Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
7 Những khó khăn tồn tại chủ yếu của các DNNVV trên địa bàn Tỉnh.

7 Những khó khăn tồn tại chủ yếu của các DNNVV trên địa bàn Tỉnh.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



thực trạng là đa số các nhà đầu tư tư nhân đầu tư với mục tiêu kiếm lợi nhuận nhất

thời, chưa chú trọng đầu tư phát triển các ngành sản xuất công nghiệp hay dịch vụ

hiện đại, là những ngành đảm bảo sự phát triển lâu dài của nền kinh tế Tỉnh và của

bản thân DN.

- Thiếu vốn và mặt bằng sản xuất kinh doanh.

Thiếu vốn và mặt bằng sản xuất kinh doanh là hiện tượng phổ biến đối với

DNDD. Ngay cả với một số DN sản xuất kinh doanh có hiệu quả cần mở rộng mặt

bằng, đầu tư máy móc thiết bị, chuyển đổi cơ sở sản xuất đều thiếu vốn và mặt

bằng. Các DN chỉ vay vốn ngắn hạn ở các ngân hàng thương mại với lãi suất cao

để làm vốn lưu động, vốn đầu tư dài hạn rất khó tiếp cận vì khơng đủ điều kiện để

vay (thế chấp tài sản..). Nhiều DN phải thuê lại mặt bằng của cơ quan, DNNN để

sản xuất kinh doanh với giá cao và không ổn định, hạn chế khả năng đầu tư lâu dài

của DN. Theo kết quả điều tra của chi cục thuế Tỉnh có tới 90% doanh nghiệp phải

tổ chức sản xuất - kinh doanh trên đất thổ cư hoặc đi thuê laị của tổ chức, cá nhân

khác; chỉ có 5% thuê được đất của nhà nước. Hiện tại nhiều doanh nghiệp sản xuất

có nhu cầu thuê đất để tổ chức sản xuất - kinh doanh nhưng chưa thuê được, điều

này có thể khẳng định những khó khăn cho các doanh nghiệp là thực tế gần như

phổ biến; gây trở ngại nghiêm trọng đối với sự phát triển của khu vực doanh

nghiệp nhỏ và vừa. Số doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn chiếm 95% trên tổng số

doanh nghiệp. Trong đó, tỷ lệ doanh nghiệp vay trung hạn, dài hạn chiếm 65-70%.

Tỷ lệ vay vốn để đầu tư, mua thiết bị nhà xưởng chiếm 65-70%, vay kinh doanh

thương mại chiếm 30%. Kết quả điều tra cho thấy các doanh nghiệp nhỏ và vừa

tiếp tục đối mặt với những trở ngại lớn trong việc tiếp cận nguồn tài chính thương

mại (vốn hoạt động và đặc biệt là vốn đầu tư) do có sự kết hợp của nhiều yếu tố,

trong đó có sự hạn chế về các hình thức khuyến khích để các ngân hàng thương

mại cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa vay tiền (thế chấp tài sản)



Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



61



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



- Cơng nghệ, máy móc thiết bị lạc hậu và yếu kém.

DNNVV nói chung hoạt động với những điều kiện yếu kém về trang thiết

bị, công nghệ, sản xuất chủ yếu mang tính thủ cơng và bán cơ giới, bán tự động,

máy móc thiết bị có trình độ cơng nghệ trung bình và lạc hậu, thiết bị hiện đại và

tương đối hiện đại chiếm tỷ lệ rất thấp trong tài sản cố định của các doanh nghiệp

sản xuất công nghiệp. Việc đổi mới công nghệ, trang thiết bị hiện đại của các DN

DD chưa nhiều, giá trị không cao, bình quân thiết bị hiện đại và tương đối hiện đại

chiếm tỷ lệ 5 rất thấp trong tài sản cố định của các DN công nghiệp. Năm 2005 hệ

số đổi mới công nghệ ngành chế biến thuỷ sản 27,6%, cơ khí: 25,45%; tỷ trọng

thiết bị hiện đại của 2 ngành trên tương ứng là 93,17%; 70,57%. Các mũi nhọn

như công nghệ tin học, điện tử, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới chưa

phát triển mạnh.

