Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương I: Doanh nghiệp nhỏ và vừa và sự cần thiết có chính sách, cơ chế hỗ trợ phát triển DNNVV.

Chương I: Doanh nghiệp nhỏ và vừa và sự cần thiết có chính sách, cơ chế hỗ trợ phát triển DNNVV.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



huy thế mạnh và giảm thiểu các hạn chế của nó là một việc làm được Chính Phủ

các nước đặc biệt quan tâm.

Tiêu chí phổ biến thường được các nước sử dụng để xác định DNNVV là

tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng.

Tiêu chí định tính: Tiêu chí này dựa trên những đặc trưng cơ bản của các

DNNVV như mức độ chun mơn hóa thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức

tạp của quản lý còn ở thấp…

Tiêu chí định lượng: Đây là tiêu chí quan trọng nhằm lượng hóa các tiêu

thức định tính nói trên. Tuy nhiên ở mỗi nước tùy vào hồn cảnh, tính chất làng

nghề, trình độ sản xuất, đường lối chính sách và chiến lược phát triển đất nước của

nước đó mà có các tiêu thức định tính riêng.

Bảng 1: Tiêu thức phân loại DNNVV của một số nước APEC

Tên nước

Tiêu chí phân loại

Australia

Số lao động

Canada

Số lao động, doanh thu

Indonesia

Số lao động, tổng giá trị tài sản, doanh thu

Nhật Bản

Số lao động, vốn đầu tư

Malaysia

Doanh thu, tỷ lệ góp vốn

Mexico

Số lao động

Mỹ

Số lao động

Phillippines

Số lao động, tổng giá trị tài sản, doanh thu

Đài loan

Vốn đầu tư, tổng giá trị tài sản, doanh thu

Singapore

Số lao động, tổng giá trị tài sản

Nguồn: Cục Doanh nghiệp nhỏ và vừa- Bộ Kế hoạch & Đầu tư.

Bảng 2: Tiêu chí định lượng DNNVV ở một số nước

Nước

CHLB Đức



Loại hình DN Số lao động

DNNVV



(người)

<500



Trong đó DN <= 9



Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Tổng số vốn



Doanh



Hoặc GTTS



năm

<100



số

triệu



DM

<1 triệu DM



Lớp: Kế hoạch – 46A



8



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



Australia

Canada



nhỏ

DNNVV

DNNVV



<500

<20

triệuUSD



Nhật Bản



DNNVV

trong



<300

công



nghiệp

DNNVV



Hàn Quốc



bán



<100



triệu



yên



buôn

DNNVV



<50



trong bán lẻ

DNNVV



<100



trong



triệu



yên

<100



trong



<300



<50 triệu yên



công



nghiệp

DNNVV



<20



trong dịch vụ

Nguồn: Bộ Kế hoạch & Đầu tư.

Ở Việt Nam, không phân biệt lĩnh vực kinh doanh, các doanh nghiệp có số

vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng hoặc số lượng lao động trung bình hàng năm dưới

300 người được coi là doanh nghiệp nhỏ và vừa (khơng có tiêu chí xác định cụ thể

đâu là doanh nghiệp siêu nhỏ, đâu là nhỏ, và đâu là vừa).

Như vậy, định nghĩa hiện tại về DNNVV không thể hiện thực sự phân biệt

giữa các loại hình doanh nghiệp khác nhau khi đề cập đến một cơ sở sản xuất kinh

doanh thuộc khu vực DNNVV. Nói cách khác, một cơ sở sản xuất kinh doanh

được coi là một doanh nghiệp dù cơ sở đó như một hộ kinh doanh cá thể hay đăng

ký theo Luật Hợp tác xã, Luật Doanh nghiệp và Luật Doanh nghiệp Nhà nước. Tất

cả các thực thể kinh doanh này được coi là một “doanh nghiệp”. Điều này cũng

phù hợp với định nghĩa quốc tế về Doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



9



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



DNNVV như được định nghĩa ở trên không phải là một khối doanh nghiệp

thuần nhất. Các doanh nghiệp này khá khác biệt về số lượng lao động cũng như

khả năng tài chính, cơng nghệ và quản lý. Các DNNVV Việt Nam sử dụng cách

phân loại doanh nghiệp dựa trên số lượng nhân công như sau:

Doanh nghiệp siêu nhỏ

Doanh nghiệp nhỏ

Doanh nghiệp vừa

Doanh nghiệp lớn



< 10 lao động

10-49 lao động

50-299 lao động

>300 lao động



1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta hiện nay.

