Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Số lượng và quy mô

1 Số lượng và quy mô

Tải bản đầy đủ - 0trang

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



Số lượng cơ sở SXKD

1317

Tỉ lệ % trên tổng số Cơ 55.81



570

25.74



276

12,48



50

2.26



sở

Số lượng lao động

9086

Tỉ lệ % trên tổng LĐ

13.3

Quy mơ trung bình 1Cơ 6.8



22886

33.5

40.15



20836

38.5

75.5



15507

22.7

310.14



sở

Theo nguồn sở KH&ĐT Phú Thọ

Bảng trên cho thấy, vào thời điểm năm 2007, các DNNVV có ít hơn 300 lao

động chiếm hơn 97.73 tổng số các cơ sở sản xuất kinh doanh và thu hút hơn 75%

lực lượng lao động phi nơng nghiệp. Các doanh nghiệp lớn có hơn 300 lao động

chỉ chiếm 2.26 tổng số các cơ sở sản xuất kinh doanh và tạo công ăn việc làm cho

hơn 19,7% lực lượng lao động phi nông nghiệp.

Kể từ khi Luật doanh nghiệp có hiệu lực(1/1/2000) số lượng các doanh

nghiệp nhỏ và vừa của Tỉnh đăng ký thành lập mới đã tăng nhanh chóng. Từ năm

2000 đến hết năm 2007 đã có gần 1000 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới,

trong đó chủ yếu là DNNVV, đưa tổng số doanh nghiệp của Tỉnh đến hết năm

2007 là 2213 doanh nghiệp, cộng thêm khoảng 19.737 hộ kinh doanh cá thể và

khoảng 22 hợp tác xã.

Bảng 12: Số lượng đăng ký kinh doanh mới qua các năm

Năm

2004

2005

2006

2007



Tổng số

DNTN

Công ty TNHH Cơng ty cổ phần

1427

210

601

395

1777

281

781

505

1920

304

851

555

2213

367

981

655

Nguồn phòng đăng ký kinh doanh- Sở KH&ĐT Phú Thọ

Theo tiêu chí phân loại dựa vào tổng giá trị vốn, trong tổng số 2213 doanh



nghiệp trong cuộc điều tra các cơ sở kinh tế trên phạm vi Tỉnh có tới 2021 là

doanh nghiệp là các DNNVV. Mấy năm gần đây, số lượng doanh nghiệp đăng ký



Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



45



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



theo Luật Doanh nghiệp tăng nhanh, với tốc độ ngày càng cao( năm 2001 có 830

doanh nghiệp, tăng 8% so với cùng kỳ năm trước, năm 2004 có 1427 doanh

nghiệp tăng 9%,năm 2007 có 2213 doanh nghiệp tăng 15%); số doanh nghiệp

đăng ký trung bình hàng năm tăng khoảng 17,5 lần so với trung bình 10 năm trước

năm 2000. Số doanh nghiệp mới đăng ký trong giai đoạn 2000-2007 cao gấp

16,08 lần so với 10 năm trước. Nếu năm 2001 trung bình cứ 1368 người dân có

một doanh nghiệp đăng ký kinh doanh thì năm 2006 ước tính có một 1 doanh

nghiệp đăng ký kinh doanh/900 người dân.

Theo kết quả điều tra của cục thống kê Tỉnh thì số lượng vốn huy động

được qua đăng ký thành lập mới và mở rộng quy mô kinh doanh cũng tăng mạnh

mẽ và được phân bố khắp trên toàn Tỉnh. Nếu như giai đoạn 1990-2000 tổng số

vốn đăng ký chỉ là 1533 tỷ đồng, thì trong 7 năm 2000-2007 số vốn đăng ký lên

đến 46537.2 tỷ đồng, đưa tổng số vốn đầu tư của doanh nghiệp ngoài quốc doanh

lên 33306 tỷ đồng, trong đó năm 2005 là 3612 tỷ đồng, tăng 37% so với cùng kỳ

năm trước, năm 2006 là 5114 tỷ đồng tăng 42%, năm 2007 là 7638,2 tỷ đồng, tăng

49.35%.

Số DNNVV theo quy mô nguồn vốn

Tổng vốn đăng ký mới giai đoạn 2000-2007 cao gấp 16.68 lần so với 10

năm trước đây 1990-2000.

Bảng 13: Tỷ trọng đầu tư của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Năm

2004

2005

2006

2007



Tổng số DN



Theo quy mô vốn( Tỷ đồng)

Dưới 1

Từ 1-5

1427

537

315

1777

610

355

1920

803

435

2213

850

502

Nguồn cục thống kê Tỉnh Phú Thọ



Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Từ 5-10

575

812

682

861



Lớp: Kế hoạch – 46A



46



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



Tỷ trọng đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tổng đầu tư toàn

tỉnh đã tăng từ 32% năm 2005 lên 34% năm 2006 và năm 2007 là 41%. Vốn đầu

tư thực hiện của doanh nghiệp nhỏ và vừa của Tỉnh đã lớn hơn vốn đầu tư trực

tiếp nước ngoài vào Tỉnh. Vốn đầu tư của các doanh nghiệp khu vực DNNVV

được thực hiện ở gần như tất cả các huyện, thị xã, thành phố với nhiều điều kiện

khác nhau.