- Giảỉ pháp phát triển thị trường chưa đồng bộ và hoàn chỉnh.

Đa số các doanh nghiệp chưa quan tâm đến giải pháp xây dựng và phát triển

thương hiệu, nghiên cứu thị trường. Những hiểu biết của doanh nghiệp về thông

tin thị trường trong và ngoài nước, về yêu cầu cơ hội và thách thức từ hội nhập

kinh tế quốc tế, khu vực còn rất hạn chế. Việc xây dựng và áp dụng các hệ thống

quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế đối với DN tiến hành chậm (đến cuối năm 2007

mới có 20 DNDD được cấp chứng nhận ISO 9000; 230 cơ sở sản xuất đăng ký

nhãn hiệu hàng hoá). Chưa thiết lập được mối quan hệ gắn kết với các DNNN,

hợp tác với các thành phần kinh tế khác còn yếu.

- Chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước còn nhiều tồn tại.

Số DN vi phạm pháp luật như trốn thuế, làm hàng nhái, hàng giả chiếm tỷ lệ

nhỏ. Đa số các DN chưa tuân thủ các quy định của luật về chế độ báo cáo thống

kê, báo cáo quyết toán tài chính hằng năm cho Phòng Đăng ký kinh doanh (năm

2004 có 4,2% số doanh nghiệp nộp báo cáo quyết tốn tài chính; năm 2005:



Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



62



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



17,6%, 2006: 17,6%, 2007: 17,3%). Doanh nghiệp tự nghỉ kinh doanh không khai

báo chiếm 5% số DNDD, nhiều DN không thực hiện chuyển quyền sở hữu tài sản

cho Công ty khi góp vốn bằng tài sản (nhất là các DN vận tải) đã gây khó khăn

cho cơng tác quản lý sau ĐKKD. Đối với một số DNTN và CTTNHH 2 thành

viên trở lên (thường là người nhà) mang nặng tính gia đình, sổ sách kế tốn, chứng

từ kê khai nộp thuế chưa nghiêm túc. Chỉ có ít doanh nghiệp (10%) thực hiện nộp

bảo hiểm xã hội và 17% doanh nghiệp có tổ chức cơng đồn. Việc nắm bắt chế độ

chính sách thơng tin kinh tế chưa thường xun, thậm chí khơng biết, khơng được

phổ biến. Thực trạng nói trên do nhiều nguyên nhân:

Một là, tập quán, thói quen kiểu sản xuất nhỏ, tiểu nông kết hợp với ảnh

hưởng của cơ chế hành chính-kế hoạch hố tập trung vẫn tác động mạnh

đến phương thức quản lý của đa số chủ doanh nghiệp và người quản lý.

Hai là, trong quá trình chuyển đổi sang cơ chế thị trường, công tác đào tạo

quản trị kinh doanh, trong đó có đào tạo về lập chiến lược và kế hoạch kinh doanh,

còn nhỏ về quy mơ với nội dung chưa hoàn toàn đổi mới phù hợp với yêu cầu. Đại

đa số chủ doanh nghiệp và người quản lý vẫn quản lý điều hành kinh doanh dựa

trên kinh nghiệm bản thân là chủ yếu.

Ba là, các loại dịch vụ hỗ trợ cho lập chiến lược và kế hoạch kinh doanh

như công tác thống kê, lập dữ liệu, dự đoán và dự báo của cả nền kinh tế, cơng tác

cung cấp thơng tin, v.v... còn yếu và thiếu; đội ngũ cung ứng dịch vụ tư vấn lập dự

án, chiến lược và kế hoạch kinh doanh còn quá nhỏ, năng lực chưa cao, giá cả cao

chưa tương xứng với chất lượng và khả năng thanh toán của đại đa số doanh

nghiệp. Thêm vào đó, với lối quản lý theo kinh nghiệm chủ nghĩa đang chi phối,

nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấn nói chung, tư vấn quản trị, tư vấn chiến lược và kế

hoạch kinh doanh nói riêng chưa cao. Các quy định khắt khe, bất hợp lý về chi phí



Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



63



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



hợp lý, hợp lệ cũng là yếu tố hạn chế nhu cầu sử dụng dịch vụ phát triển kinh

doanh của doanh nghiệp

- Trình độ quản lý của chủ DNNVV còn nhiều yếu kém.