1.2.1 Ưu thế:

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa có nhưng ưu thế chủ yếu sau:

- Nhạy cảm, thích ứng nhanh với sự biến động của thị trường.

Thông thường, các doanh nghiệp nhỏ và vừa năng động và linh hoạt hơn so

với các doanh nghiệp lớn trong sản xuất kinh doanh. Phần lớn các doanh nghiệp

nhỏ và vừa có khả năng đổi mới trang thiết bị kỹ thuật nhanh hơn, có khả năng

thích ứng nhanh hơn với nhu cầu của thị trường. Khi thị trường biến động thì các

doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng dễ dàng thay đổi mặt hàng hoặc chuyển hướng

kinh doanh.

- Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường sử dụng các loại máy móc cơng nghệ

trung bình, đòi hỏi sử dụng nhiều lao động, đặc biệt trong lĩnh vực dệt, giầy da…

Tuy nhiên, doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mơ nhỏ nhưng vẫn có điều kiện sử

dụng các máy móc trang thiết bị hiện đại, năng suất cao đảm bảo chất lượng sản

phẩm

- Doanh nghiệp nhỏ và vừa được thành lập dễ dàng vì vốn đầu tư ít: Do đó

chúng tạo ra cơ hội đầu tư đối với nhiều người, tạo điều kiện cho mọi tầng lớp

nhân dân trong nước dù ở điều kiện văn hóa giáo dục khác nhau đều có thể tìm

kiếm được cơ hội lập nghiệp. Chính vì thế mà ở các nước phát triển, số lượng

Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



10



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng rất nhanh và chiếm tỷ lệ tuyệt đối trong tổng số các

doanh nghiệp trong nền kinh tế.

- Sau khi thành lập, Doanh nghiệp nhỏ và vừa sớm đi vào hoạt động và có

khả năng thu hồi vốn nhanh. Ở các nước phát triển( Mỹ, Anh, Singgapo) cho thấy

các doanh nghiệp nhỏ và vừa hàng năm có khấu hao đến 50% giá trị tài sản cố

định và thời gian hồn vốn khơng q 2 năm. Ở các nước đang phát triển, việc thu

hồi vốn cũng tương đối nhanh, tùy thuộc vào khả năng điều hành của chủ doanh

nghiệp và đặc điểm từng lĩnh vực kinh doanh cũng như chính sách khấu hao tài

sản cố định của Nhà nước…

- Doanh nghiệp nhỏ và vừa có diện tích nhỏ, đòi hỏi về cơ sở hạ tầng khơng

q cao. Vì thế nó có thể được đặt nhiều ở nhiều nơi trong nước, từ thành thị cho

tới nông thôn, miền núi và hải đảo… Đó chính là đặc điểm quan trọng nhất của

doanh nghiệp nhỏ và vừa để có thể giảm bớt luồng chảy lao động tập trung vào

các thành phố, để tiến hành cơng nghiệp hóa nơng thơn.

- Doanh nghiệp nhỏ và vừa dễ dàng thu hút lao động với chi phí thấp do đó

tăng hiệu suất sử dụng vốn. Đồng thời do tính chất dễ dàng thu hút lao động nên

các doanh nghiệp nhỏ và vừa góp phần đáng kể tạo công ăn việc làm, giảm bớt

thấp nghiệp cho xã hội.

Ngồi ra, các DNNVV còn có ưu thế ở chỗ quan hệ giữa người sử dụng và

người lao động gần gũi, than thiện hơn so với các doanh nghiệp lớn. Sự trì trệ,

thua lỗ, phá sản của các DNNVV có ảnh hưởng rất ít hoặc khơng gây nên khủng

hoảng kinh tế- xã hội, đồng thời các DNNVV ít bị ảnh hưởng của các cuộc khủng

hoảng kinh tế.

