Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
6 Những đóng góp của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Phú Thọ trong thời gian vừa qua.

6 Những đóng góp của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Phú Thọ trong thời gian vừa qua.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



trưởng kinh tế. Theo kết quả điều tra của cục thống kê Tỉnh thì các doanh nghiệp

thuộc hai quy mơ “nhỏ” và “vừa” tạo ra lượng doanh thu đáng kể tính theo bình

qn cơ sở và bình qn nhân cơng lao động.

Về đóng góp vào GDP: Đóng góp vào GDP của tỉnh ngày một tăng, từ chỗ

tỷ lệ trong GDP của khu vực DNNVV không đáng kể vào những năm đầu 90, đến

nay tỷ lệ này chiếm một tỷ lệ đáng kể và ngày một tăng. Năm 2004 khu vực doanh

nghiệp nhỏ và vừa đóng góp vào GDP với tỷ lệ là 27%, năm 2005 là 28,5% và

năm 2007 là 31%. Tuy nhiên tỷ lệ này so với các tỉnh lân cận là rất thấp.

- Đóng góp khơng nhỏ vào ngân sách Tỉnh.

Qua số liệu về đóng của doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp vào ngân

sách của Tỉnh cũng cho thấy phần nào vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đóng

góp vào nguồn thu ngân sách của Tỉnh đang có xu hướng tăng lên mấy năm gần

đây, từ khoảng 5,2% năm 2005 lên hơn 6,8% năm 2006. Thu từ thuế công thương

nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh năm 2006 đạt 107,2% kế hoạch và tăng 12%

so với năm 2005. Năm 2007, số thu từ doanh nghiệp dân doanh chiếm khoảng

11% tổng số thu ngân sách, tăng 18,8% so với cùng kỳ các năm trước. Dự kiến

năm 2007 thu từ khu vực kinh tế tư nhân khoảng 255,3 tỷ, chiếm khoảng 7,9% thu

ngân sách.

Trong năm 2006, mức thuế và phí đóng bình quân đầu người trong các

doanh nghiệp nhỏ là 8 triệu đồng bằng mức bình quân chung và doanh nghiệp nhỏ

là 42 triệu đồng. Trong khi đó mức đóng bình qn đầu người của các doanh

nghiệp lớn là 12 triệu đồng. So với ngân sách trung ương, thì đóng góp của khu

vực kinh tế tư nhân (chủ yếu là DNNVV) trong nguồn thu của ngân sách Tỉnh là

lớn hơn rất nhiều. Năm 2007, kinh tế tư nhân đóng góp trong tổng thu ngân sách

địa phương là khoảng 17%. Tuy đóng góp vào ngân sách Tỉnh của khu vực doanh



Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



57



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



nghiệp nhỏ và vừa vẫn còn khá khiêm tốn nhưng tỷ lệ này tăng đáng kể và có xu

hướng tăng nhanh trong những năm tới đây.

Ngồi đóng góp trực tiếp vào ngân sách, doanh nghiệp, hiệp hội doanh

nghiệp Tỉnh còn tích cực tham gia đóng góp xây dựng các cơng trình văn hóa,

trường học, đường giao thơng nơng thơn, nhà tình nghĩa và những đóng góp phúc

lợi xã hội khác…

- Góp phần tạo ra nhiều việc làm mới và tăng thu nhập cho người lao động.

Theo thống kê thì hàng năm Tỉnh có thêm khoảng 18500-19000 người đến

tuổi tham gia thị trường lao động; ngoài ra, số lao động nơng nghiệp có nhu cầu

chuyển sang làm việc trong các ngành phi nông nghiệp cũng không nhỏ. Nhu cầu

hàng năm phải tạo thêm được hàng nghìn việc làm đang là một áp lực xã hội mạnh

đối với các cấp chính quyền trên địa bàn Tỉnh. Việc tạo thêm nhiều công ăn việc

làm mới không chỉ giải quyết vấn đề của xã hội, mà còn góp phần thúc đẩy sự

phát triển cả về kinh tế và xã hội.