Nhìn chung, số vốn đăng ký cao nhất phổ biến ở các thành phố và thị xã,

các huyện có cơ sở hạ tầng tốt khoảng 7 tỷ đồng. Ở Việt Trì, mức vốn đăng ký

bình quân/ doanh nghiệp cao nhất(8.9 tỷ đồng), tiếp đó là Thị xã Phú Thọ (5.6 Tỷ

đồng), mức vốn đăng ký bình quân doanh nghiệp thấp nhất là ở H. Tân Sơn(539

triệu đồng). Số vốn đầu tư thực tế cũng là vấn đề được nhiều người quan tâm. Cho

tới nay chưa có điều tra đầy đủ để so sánh số vốn đăng ký với số vốn thực tế đầu

tư. Tuy nhiên, qua cuộc khảo sát thực tế của phòng đăng ký kinh doanh của sở Kế

hoạch và Đầu tư ở một số khu, cụm công nghiệp cho thấy DNNVV đang là nhà

đầu tư chủ yếu. Riêng số vốn đầu tư thực hiện tại các khu, cụm công nghiệp đã

cao hơn số vốn đăng ký trong cùng kỳ. Theo số liệu của cục thống kê Tỉnh thì năm

2006 số vốn đầu tư bình quân đầu người của một doanh nghiệp nhỏ (có 10-49

người) vào khoảng 760 triệu cao hơn vốn bình quân chung (700 triệu), vốn đầu tư

bình quân đầu người của một doanh nghiệp vừa (có từ 50-299 người) là khoảng

1.5 tỷ đồng, gấp rưỡi mức bình quân chung của các doanh nghiệp quy mô lớn (1.2

tỷ đồng).

Bảng 14: Quy mơ vốn bình qn trên một doanh nghiệp.

Số



Loại hình doanh nghiệp



TT

1

2

3



(Triệu đồng)

Doanh nghiệp tư nhân

754,3 triệu đồng/1 doanh nghiệp

Công ty TNHH

2.96 tỷ/1 công ty

Công ty cổ phần

5,1 tỷ đồng/1công ty

Theo số liệu sở KH&ĐT Tỉnh Phú Thọ



Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Qui mơ vốn đầu tư / bình qn 1 DN



Lớp: Kế hoạch – 46A



47



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



Với quy mơ vốn bình qn trong doanh nghiệp thời điểm (năm 2007) là

3.691,0 triệu đồng/1 doanh nghiệp. Nếu so sánh với quy mô vốn doanh nghiệp

trong giai đoạn 1991 - 1999 đã tăng khoảng gần 10 lần. Tuy nhiên vốn đầu tư vào

các loại hình doanh nghiệp cũng khác nhau, qua biểu ta thấy sự thu hút vốn tốt

nhất là Công ty cổ phần, Công ty TNHH và điều này hoàn toàn phù hợp với quy

luật khách quan.

3.2. Kết cấu vốn doanh nghiệp theo mỗi loại hình doanh nghiệp.

Trong một doanh nghiệp có hai nguồn vốn cơ bản là: Vốn cố định là giá trị

đầu tư dài hạn, tài sản cố định theo giá trị còn lại và vốn lưu động là giá trị đầu tư

tài chính ngắn hạn và tài sản lưu động.

Trong những năm qua mặc dù gặp nhiều khó khăn song nguồn vốn trong

các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn Tỉnh Phú Thọ không ngừng tăng lên.

Theo số liệu thống kê Tỉnh: Đầu năm 2006, nguồn vốn doanh nghiệp nhỏ và vừa

thuộc doanh nghiệp nhà nước đạt 6619,564 tỷ đồng, bình quân 128154 triệu

đồng/1 doanh nghiệp, trong đó vốn chủ sở hữu 1917856 triệu đồng, vốn tự có là

48431 triệu đồng. Doanh nghiệp ngồi quốc doanh có tổng nguồn vốn đạt

4690800 triệu đồng, bình quân 4823,7 triệu đồng/ 1 doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu

đạt 1821846 triệu đồng, vốn tự có là 419774 triệu đồng. Doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngồi có tổng nguồn vốn là 3293790, bình qn 113965,9 triệu đồng/

doanh nghiệp, trong đó vốn chủ sở hữu là 1726918 triệu đồng, vốn tự có20114

triệu đồng.