1.2.2 Hạn chế:

Doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mơ nhỏ nên có các hạn chế sau:



Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



11



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



Chủ doanh nghiệp thường thiếu kiến thức, kinh nghiệm kinh doanh và rất

bỡ ngỡ trước thị trường, nhất là thị trường ngồi nước, khả năng tiếp thị yếu kém,

có quy mơ nhỏ bé phân tán, vì lẽ đó năng suất lao động thường thấp hơn các

doanh nghiệp có quy mơ lớn và so với các doanh nghiêpj nhỏ và vừa của thế giới

và khu vực, sự hình thành và ra đời phần lớn theo tính tự phát, khả năng cạnh

tranh trên thị trường trong nước và quốc tế hạn chế, khả năng tích tụ khơng đáng

kể. Do khơng đủ sức cạnh tranh, khả năng điều hành, kinh nghiệm và trình độ kinh

doanh của chủ doanh nghiệp yếu kém, nhiều doanh nghiệp mới thành lập nhưng

khơng tìm kiếm được thị trường hoặc phương hướng trong sản xuất kinh doanh

nên đã rơi vào tình trạng phá sản hoặc tuyên bố chấm dứt hoạt động.

Trình độ phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa thấp cả về công nghệ, kỹ

năng lao động và quản lý, chưa đủ trình độ vươn ra các địa bàn khác cả trong nước

và ngoài. Các doanh nghiệp này thường đầu tư manh mún lại rất dàn trải, tình

trạng phổ biến là một doanh nghiệp kinh doanh nhiều ngành nghề, dẫn đến khơng

chun sâu một ngành nghề nào, ít có nhiều ngành nghề, dẫn đến khơng chun

sâu một ngành nghề nào, ít có sản phẩm truyền thống, gây được ấn tượng mạnh

trên thị trường. Trình độ chun mơn hóa sản xuất chưa cao, thể hiện rõ nhất là

loại hình một chủ chiếm ưu thế. Sự liên kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp nhỏ và

vừa với nhau và với các doanh nghiệp lớn khác còn hạn chế.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa phân bố không đều, chủ yếu tập trung vào những

vùng mà cơ sở hạ tầng thuận lợi, dân cư đông đúc, thành phố, thị xã, các khu công

nghiệp. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường quan tâm đến lợi ích cá nhân, lợi

ích trước mắt, ít chú ý đến lợi ích cộng đồng, thường tập trung kinh doanh trong

lĩnh vực dịch vụ- thương mại, xây dựng, đầu tư vào sản xuất chỉ có 20-25% đầu tư

vào sản xuất, ngồi lý do sản xuất kinh doanh tự phát, còn thiếu sự hỗ trợ định



Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



12



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



hướng của Nhà nước nên nhiều doanh nghiệp tuy có khả năng vốn, chất xám…

nhưng chưa biết sản xuất cái gì, tiêu thụ sản phẩm ở đâu nên không dám đầu tư.

Doanh nghiệp thường khó có khả năng tìm kiếm được các nguồn vốn ngân

hàng vì bản thân nó thiếu tài sản thế chấp, khó xây dựng được các phương án kinh

doanh…

Kiến thức pháp luật của phần lớn các chủ doanh nghiệp còn hạn chế, dẫn tới

tình trạng có nhiều doanh nghiệp vi phạm pháp luật trong kinh doanh, chấp hành

nghĩa vụ với Nhà nước chưa nghiêm, hiện tượng trốn thuế khá phổ biến và có xu

hướng gia tăng. Các thủ đoạn trốn thuế dưới nhiều hình thức như: Khơng đăng ký

kinh doanh, không đăng ký và kê khai nộp thuế, hoặc xin nghỉ kinh doanh nhưng

vẫn hoạt động, khai giảm doanh số, để ngoài sổ sách nhiều khoản thu, lập hệ

thống sổ sách, chứng từ giả; Khai tăng chi phí và giảm giá bán, thơng đồng với

các cơ quan có liên quan ( thuế, hải quan) để chậm nộp thuế, kéo dài thời gian để

nộp thuế để chiếm dụng tiền thuế. Tình trạng làm hàng giả, nhái kiểu dáng nhãn

hiệu hàng hóa, kiểu dáng cơng nghiệp, vi phạm bản quyền, vi phạm chế độ sử

dụng lao động, kinh doanh không đúng nội dung đăng ký diễn ra khá phổ biến.

Tình trạng kinh doanh “Chộp giật”, lừa đảo, kinh doanh hàng cấm, cho thuê, cho

mượn giấy chứng nhận ĐKKD ở các doanh nghiệp này vần thường xảy ra, làm

mất lòng tin trong cộng đồng doanh nghiệp và xã hội.