Phần lớn các chủ DN dựa vào kinh nghiệm để quản lý (trừ các doanh

nghiệp cổ phần hoá) nhưng số chủ DN thật sự có kinh nghiệm, hiểu biết nhiều trên

thương trường khơng phải là nhiều. Đội ngũ doanh nhân có trình độ cao đẳng trở

lên ở các Cty CP mới chiếm khoảng 10%; Cty TNHH 8%, DNTN 5%; Gần 60%

chủ DN là khơng có bằng cấp, một số chủ DN có trình độ chun mơn kỹ thuật

nhưng lại thiếu về kiến thức quản lý.

Thiếu chiến lược và kế hoạch kinh doanh là một điểm yếu của hầu hết các

doanh nghiệp. Việc lập chiến lược và kế hoạch kinh doanh chưa phải là mối quan

tâm hàng đầu của các chủ sở hữu và nhà quản lý. Đối với hầu hết các doanh

nghiệp nhỏ và vừa, kế hoạch nhiều khi chỉ là dự đốn trong đầu, khơng thể hiện ra

thành báo cáo, dự án; kế hoạch chỉ là mục tiêu tổng quát như sản xuất, tiêu thụ, lợi

nhuận có thể được bao nhiêu; và nếu đạt được, thì thoả mãn với những gì đã có.

Vì vậy, khi thị trường biến động, kế hoạch dự tính khơng hồn thành, họ lúng

túng, bị động, khơng biết rõ phải làm gì, ở khâu nào, bộ phận nào và như thế nào

để đối phó với tình hình. Do kế hoạch chỉ là ước tính, tổng qt, khơng viết ra

giấy, nên thường khơng có đánh giá hoặc không thể đánh giá được các điểm mạnh

yếu; không biết rõ chỗ nào, công việc nào đang kém hiệu quả, hoặc có thể làm tốt

hơn; vì vậy, khơng chủ động trong nỗ lực, cải tiến quản lý nâng cao hiệu quả và

khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

- Khả năng cạnh tranh của các DNNVV còn kém.

Nhìn chung khả năng cạnh tranh của DNNVV còn nhiều hạn chế, thị phần

sản phẩm công nghiệp trên địa bàn Tỉnh cũng như cả nước và xuất khẩu còn nhỏ.



Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



64



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



Giá thành sản phẩm, dịch vụ cung ứng cao, các hoạt động hỗ trợ xúc tiến thương

mại còn nhiều yếu kém, do đó khó cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại nhập lậu

cũng như sản phẩm của các DN ở thành phố Hà Nội, Vĩnh Phúc...

- Công tác quản lý của các cơ quan Nhà nước và hỗ trợ DNNVV nhất là

khối dân doanh tuy có chuyển biến nhưng vẫn còn nhiều bất cập, hiệu quả chưa

cao. Sự phối hợp của các sở, ban, ngành, quận, huyện còn chưa đồng bộ, nhịp

nhàng, vừa chồng chéo, vừa bỏ ngõ.

- Thiếu thơng tin và các dịch vụ hỗ trợ DNNVV còn thiếu.