Như vậy với mức vốn trên, các đơn vị kinh tế tư nhân mới chỉ đủ đầu tư cho

đất đai, nhà xưởng và một phần nhỏ cho trang thiết bị ban đầu cần thiết cho sản

xuất kinh doanh. Điều đó phần nào giải thích tại sao khả năng thay đổi thiết bị

cơng nghệ còn thấp và cũng có ý nghĩa là các cơ sở trên muốn hoạt động được

phải đi vay hầu hết vốn lưu động. Qua cuộc khảo sát của chi cục thuế Tỉnh tại các



Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



48



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



đơn vị kinh doanh trên địa bàn cho thấy 38% vốn kinh doanh là đi vay (trong đó

vay vốn tín dụng đầu tư của nhà nước của doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp

ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi lần lượt là: 55892 triệu

đồng, 235248 triệu đồng, 258957 triệu đồng, vay từ ngân hàng thương mại và các

nguồn khác lần lượt là: 45410 triệu đồng, 215340 triệu đồng, 65200 triệu đồng

hay vay nhà nước chiếm 8%, vay ngân hàng thương mại và các nguồn khác chiếm

30%).

Ở khía cạnh khác, có thể phân tích cơ cấu vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa

theo vốn lưu động và vốn cố định.

Theo số liệu của cuộc khảo sát 500 doanh nghiệp trên địa bàn Tỉnh năm

2005 của Sở KH&ĐT Tỉnh cho thấy:

Về vốn lưu động: Tổng vốn lưu động sử dụng trong năm là 3222,75 tỷ (bình

qn 6,45 tỷ đồng/doanh nghiệp), vòng quay là 2,43 vòng. Khu vực kinh tế trong

nước bình qn vốn lưu động 5.82 tỷ/ doanh nghiệp, vòng quay là 2,39. Trong đó,

doanh nghiệp nhà nước là 25,25 tỷ đồng/ doanh nghiệp( TW 87,27; ĐP 9,51 tỷ

đồng), doanh nghiệp ngoài quốc doanh bình qn 1,515 tỷ/doanh nghiệp, khu vực

có vốn đầu tư nước ngồi bình qn vốn lưu động 25,1 tỷ đồng, vòng quay vốn là

2,77 vòng. Xét về mặt sử dụng vốn thì doanh nghiệp trong nước ở mức bình quân

vốn lưu động cho một doanh nghiệp là rất thấp 5.82 tỷ/ doanh nghiệp, vòng quay

vốn lại chậm. Vì vậy, các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn có hiệu quả sử

dụng vốn thấp và kết quả sản xuất không cao.

3.3 Kết cấu, ngành nghề kinh doanh.

Các DNNVV của Tỉnh bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước, các hợp tác xã,

doanh nghiệp và công ty tư nhân, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi.

Theo số liệu của phòng đăng ký kinh doanh, năm 2006 có 35 doanh nghiệp nhà

nước có quy mơ nhỏ và vừa chiếm tỷ lệ 70% số doanh nghiệp nhà nước, hợp tác



Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



49



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



xã có 22 doanh nghiệp chiếm tới 100% hợp tác xã của Tỉnh, doanh nghiệp tư nhân

có 360 doanh nghiệp chiếm tới 97% tổng số doanh nghiệp tư nhân, cơng ty trách

nhiệm hữu hạn có 923 chiếm tới 87% tổng số công ty trách nhiệm hữu hạn, cớ 28

doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi chiếm 77% tổng số doanh nghiệp

có vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi có quy mơ nhỏ và vừa.

3.4 Tình hình sử dụng lao động và trả lương lao động.



Nguồn nhân lực có trình độ tay nghề cao, linh hoạt, thích ứng với mơi

trường ln ln biến đổi là điều kiện tiên quyết cho sự thành công của các

doanh nghiệp. Điều đó càng trở nên đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Việt

Nam ra nhập WTO. Nhận thức được điều đó, các DNNVV trên địa bàn Tỉnh

đã có những nỗ lực nâng cao trình độ tay nghề cho lao động của mình. Theo

số liệu điều tra của Cục Thống kê Tỉnh thì tỉ lệ lao động qua đào tạo những

năm gần đây đã tăng lên rõ rệt: năm 2005 tỉ lệ lao động qua đào tạo là

63,2%, năm 2006 là 69.7% và năm 2007 là 70,1%. Tuy nhiên nguồn nhân

lực nhìn chung còn thấp, cơ cấu trình độ ngành nghề chưa phù hợp. Điều này

đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng lao động trong các doanh nghiệp nhỏ

và vừa, cụ thể:

- Hàng năm tỷ lệ lao động qua đào tạo mới chỉ đạt 16,8%, tỷ lệ cán bộ



khoa học kỹ thuật chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong dân số chỉ đạt khoảng 1,3% trong

cả nước tỷ lệ này chiếm khoảng 2,1%

- Cơ cấu ngành nghề, trình độ đào tạo nguồn nhân lực còn nhiều bất cập.



Tỷ lệ cơng nhân lành nghề, cơng nhân có kỹ thuật cao còn quá thấp.

- Tỷ lệ lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản chiếm



79,6% tổng lao động, nhưng chỉ chiếm 5,3% số cán bộ khoa học, kỹ thuật

của Tỉnh. Số được đào tạo rất ít, chủ yếu là lao động giản đơn.

Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



50



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Số lượng và quy mô

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×