Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
5 Về năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh

5 Về năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh

Tải bản đầy đủ - 0trang

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



quốc doanh trang bị 56% máy móc được sản xuất trong nước, 35% máy móc nước

ngồi và chỉ có 7% máy móc tự gia cơng chế tạo. Số liệu thống kê tồn diện về

doanh nghiệp trên địa bàn Tỉnh năm 2006 cho thấy mức trang bị vốn của doanh

nghiệp là rất thấp. Mức trang bị vốn chung của các doanh nghiệp nhỏ và vừa của

Tỉnh là 6.9 tỷ đồng/ doanh nghiệp, trong đó mức trang bị vốn của doanh nghiệp

Nhà nước có quy mô nhỏ và vừa là 34,3 tỷ đồng, của các doanh nghiệp ngoài quốc

doanh là 5,3 tỷ đồng và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi là 38.6 tỷ

đồng.

Bảng 17: Mức trang bị vốn trung bình của DNNVV năm 2006

Chỉ tiêu



doanh DNNVV theo khu vực kinh tế

DNNN

DNNQD

DNVNG

nghiệp NVV

doanh 2213

50

2102

60



số

nghiệp

Số



Số



68316



412



35



432



LĐBQ1DN

Tổng số vốn 14604154

Vốn/ doanh 6599.256



6619564

132391



4690800

2231.5



3293790

54896.5



nghiệp

Tài sản cố 6567.8



60406



2357.3



72259.1



địnhBQ/1DN

TSCĐ/LĐ

123.73

162.705

80.2

Nguồn: Tính toán theo số liệu cục thống kê Tỉnh 2006



179.99



Trong DNNVV của Tỉnh, hệ số trang bị tài sản cố định cho một lao động là

124 triệu đồng. Hệ số trang bị vốn cố định của DNNVV nhà nước là 108.633 triệu

đồng, khu vực ngoài quốc doanh là 80.2 triệu đồng, khu vực có vốn đầu nước

ngồi là 179.99 triệu đồng. Như vậy mức trang bị tài sản cố định cho một lao động

trong các DNNVV khu vực ngoài quốc doanh là khá thấp. Điều đó cho thấy các

doanh nghiệp ngồi quốc doanh vẫn chủ yếu dựa trên lao động, trang bị vốn thấp,



Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



53



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



năng lực thiết bị hạn chế. Tình trạng này có được cải thiện thêm trong khu vực nhà

nước nhưng mức chênh lệch không đáng kể.

So với các doanh nghiệp nước ngồi thì các doanh nghiệp trong nước có hệ

số trang bị vốn quá thấp( chỉ bằng 12-14%). Ngoài ra tỷ lệ tài sản cố định BQ/1

doanh nghiệp vốn trong nước quá thấp (chỉ có 23-24%) Điều đó có nghĩa là các

doanh nghiệp nhỏ trong nước chủ yếu kinh doanh bằng vốn lưu động và đầu tư

ngắn hạn, vay vốn ngắn hạn để đầu tư dài hạn.

Bảng 18: Trang bị tài sản cố định bình qn trên 1 lao động

Triệu đồng

Tiêu chí



Trang bị TSCĐBQ1LĐ

Thời điểm1/1/2006

Thời điểm 31/12/2006



Doanh nghiệp nhà nước

248.866

Doanh nghiệp ngoài quốc 68.432



257.293

91.175



doanh

Doanh nghiệp có vốn đầu 188.242



228.050



tư nước ngồi

Theo số liệu cục thống kê Tỉnh,2006

Giá trị mua sắm máy móc thấp, thời hạn sử dụng ngắn và điều kiện mua

sắm dễ dàng đã làm cho các doanh nghiệp ngồi quốc doanh có điều kiện trang bị

máy móc mới, khả năng tiếp cận công nghệ mới thuận lợi hơn so với doanh

nghiệp quốc doanh. Ngoài ra tỷ trọng hàng xuất khẩu cũng như mức độ chế tác

của hàng xuất khẩu cũng phản ánh phần nào trình độ cơng nghệ của các doanh

nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Tỉnh. Theo cục thống kê Tỉnh thì trên địa bàn Tỉnh