Do khu vực kinh tế nhà nước trên địa bàn Tỉnh đang thực hiện sắp xếp đổi

mới lại nên không những không thể thu hút them lao động mà còn tăng thêm số

lao động dơi dư. Khu vực đầu tư nước ngồi trên địa bàn Tỉnh mỗi năm cũng chỉ

tạo thêm được khoảng 800-1000 chỗ làm mới, một tỷ lệ không đáng kể. Như vậy,

phần lớn số người tham gia lực lượng lao động trông chờ vào khu vực nông thôn

và khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn đã tạo ra nhiều việc làm mới với

tốc độ tăng trưởng cao. Theo ước tính, doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo ra khoảng

37% việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn ở các huyện, thị xã, khoảng 15-17%

lực lượng lao động trên địa bàn Tỉnh. Theo thống kê của cục thống kê Tỉnh riêng

khu vực doanh nghiệp, khơng tính các hộ kinh doanh cá thể, mỗi năm thu hút trên

dưới 8 – 9 vạn lao động với mức thu nhập bình quân gần 900nghìn đồng/ tháng.



Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



58



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



Ngoài ra khu vực hộ kinh doanh cá thể mỗi năm tăng thêm từ 200-300 cơ sở, thu

hút thêm gần 2000 lao động với mức thu nhập bình quân từ 450000-600000 đồng/

tháng. Các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân trên địa bàn Tỉnh( chủ yếu

là các doanh nghiệp nhỏ và vừa) có mức tăng trưởng cao về lao động trong những

năm qua. Số lao động tại khu vực này trong năm 2007 đã tăng 2,08 lần so với thời

điểm năm 2005, trong khi đó ở khu vực doanh nghiệp Nhà nước và hộ kinh doanh

cá thể là 1,06%.

Trong 7 năm qua, ước tính cho thấy đã có khoảng 35000 chỗ việc làm mới

được tạo ra nhờ các doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể mới thành lập và mở rộng

quy mô kinh doanh theo luật doanh nghiệp, đưa tổng số lao động trực tiếp làm

việc trong các doanh nghiệp dân doanh trên địa bàn Tỉnh. Đây là sự đóng góp tích

cực vào ổn định chính trị xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao nhận thức của

người lao động trên địa bàn Tỉnh.

- Góp phần khơi phục, giữ gìn và phát triển các làng nghề thủ công truyền

thống.

Các làng nghề thủ công truyền thống tạo ra lượng sản phẩm hàng hóa đa

dạng, phong phú về chủng loại với chất lượng kỹ, mỹ thuật ngày càng cao, có khả

năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và nước ngồi, phát triển các sản phẩm

hàng hóa, dịch vụ cho các thị trường có dung lượng nhỏ mà các doanh nghiệp lớn

khơng quan tâm. Chính vì vậy các làng nghề này có tầm quan trọng trong việc tạo

công ăn việc làm và cải thiện đời sống người lao động.

- Bước đầu tham gia vào quá trình hình thành mối lien kết DNNVV với các

doanh nghiệp lớn.

Mối liên kết giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa và các doanh nghiệp lớn đã

bước đầu được hình thành và phát triển trong thời gian vừa qua. Trong thời gian

vừa qua, các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn đã có mối quan hệ lien kết với



Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



59



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



các doanh nghiệp lớn trong việc cung ứng nguyên vật liệu, thực hiện thầu phụ, dần

hình thành mạng lưới công nghiệp bổ trợ và đặc biệt là tạo ra mạng lưới vệ tinh

phân phối sản phẩm. Có thể nói, đây là mối quan hệ hai chiều, rằng buộc lẫn nhau,

các doanh nghiệp lớn đảm bảo vững chắc cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa về thị

trường, tài chính, cơng nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý. Ngược

lại, các doanh nghiệp nhỏ và vừa đảm bảo cho các doanh nghiệp lớn về công nghệ

bổ trợ, mạng lưới tiêu thụ sản phẩm rộng khắp cả nước.

Như vậy, DNNVV nhìn chung là năng động và thích ứng nhanh với những

thay đổi của thị trường, góp phần gìn giữ và phát triển các ngành nghề truyền

thống, tạo việc làm và thu nhập cho người lao động, góp phần xố đói giảm nghèo

và ổn định xã hội. Các DNNVV phát triển đúng hướng sẽ góp phần xây dựng một

nền sản xuất lớn, giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng cơng nghiệp hóa

một cách nhanh chóng và bền vững hơn.

