2005 chiếm 0,82%

tổng dư nợ tương ứng với số tiền là 25895,8 triệu đồng, sang năm 2006 con số

này là 1,47% tương ứng với số tiền là 62807,8 triệu đồng, cao hơn so với năm

2005) điều này là do sang năm 2006 Ngân hàng Ngoại thương thực hiện quy



Lê Tiến Dũng



40



Lớp: Tài chính 46B



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



trình tín dụng mới (quy trình 90) đi kèm với quy trình này là bộ phận quản lý rủi

ro được tách ra khỏi phòng tín dụng cũ và hoạt động độc lập, đã hạn chế việc gia

hạn nợ, cơ cấu lại các khoản nợ đối với các khoản nợ không đảm bảo theo quy

định. Đồng thời bộ phận quản lý rủi ro có xu hướng thêm các điều kiện như lịch

kiểm tra vốn vay, tài sản đảm bảo…. vì vậy nợ quá hạn có xu hướng tăng từ năm

2005 sang năm 2006. Nhưng sang năm 2007 thì nợ nhóm 2 và nhóm 3 đã giảm

mạnh ( nợ nhóm 2 chiếm 0,4% tổng dư nợ tương ứng với số tiền là 10211 triệu

đồng (giảm 1,007% so với năm 2006), nợ nhóm 3 chiếm 0,26 % tổng dư nợ

tương ứng với số tiền 6637,8(giảm 0,64% so với năm 2006)). đây là sự cố gắng

lỗ lực rấy lớn của toàn thể ngân hàng Ngoại thương HN nói chung và của cán bộ

bộ phận tín dụng nói chung. Con số của nợ nhóm 4 :năm 2005 – chiếm 0.42 %

tổng dư nợ tương ứng với 14775,7 triệu đồng, năm 206 – chiếm 0,4% tổng dư nợ

tương ứng với 17096 triệu đồng, năm 207 – chiếm 0,1% tổng dư nợ tương ứng

với 2553 triệu đồng. Nợ nhóm 5 : năm 2005 – chiếm 0.1 % tổng dư nợ tương

ứng với 3518 triệu đồng, năm 206 – chiếm 0,09% tổng dư nợ tương ứng với

3846,6triệu đồng, năm 207 – chiếm 0,02% tổng dư nợ tương ứng với 510,6 triệu

đồng.



Lê Tiến Dũng



41



Lớp: Tài chính 46B



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Thực trạng chất lượng tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×