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường khơng có bộ phận chuyên trách về thu

thập và xử lý thông tin. Nguồn vốn tài chính có hạn khơng cho phép mua sắm các

thiết bị phục vụ công tác thông tin và chi phí cho các hoạt động thu thập, xử lý

thơng tin (như tìm kiếm thơng tin thị trường, đối tác, bạn hàng). Do đó, đa số các

doanh nghiệp nhỏ và vừa thiếu thông tin về thị trường đầu vào, thông tin về chế độ

chính sách và các quy định của Nhà nước, dẫn tới việc các doanh nghiệp chưa

thực sự nắm bắt được các cơ hội kinh doanh. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng ít

được trợ giúp từ các trung tâm thông tin, tư vấn, ngân hàng, dịch vụ hỗ trợ thương

mại. Hiện nay các nguồn cung cấp thông tin chủ yếu của các doanh nghiệp nhỏ và

vừa là từ điện thoại, Internet, báo chí, từ đối tác, bạn hàng…



4. Công tác quản lý Nhà nước đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa

trên địa bàn Tỉnh Phú Thọ.

Ngay sau khi tái lập Tỉnh, Phú Thọ đã xác định: Thách thức gay gắt nhất

của Tỉnh là nguy cơ tụt hậu về kinh tế. Do đó Phú Thọ đã xác định phải thực hiện

CNH-HĐH để vượt qua khó khăn của nền kinh tế do cơ sở vật chất kỹ thuật còn

yếu kém, lạc hậu, tích lũy nội bộ thấp, vốn đầu tư cho phát triển thiếu…Vì vậy, để

thực hiện thành cơng CNH-HĐH, Phú Thọ phải khai thác và sử dụng có hiệu quả

mọi nguồn lực, vượt qua thử thách, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, tiếp tục chuyển



Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



65



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



đổi cơ cấu kinh tế theo hướng CNH –HĐH. Năm 2006, Việt Nam trở thành thành

viên của WTO, nhiều cơ hội và thách thức đang đặt ra cho quá trình hội nhập. Phú

Thọ phải phát huy mọi nguồn lực, vượt thách thức, đẩy mạnh cơng nghiệp hóa

hiện đại hóa, phấn đấu tăng trưởng cao, chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách hợp

lý. Muốn vậy nhiệm vụ đặt ra là phải tập trung phát triển sản xuất kinh doanh,

phát triển công nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả và phù hợp với nhu cầu của

thị trường, phát triển các ngành dịch vụ đáp ứng các yêu cầu của sản xuất kinh

doanh và đời sống, khuyến kích các thành phần tham gia đầu tư phát triển sản xuất

kinh doanh.

Công tác quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực đã không ngừng được đổi mới,

thể hiện qua:

4.1. Về tổ chức bộ máy, cán bộ quản lý nhà nước

Trong công tác tổ chức bộ máy đã kiện toàn hệ thống đăng ký kinh doanh từ

tỉnh đến huyện theo đúng quy định của Luật doanh nghiệp, Nghị định

02/2000/NĐ- CP của Chính phủ và Thông tư 05/TT- LB của Bộ nội vụ về thành

lập Phòng ĐKKD cấp tỉnh và huyện. phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương

(Tháng 7/2000 UBND tỉnh có quyết định thành lập Phòng Đăng ký kinh doanh

trên cơ sở tổ chức lại phòng doanh nghiệp thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư, có nhiệm

vụ tham mưu giúp ngành, đề suất với Uỷ ban nhân dân tỉnh cơ chế, chính sách

quản lý, cho phép thành lập và chứng nhận đăng ký kinh doanh cho các doanh

nghiệp nhỏ và vừa, nhưng không theo dõi trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh

của doanh nghiệp.

Các sở ngành kinh tế- kỹ thuật, UBND cấp huyện đã tiến hành rà soát lại cơ

cấu, chức năng, nhiệm vụ của phòng Tài chính, kế hoạch, các phòng chuyển mơn,

đã tham mưu cho tỉnh thành lập Trung tâm xúc tiến thương mại, Trung tâm xúc

tiến đầu tư, Trung tâm khuyến cơng, bố trí cán bộ theo dõi, quản lý hoạt động đối

Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



66



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

7 Những khó khăn tồn tại chủ yếu của các DNNVV trên địa bàn Tỉnh.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×