chỉ có khoảng 23 doanh nghiệp có khả năng xuất khẩu và có khoảng 30 doanh

nghiệp có triển vọng xuất khẩu. Xét về lĩnh vực xuất khẩu chỉ có các doanh nghiệp

sản xuất chè, giấy và phân bón có khả năng xuất khẩu nhất. Điều này cho thấy



Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



54



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



trình độ cơng nghệ sản xuất của các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn rất thấp, chủ

yếu là xuất khẩu các mặt hàng nông sản hoặc nguyên liệu thô.

Phần lớn các doanh nghiệp sử dụng yếu tố đầu vào tại địa phương 73%, ở

địa phương khác là 30% và nước ngoài là 11%. Tỷ lệ này dao động tùy thuộc vào

từng khu vực. Đối với khu vực nơng, lâm, thủy sản thì tỷ lệ sử dụng nguyên vật

liệu địa phương chiếm hơn 90%, trong khi ngành may mặc, giấy và thương mại có

tới 30% sử dụng yếu tố đầu vào ở nước ngoài.

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa Tỉnh Phú Thọ ra đời và hoạt động sản xuất

kinh doanh tự phát chưa được quy hoạch chi tiết. Vì vậy hoạt động sản xuất rời

rạc, quan hệ hiệp tác giữa các doanh nghiệp với nhau và với các doanh nghiệp lớn

còn rất lỏng lẻo. Chính thực trạng này cũng làm cho sản phẩm các doanh nghiệp

nhỏ và vừa gặp nhiều khó khăn trong thị trường trong nước và vươn ra nước

ngồi.

Bảng 19: Tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn

Tiêu chí



Lãi



Doanh nghiệp 40

nhà nước

Doanh nghiệp

2032

ngồi quốc

doanh

Doanh nghiệp

30

có vốn đầu tư

nước ngồi



Lỗ



Khơng lãi

khơng lỗ



80



153653



7



14



-15266



3



6



Lãi bình

qn 1

DN

3841.3



Lỗ bình

qn

1DN

-2180.9



78.3



43297



153



12.

74



-40709



108



8.99



46.1



-266.1



50



81158



21



36.

11



-45124



9



13.89



4508.8



-3471.1



Nguồn: Cục thống kê Tỉnh Phú Thọ, 2006

Nhìn vào bảng số liệu trên đây có thể thấy, hiệu quả kinh doanh của các

doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Tỉnh nói riêng tuy

chưa cao nhưng đã được cải thiện hơn so với trước đây. Tuy nhiên so với mức

chung của các doanh nghiệp trong nước thì các chỉ tiêu hiệu quả của các doanh

nghiệp nhỏ và vừa còn khá thấp. Lợi nhuân bình quân của một doanh nghiệp nhỏ

và vừa là 388 triệu đồng, thấp hơn nhiều so với mức bình quân chung của các

Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



55



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



doanh nghiệp trong nền kinh tế ( đạt 1.52 tỷ đồng/ doanh nghiệp). Các chỉ tiêu về

tỷ suất lợi nhuận trên vốn và trên doanh thu của các doanh nghiệp nhỏ và vừa đều

rất thấp. Tỷ suất lợi nhận bình quân trên vốn bình quân của doanh nghiệp trong

nước năm 2006 là 0.015, năm 2007 là 0.009. Khu vực ngoài quốc doanh chỉ tiêu

này chỉ đạt 0.0052. Điều này có thể lý giải tính hiệu quả theo quy mơ, khi quy mơ

q nhỏ bé thì hiệu quả kinh doanh sẽ khơng cao. Xét về loại hình doanh nghiệp

thì doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân có tỷ lệ doanh nghiệp có lãi

cao nhất với chỉ số tương ứng là 80% và 82%.

3.6 Những đóng góp của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Phú Thọ trong thời

gian vừa qua.

