Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta hiện nay.

2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta hiện nay.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng rất nhanh và chiếm tỷ lệ tuyệt đối trong tổng số các

doanh nghiệp trong nền kinh tế.

- Sau khi thành lập, Doanh nghiệp nhỏ và vừa sớm đi vào hoạt động và có

khả năng thu hồi vốn nhanh. Ở các nước phát triển( Mỹ, Anh, Singgapo) cho thấy

các doanh nghiệp nhỏ và vừa hàng năm có khấu hao đến 50% giá trị tài sản cố

định và thời gian hồn vốn khơng q 2 năm. Ở các nước đang phát triển, việc thu

hồi vốn cũng tương đối nhanh, tùy thuộc vào khả năng điều hành của chủ doanh

nghiệp và đặc điểm từng lĩnh vực kinh doanh cũng như chính sách khấu hao tài

sản cố định của Nhà nước…

- Doanh nghiệp nhỏ và vừa có diện tích nhỏ, đòi hỏi về cơ sở hạ tầng khơng

q cao. Vì thế nó có thể được đặt nhiều ở nhiều nơi trong nước, từ thành thị cho

tới nông thôn, miền núi và hải đảo… Đó chính là đặc điểm quan trọng nhất của

doanh nghiệp nhỏ và vừa để có thể giảm bớt luồng chảy lao động tập trung vào

các thành phố, để tiến hành cơng nghiệp hóa nơng thơn.

- Doanh nghiệp nhỏ và vừa dễ dàng thu hút lao động với chi phí thấp do đó

tăng hiệu suất sử dụng vốn. Đồng thời do tính chất dễ dàng thu hút lao động nên

các doanh nghiệp nhỏ và vừa góp phần đáng kể tạo công ăn việc làm, giảm bớt

thấp nghiệp cho xã hội.

Ngồi ra, các DNNVV còn có ưu thế ở chỗ quan hệ giữa người sử dụng và

người lao động gần gũi, than thiện hơn so với các doanh nghiệp lớn. Sự trì trệ,

thua lỗ, phá sản của các DNNVV có ảnh hưởng rất ít hoặc khơng gây nên khủng

hoảng kinh tế- xã hội, đồng thời các DNNVV ít bị ảnh hưởng của các cuộc khủng

hoảng kinh tế.

1.2.2 Hạn chế:

Doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mơ nhỏ nên có các hạn chế sau:



Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



11



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



Chủ doanh nghiệp thường thiếu kiến thức, kinh nghiệm kinh doanh và rất

bỡ ngỡ trước thị trường, nhất là thị trường ngoài nước, khả năng tiếp thị yếu kém,

có quy mơ nhỏ bé phân tán, vì lẽ đó năng suất lao động thường thấp hơn các

doanh nghiệp có quy mơ lớn và so với các doanh nghiêpj nhỏ và vừa của thế giới

và khu vực, sự hình thành và ra đời phần lớn theo tính tự phát, khả năng cạnh

tranh trên thị trường trong nước và quốc tế hạn chế, khả năng tích tụ không đáng

kể. Do không đủ sức cạnh tranh, khả năng điều hành, kinh nghiệm và trình độ kinh

doanh của chủ doanh nghiệp yếu kém, nhiều doanh nghiệp mới thành lập nhưng

khơng tìm kiếm được thị trường hoặc phương hướng trong sản xuất kinh doanh

nên đã rơi vào tình trạng phá sản hoặc tuyên bố chấm dứt hoạt động.

Trình độ phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa thấp cả về công nghệ, kỹ

năng lao động và quản lý, chưa đủ trình độ vươn ra các địa bàn khác cả trong nước

và ngoài. Các doanh nghiệp này thường đầu tư manh mún lại rất dàn trải, tình

trạng phổ biến là một doanh nghiệp kinh doanh nhiều ngành nghề, dẫn đến khơng

chun sâu một ngành nghề nào, ít có nhiều ngành nghề, dẫn đến khơng chun

sâu một ngành nghề nào, ít có sản phẩm truyền thống, gây được ấn tượng mạnh

trên thị trường. Trình độ chun mơn hóa sản xuất chưa cao, thể hiện rõ nhất là

loại hình một chủ chiếm ưu thế. Sự liên kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp nhỏ và

vừa với nhau và với các doanh nghiệp lớn khác còn hạn chế.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa phân bố không đều, chủ yếu tập trung vào những

vùng mà cơ sở hạ tầng thuận lợi, dân cư đông đúc, thành phố, thị xã, các khu công

nghiệp. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường quan tâm đến lợi ích cá nhân, lợi

ích trước mắt, ít chú ý đến lợi ích cộng đồng, thường tập trung kinh doanh trong

lĩnh vực dịch vụ- thương mại, xây dựng, đầu tư vào sản xuất chỉ có 20-25% đầu tư

vào sản xuất, ngồi lý do sản xuất kinh doanh tự phát, còn thiếu sự hỗ trợ định



Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



12



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



hướng của Nhà nước nên nhiều doanh nghiệp tuy có khả năng vốn, chất xám…

nhưng chưa biết sản xuất cái gì, tiêu thụ sản phẩm ở đâu nên không dám đầu tư.