2. Sự cần thiết phải phát triển và quản lý của Nhà nước đối với

doanh nghiệp nhỏ và vừa.

2.1. Vị trí, vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với sự phát triển kinh tế.

DNNVV có vị trí vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của mỗi nước, kể

cả các nước có trình độ phát triển cao. Trong bối cảnh tồn cầu hóa gay gắt như

hiện nay, các nước đều chú ý hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm huy động

tối đa các nguồn lực và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, tăng sức cạnh tranh cho sản

Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



13



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



phẩm. Về mặt lý luận và thực tiễn đều cho thấy vị trí, vai trò của DNNVV đã được

khẳng định. Về số lượng các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm ưu thế tuyệt đối:

khoảng 98% ở Nhật, Đức… Ở Việt Nam, Doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng chiếm

tới khoảng 95% trong tổng số các doanh nghiệp. Hơn nữa, nó lại liên kết trong các

ngành nghề, lĩnh vực và tồn tại như một bộ phận không thể thiếu được của nền

kinh tế mỗi nước, là một bộ phận gắn bó chặt chẽ với các doanh nghiệp lớn, có tác

dụng hỗ trợ, bổ trợ, bổ sung, thúc đẩy các doanh nghiệp lớn phát triển.

Mặc dù còn có các quy định khác về doanh nghiệp về DNNVV nhưng sự

phát triển của DNNVV ở nhiều nước trên thế giới đã khiến cho các nhà kinh tế và

Chính phủ các nước nhận thức đầy đủ hơn về vai trò của DNNVV trong nền kinh

tế. Hiện nay ở hầu hết các nước, DNNVV đóng vai trò quan trọng chi phối rất lớn

đến phát triển kinh tế xã hội, thể hiện trên một số mặt sau:

Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) có vai trò lớn trong sự tăng trưởng

kinh tế của rất nhiều quốc gia, kể cả các nước phát triển và đang phát triển. Trong

bối cảnh Việt Nam đang chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập với

kinh tế khu vực và thế giới, doanh nghiệp vừa và nhỏ đã và đang đóng vai trò

quan trọng về nhiều mặt: Đảm bảo nền tảng ổn định và bền vững của nền kinh tế;

huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển; đáp ứng một cách linh hoạt

nhu cầu của các ngành kinh tế quốc dân; cải thiện thu nhập và giải quyết việc làm

cho một bộ phận đơng đảo dân cư; góp phần xố đói, giảm nghèo, nâng cao mức

sống và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng. Đặc biệt đối với các nước

đang phát triển như Việt Nam thì giá trị gia tăng hoặc GDP do các doanh nghiệp

nhỏ và vừa tạo ra hàng năm chiếm tỷ trọng khá lớn, đảm bảo thực hiện những chỉ

tiêu cơ bản của nền kinh tế.

Bảng 3: Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế quốc dân ở một số nước

Đơn vị tính: %



Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



14



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



Số



Tên nước



DNNVV trong tổng



GT Sản lượng của



Lao động trong



TT



số doanh nghiệp



DNNVV trong tổng



DNNVV



1

2

3

4

5

6

7



GTSL nền kinh tế

97,6

45,5

98,2

52

98

50

80

52

93,2

52

98

50,2

96

51,3

Nguồn: Bộ Kế hoạch & Đầu tư



Đức

Pháp

Mỹ

Thái Lan

Hàn Quốc

Đài Loan

Việt Nam



trong LĐ

75

73,5

78

80

71

77,8

89,7



Sự phát triển nhanh chóng của Doanh nghiệp nhỏ và vừa đã góp phần

chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với sự nghiệp CNH,

HĐH nông nghiệp nông thơn. Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng có nghĩa

là phát triển công nghiệp và dịch vụ nông thôn, xóa dần tình trạng thuần nơng và

độc canh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Hơn nữa, sự phát triển doanh

nghiệp nhỏ và vừa sẽ làm:

- Cơ cấu thành phần kinh tế thay đổi, các cơ sở kinh tế ngồi quốc doanh

tăng lên nhanh chóng, các doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp và củng cố lại,

kinh doanh có hiệu quả để phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.