Qua nhiều năm phát triển, doanh nghiệp nhỏ và vừa Tỉnh Phú Thọ có những

đóng góp ngày càng lớn đối với tồn bộ nền kinh tế của Tỉnh. Vai trò của các

doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng lớn đối với nền kinh tế - xã hội của Tỉnh được

thể hiện ở những điểm sau:

- Doanh nghiệp nhỏ và vừa Tỉnh góp phần đáng kể vào GDP và tốc độ tăng

trưởng kinh tế của Tỉnh.

Trong những năm qua, sự phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất

lượng, doanh nghiệp nhỏ và vừa Tỉnh Phú Thọ đã đóng góp đáng kể vào sản lượng

của Tỉnh cũng như là tốc độ tăng trưởng của Tỉnh. Doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày

càng đóng góp nhiều hơn vào tổng GDP do số lượng doanh nghiệp ngày càng lớn

và phân bố rộng khắp trong hầu hết các ngành, lĩnh vực. Ngoài ra tốc độ tăng

trưởng sản xuất của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng cao hơn so với các

khu vực doanh nghiệp khác. Nếu tính theo doanh thu của các doanh nghiệp trên

địa bàn Tỉnh, tỷ trọng doanh thu của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy

mô lao động ( dưới 300 người) năm 2004-2007 là 76,9 – 81,5%. Điều đó chứng tỏ

doanh nghiệp nhỏ và vừa có đóng góp lớn vào việc gia tăng sản lượng và tăng



Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



56



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



trưởng kinh tế. Theo kết quả điều tra của cục thống kê Tỉnh thì các doanh nghiệp

thuộc hai quy mô “nhỏ” và “vừa” tạo ra lượng doanh thu đáng kể tính theo bình

qn cơ sở và bình qn nhân cơng lao động.

Về đóng góp vào GDP: Đóng góp vào GDP của tỉnh ngày một tăng, từ chỗ

tỷ lệ trong GDP của khu vực DNNVV không đáng kể vào những năm đầu 90, đến

nay tỷ lệ này chiếm một tỷ lệ đáng kể và ngày một tăng. Năm 2004 khu vực doanh

nghiệp nhỏ và vừa đóng góp vào GDP với tỷ lệ là 27%, năm 2005 là 28,5% và

năm 2007 là 31%. Tuy nhiên tỷ lệ này so với các tỉnh lân cận là rất thấp.

- Đóng góp khơng nhỏ vào ngân sách Tỉnh.

Qua số liệu về đóng của doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp vào ngân

sách của Tỉnh cũng cho thấy phần nào vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đóng

góp vào nguồn thu ngân sách của Tỉnh đang có xu hướng tăng lên mấy năm gần

đây, từ khoảng 5,2% năm 2005 lên hơn 6,8% năm 2006. Thu từ thuế cơng thương

nghiệp và dịch vụ ngồi quốc doanh năm 2006 đạt 107,2% kế hoạch và tăng 12%

so với năm 2005. Năm 2007, số thu từ doanh nghiệp dân doanh chiếm khoảng

11% tổng số thu ngân sách, tăng 18,8% so với cùng kỳ các năm trước. Dự kiến

năm 2007 thu từ khu vực kinh tế tư nhân khoảng 255,3 tỷ, chiếm khoảng 7,9% thu

ngân sách.

Trong năm 2006, mức thuế và phí đóng bình qn đầu người trong các

doanh nghiệp nhỏ là 8 triệu đồng bằng mức bình quân chung và doanh nghiệp nhỏ

là 42 triệu đồng. Trong khi đó mức đóng bình qn đầu người của các doanh

nghiệp lớn là 12 triệu đồng. So với ngân sách trung ương, thì đóng góp của khu

vực kinh tế tư nhân (chủ yếu là DNNVV) trong nguồn thu của ngân sách Tỉnh là

lớn hơn rất nhiều. Năm 2007, kinh tế tư nhân đóng góp trong tổng thu ngân sách

địa phương là khoảng 17%. Tuy đóng góp vào ngân sách Tỉnh của khu vực doanh



Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



57



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

5 Về năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×