3.7 Những khó khăn tồn tại chủ yếu của các DNNVV trên địa bàn Tỉnh.

Qua phân tích thực trạng và vị trí của DNNVV trong tổng thể nền kinh tế

của Tỉnh cho thấy một số tồn tại, hạn chế như sau:

- Quy mơ DN nhỏ.

Tuy phát triển nhanh chóng về số lượng nhưng hiện nay quy mơ các

DNNVV nói chung còn rất nhỏ, thể hiện trên cả 3 tiêu thức: vốn, lao động và

doanh thu. Quy mô nhỏ, kinh doanh mang tính tự phát cao nên khả năng mở rộng

ra thị trường bên ngồi còn hạn chế, tích tụ tư bản thấp, điều kiện tài chính hạn

hẹp làm cho khả năng hiệ đại hóa sản xuất, đổi mới cơng nghệ còn hạn chế.

- Cơ cấu đầu tư chưa hợp lý.

Ngành nghề ĐKKD chủ yếu là thương mại, dịch vụ thuần tuý (chiếm tỷ lệ

trên 65%), mang tính tự phát cao, khơng có quy hoạch, chiến lược, DN chủ yếu

tập trung kinh doanh vào khu vực thương mại, dịch vụ. Điều này phản ánh một



Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



60



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



thực trạng là đa số các nhà đầu tư tư nhân đầu tư với mục tiêu kiếm lợi nhuận nhất

thời, chưa chú trọng đầu tư phát triển các ngành sản xuất công nghiệp hay dịch vụ

hiện đại, là những ngành đảm bảo sự phát triển lâu dài của nền kinh tế Tỉnh và của

bản thân DN.

- Thiếu vốn và mặt bằng sản xuất kinh doanh.

Thiếu vốn và mặt bằng sản xuất kinh doanh là hiện tượng phổ biến đối với

DNDD. Ngay cả với một số DN sản xuất kinh doanh có hiệu quả cần mở rộng mặt

bằng, đầu tư máy móc thiết bị, chuyển đổi cơ sở sản xuất đều thiếu vốn và mặt

bằng. Các DN chỉ vay vốn ngắn hạn ở các ngân hàng thương mại với lãi suất cao

để làm vốn lưu động, vốn đầu tư dài hạn rất khó tiếp cận vì khơng đủ điều kiện để

vay (thế chấp tài sản..). Nhiều DN phải thuê lại mặt bằng của cơ quan, DNNN để

sản xuất kinh doanh với giá cao và không ổn định, hạn chế khả năng đầu tư lâu dài

của DN. Theo kết quả điều tra của chi cục thuế Tỉnh có tới 90% doanh nghiệp phải

tổ chức sản xuất - kinh doanh trên đất thổ cư hoặc đi thuê laị của tổ chức, cá nhân

khác; chỉ có 5% thuê được đất của nhà nước. Hiện tại nhiều doanh nghiệp sản xuất

có nhu cầu thuê đất để tổ chức sản xuất - kinh doanh nhưng chưa thuê được, điều

này có thể khẳng định những khó khăn cho các doanh nghiệp là thực tế gần như

phổ biến; gây trở ngại nghiêm trọng đối với sự phát triển của khu vực doanh

nghiệp nhỏ và vừa. Số doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn chiếm 95% trên tổng số

doanh nghiệp. Trong đó, tỷ lệ doanh nghiệp vay trung hạn, dài hạn chiếm 65-70%.

Tỷ lệ vay vốn để đầu tư, mua thiết bị nhà xưởng chiếm 65-70%, vay kinh doanh

thương mại chiếm 30%. Kết quả điều tra cho thấy các doanh nghiệp nhỏ và vừa

tiếp tục đối mặt với những trở ngại lớn trong việc tiếp cận nguồn tài chính thương

mại (vốn hoạt động và đặc biệt là vốn đầu tư) do có sự kết hợp của nhiều yếu tố,

trong đó có sự hạn chế về các hình thức khuyến khích để các ngân hàng thương

mại cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa vay tiền (thế chấp tài sản)



Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



61



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

6 Những đóng góp của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Phú Thọ trong thời gian vừa qua.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×