Doanh nghiệp thường khó có khả năng tìm kiếm được các nguồn vốn ngân

hàng vì bản thân nó thiếu tài sản thế chấp, khó xây dựng được các phương án kinh

doanh…

Kiến thức pháp luật của phần lớn các chủ doanh nghiệp còn hạn chế, dẫn tới

tình trạng có nhiều doanh nghiệp vi phạm pháp luật trong kinh doanh, chấp hành

nghĩa vụ với Nhà nước chưa nghiêm, hiện tượng trốn thuế khá phổ biến và có xu

hướng gia tăng. Các thủ đoạn trốn thuế dưới nhiều hình thức như: Khơng đăng ký

kinh doanh, khơng đăng ký và kê khai nộp thuế, hoặc xin nghỉ kinh doanh nhưng

vẫn hoạt động, khai giảm doanh số, để ngoài sổ sách nhiều khoản thu, lập hệ

thống sổ sách, chứng từ giả; Khai tăng chi phí và giảm giá bán, thơng đồng với

các cơ quan có liên quan ( thuế, hải quan) để chậm nộp thuế, kéo dài thời gian để

nộp thuế để chiếm dụng tiền thuế. Tình trạng làm hàng giả, nhái kiểu dáng nhãn

hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, vi phạm bản quyền, vi phạm chế độ sử

dụng lao động, kinh doanh không đúng nội dung đăng ký diễn ra khá phổ biến.

Tình trạng kinh doanh “Chộp giật”, lừa đảo, kinh doanh hàng cấm, cho thuê, cho

mượn giấy chứng nhận ĐKKD ở các doanh nghiệp này vần thường xảy ra, làm

mất lòng tin trong cộng đồng doanh nghiệp và xã hội.



2. Sự cần thiết phải phát triển và quản lý của Nhà nước đối với

doanh nghiệp nhỏ và vừa.

2.1. Vị trí, vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với sự phát triển kinh tế.

DNNVV có vị trí vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của mỗi nước, kể

cả các nước có trình độ phát triển cao. Trong bối cảnh tồn cầu hóa gay gắt như

hiện nay, các nước đều chú ý hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm huy động

tối đa các nguồn lực và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, tăng sức cạnh tranh cho sản

Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



13



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



phẩm. Về mặt lý luận và thực tiễn đều cho thấy vị trí, vai trò của DNNVV đã được

khẳng định. Về số lượng các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm ưu thế tuyệt đối:

khoảng 98% ở Nhật, Đức… Ở Việt Nam, Doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng chiếm

tới khoảng 95% trong tổng số các doanh nghiệp. Hơn nữa, nó lại liên kết trong các

ngành nghề, lĩnh vực và tồn tại như một bộ phận không thể thiếu được của nền

kinh tế mỗi nước, là một bộ phận gắn bó chặt chẽ với các doanh nghiệp lớn, có tác

dụng hỗ trợ, bổ trợ, bổ sung, thúc đẩy các doanh nghiệp lớn phát triển.

Mặc dù còn có các quy định khác về doanh nghiệp về DNNVV nhưng sự

phát triển của DNNVV ở nhiều nước trên thế giới đã khiến cho các nhà kinh tế và

Chính phủ các nước nhận thức đầy đủ hơn về vai trò của DNNVV trong nền kinh

tế. Hiện nay ở hầu hết các nước, DNNVV đóng vai trò quan trọng chi phối rất lớn

đến phát triển kinh tế xã hội, thể hiện trên một số mặt sau:

Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) có vai trò lớn trong sự tăng trưởng

kinh tế của rất nhiều quốc gia, kể cả các nước phát triển và đang phát triển. Trong

bối cảnh Việt Nam đang chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập với

kinh tế khu vực và thế giới, doanh nghiệp vừa và nhỏ đã và đang đóng vai trò

quan trọng về nhiều mặt: Đảm bảo nền tảng ổn định và bền vững của nền kinh tế;

huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển; đáp ứng một cách linh hoạt

nhu cầu của các ngành kinh tế quốc dân; cải thiện thu nhập và giải quyết việc làm

cho một bộ phận đông đảo dân cư; góp phần xố đói, giảm nghèo, nâng cao mức

sống và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng. Đặc biệt đối với các nước

đang phát triển như Việt Nam thì giá trị gia tăng hoặc GDP do các doanh nghiệp

nhỏ và vừa tạo ra hàng năm chiếm tỷ trọng khá lớn, đảm bảo thực hiện những chỉ

tiêu cơ bản của nền kinh tế.

Bảng 3: Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế quốc dân ở một số nước

Đơn vị tính: %



Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta hiện nay.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×