- Cơ cấu ngành: phát triển nhiều ngành nghề đa dạng, phong phú (cả ngành

nghề hiện đại và truyền thống) theo hướng lấy hiệu quả kinh tế xã hội làm thước

đo.

- Cơ cấu lãnh thổ: Các doanh nghiệp được phân bố đều hơn về lãnh thổ (cả

nông thôn và thành thị, miền núi và đồng bằng). Tuy nhiên, hiện nay các doanh

nghiệp nhỏ và vừa vẫn chủ yếu tập trung ở các đô thị lớn. Đây là vấn đề cần lưu

tâm trong việc hoạch định chính sách.

Sự ra đời của các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã làm cho nền kinh tế năng

động hiệu quả hơn, số doanh nghiệp tăng lên rất nhanh, về mặt số lượng doanh

Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



15



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



nghiệp. Phú Thọ có hơn 2213 doanh nghiệp nhỏ và vừa( có khoảng 1700 doanh

nghiệp thành lập mới giai đoạn từ 2000-2006). Việc ra đời số lượng lớn doanh

nghiệp đã huy động, khai thác mạnh mẽ các nguồn lực xã hội còn tiềm ẩn, lượng

vốn lớn được huy động vào sản xuất kinh doanh thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã

hội, sản xuất khối lượng sản phẩm lớn, đa dạng, phong phú đáp ứng nhu cầu ngày

càng cao của xã hội (Tỷ trọng đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tổng

vốn đầu tư xã hội của cả nước năm 2004 ước đạt 32-37%, Phú Thọ đạt khoảng 2730%). Các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã cung cấp cho xã hội khối lượng hàng hóa

đáng kể, đáp ứng tốt các nhu cầu nhỏ bé của thị trường. Năm 2006, DNNVV ở

nước ta tạo ra hơn 45% giá trị sản lượng công nghiệp và chiếm 73% giá trị của

công nghiệp địa phương, chiếm 81% tổng mức bán lẻ, 61% tổng lượng vận

chuyển hàng hóa…

Mặt khác, doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng với các doanh nghiệp lớn tạo nên

hệ thống doanh nghiệp đồng bộ. Một bộ phận doanh nghiệp nhỏ và vừa đã thay

thế xứng đáng một số vị trí của các doanh nghiệp lớn, ở những lĩnh vực mà doanh

nghiệp lớn chưa vươn tới, hoặc kinh doanh không hiệu quả, doanh nghiệp nhỏ và

vừa còn đóng vai trò là các xí nghiệp vệ tinh cung cấp nguyên liệu và tiêu dùng

sản phẩm cho doanh nghiệp lớn, góp phần từng bước đưa nền kinh tế phát triển

cân đối, đồng bộ, nhất là trên lĩnh vực thương mai, tiêu thụ nơng lâm sản, hàng

hóa, ăn uống, sơ chế ngun liệu cho cơng nghiệp chế biến, góp phần tạo sức

mạnh tổng lực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, theo hướng tăng trưởng công

nghiệp dịch vụ (Theo nguồn số liệu của bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2006 cả

nước có khoảng 83% doanh nghiệp nhỏ và vừa kinh doanh lĩnh vực thương mại,

sửa chữa; ở Phú Thọ khoảng 84-86%). Các DNNVV với đặc trưng tinh gọn, nhỏ

lẻ, năng động, hoạt động trong các phân đoạn thị trường nhỏ lẻ riêng biệt và đặc

biệt là rất am hiểu thị trường đã hỗ trợ đắc lực cho các doanh nghiệp lớn trong



Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



16



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



việc tiếp cận thị trường, cân đối khả năng cung cầu cho thị trường. DNNVV là

những đối tác vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn cung cấp cho các doanh nghiệp

lớn các sản phẩm đầu vào hay tham gia chế tác, gia công các sản phẩm trong chu

kỳ hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp lớn, làm tăng tính chuyên mơn hóa

sản xuất, tăng khả năng hoạt động của các doanh nghiệp trên thị trường.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo môi trường cạnh tranh thúc đẩy sản xuất kinh

doanh phát triển có hiệu quả hơn. Sự tham gia của rất nhiều doanh nghiệp nhỏ và

vừa vào sản xuất kinh doanh làm cho số lượng chủng loại hàng hóa dịch vụ trong

nền kinh tế tăng lên rất nhanh chóng. Kết quả là làm tăng tính chất cạnh tranh trên

thị trường, tạo ra sức ép lớn buộc các doanh nghiệp phải thường xuyên tự đổi mới,

giảm chi phí, tăng chất lượng để thích ứng với mơi trường mới. Những yếu tố đó

tác động lớn làm cho nền kinh tế năng động, hiệu quả hơn.

Với đặc điểm nhạy bén, biết tận dụng thời cơ, bộ máy tổ chức gọn nhẹ, tổ

chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả, hoạt động hồn tồn vì mục tiêu lợi nhuận,

doanh nghiệp nhỏ và vừa đã khắc phục được các nhược điểm của các doanh

nghiệp lớn. Việc tiếp nhận, chuyển tải thông tin, xử lý thông tin, đưa ra quyết định

cuối cùng được giải quyết nhanh chóng, không phải qua nhiều khâu, nhiều tầng

nấc, đã giúp họ điều tiết linh hoạt, thích ứng nhanh qua với yêu cầu của thị trường,

nên các cơ hội sản xuất kinh doanh của họ đã được tận dụng khá triệt để và mang

lại hiệu quả cao.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa khai thác và phát huy tốt các nguồn lực và tiềm

năng tại chỗ của các địa phương, các nguồn tài chính của dân cư các vùng. Hiện

nay, theo đánh giá: Tiềm năng trong dân còn rất lớn chưa được khai thác như tiềm

năng về trí tuệ, tay nghề tinh xảo, lao động, vốn, điều kiện tự nhiên, bí quyết nghề,

quan hệ huyết thống, làng nghề với những hương ước nghề nghiệp (Hiện cả nước

có khoảng 1800 làng nghề, trong đó 2/3 là làng nghề truyền thống). Việc phát triển



Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



17



Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368



doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các ngành nghề truyền thống trong nông nghiệp hiện

nay là một trong những hướng quan trọng để sử dụng tay nghề tinh xảo của các

nghệ nhân mà hiện nay đang có xu hướng mai một dần, đồng thời thu hút lao động

nông nghiệp phát huy lợi thế từng vùng, nhằm phát triển KT-XH.

Sự ra đời và phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa đã giải quyết việc làm

cho một bộ phận lao động xã hội, nhất là trong lĩnh vực sản xuất các ngành nghề

thủ cơng, ngành nghề truyền thống, đóng vai trò khơng nhỏ trong việc khắc phục

tình trạng thiếu việc làm, nhất là ở khu vực nông thôn, các khu cơng nghiệp, đơ

thị, lao động dơi dư, có tác dụng làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát

triển tỷ trọng công nghiệp- dịch vụ ngày càng tăng. Với đặc tính của mình, các

doanh nghiệp nhỏ và vừa đã giải quyết được nhiều việc làm với chi phí thấp (Chi

phí trung bình để tạo ra một chỗ việc làm chỉ băng 1/5-1/7 so với doanh nghiệp

lớn). Các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng thu hút thêm đông đảo lực lượng

lao động xã hội, tiêu thụ khối lượng nguyên liệu lớn trong nông nghiệp, lâm

nghiệp và thu về khối lượng ngoại tệ đáng kể cho đất nước, nhiều vùng nguyên

liệu, nhiều ngành nghề, làng nghề truyền thống trước đây bị lãng quên nay được

vực dậy và phát triển( Phú Thọ là các ngành cơ khí nhỏ, đan lát, màng tre trúc xuất

khẩu), thu nhập cho người lao động đã tăng lên rõ rệt, tỷ lệ GDP đóng góp cho

kinh tế ngày một tăng, điều đó càng khẳng định vai trò, vị trí khơng thể thiếu của

các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các địa phương. Về số lượng doanh nghiệp,

DNNVV chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh

(theo tiêu chí xác định DNNVV thì số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa thường

chiếm tỷ lệ từ 90-97% tổng số doanh nghiệp trong nền kinh tế). DNNVV thu hút

lượng lao động lớn của toàn xã hội, thường chiếm tỷ trọng lớn 60-85% tổng lao

động toàn xã hội.



Sinh viên: Bùi Vinh Quang



Lớp: Kế hoạch – 46A



18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương I: Doanh nghiệp nhỏ và vừa và sự cần thiết có chính sách, cơ chế hỗ trợ phát triển DNNVV.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×