Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: CÁC NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁ DẦU VÀ NỀN KINH TẾ

CHƯƠNG 2: CÁC NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁ DẦU VÀ NỀN KINH TẾ

Tải bản đầy đủ - 0trang

7



(1996). Từ đó, ơng cho rằng sự biến động ngược chiều của giá dầu và hoạt động

kinh tế vĩ mô không phụ thuộc vào cấu trúc thị trường.

Bằng cách sử dụng dữ liệu từ 12 bảng khảo sát trong National Longitudinal

Survey of Young Men giai đoạn 1996 – 1981, Keane và Prasad (1996) nhận thấy

giá dầu tăng 19% sẽ làm sản lượng thực tế giảm khoảng 3-4% trong dài hạn. Ơng

phân nhóm lực lượng lao động theo trình độ kỹ năng và tìm tác động của giá dầu

lên từng nhóm. Theo đó, giá dầu tăng sẽ làm giảm tiền lương tuyệt đối của tất cả lao

động, tuy nhiên lại dẫn đến sự gia tăng đáng kể tiền lương tương đối của những

nhân cơng trình độ cao. Điều này hàm ý chất lượng nhân sự có thể bù đắp cho cú

sốc về năng lượng trong nhiều ngành công nghiệp.

Lee và Ni (2002), ứng dụng mơ hình VAR với số liệu của ngành công nghiệp

Mỹ giai đoạn 1959 – 1997 để đánh giá tác động của cú sốc giá dầu lên các ngành

công nghiệp khác nhau. Nghiên cứu cho thấy những cú sốc như vậy sẽ tác động lên

cả hai mặt cung và cầu của các ngành công nghiệp, giá dầu tăng sẽ làm giảm sản

lượng cung ở những ngành công nghiệp mà dầu chiếm tỷ trọng lớn trong nguyên

liệu đầu vào, ví dụ như ngành lọc dầu hoặc hóa chất, và đồng thời làm giảm sản

lượng cầu ở những ngành công nghiệp khác, ví dụ như cơng nghiệp sản xuất ơ tô.

Rogoff (2006) lập luận rằng, so với thập kỷ trước, việc sử dụng năng lượng hiệu

quả hơn, mức độ tiêu thụ dầu nhiều hơn, vận dụng chính sách tiền tệ tốt hơn, thâm

nhập thị trường tài chính sâu hơn và thị trường lao động linh hoạt hơn đã làm suy

yếu sức ảnh hưởng của cú sốc giá dầu.

Trong các nghiên cứu gần đây, Lippi và Nobili (2010) nghiên cứu những cú sốc

cấu trúc (giá dầu, chỉ số sản lượng công nghiệp và các biến kinh tế vĩ mô khác) trên

số liệu của Mỹ. Sử dụng mơ hình SVAR cho dữ liệu giai đoạn 1973 – 2007 ở Mỹ,

hai ông cho thấy cú sốc về mặt cung của dầu làm giảm sản lượng của các ngành

công nghiệp trong khi cú sốc về mặt cầu có tác động đồng biến lên GDP.

Một vài nghiên cứu cũng được thực hiện để tìm hiểu mối quan hệ giữa giá dầu

và hoạt động kinh tế vĩ mô cho các nước ASEAN. Sử dụng dữ liệu giai đoạn quý 1



8



năm 1975 – quý 2 năm 2002, Cunado và Gracia (2005) nghiên cứu mối quan hệ

giữa giá dầu và hoạt động kinh tế cũng như chỉ số giá ở một số nước ASEAN (Nhật,

Singapore, Hàn Quốc, Malaysia, Thái Lan và Philippines). Nhóm tác giả khơng tìm

thấy mối liên hệ đồng liên kết trong dài hạn. Trong ngắn hạn, giá dầu có mối quan

hệ nhân quả Granger với tốc độ tăng trưởng kinh tế ở Nhật, Hàn Quốc và Thái Lan.

Kết quả thực nghiệm cũng dường như cho thấy tác động của cú sốc giá dầu là khác

biệt giữa những nước nhập khẩu dầu mỏ và các nước xuất khẩu dầu mỏ. Jin (2008)

báo cáo việc tăng giá dầu có tác động nghịch biến đến phát triển kinh tế tại Nhật

Bản, Trung Quốc và có tác động đồng biến lên tăng trưởng tại Nga. Du và cộng sự

(2010) tìm hiểu mối quan hệ giữa giá dầu thế giới và hoạt động kinh tế vĩ mô Trung

Quốc dựa trên số liệu từ giai đoạn tháng 1 năm 1995 đến tháng 12 năm 2008, sử

dụng mơ hình tự hồi quy vectơ (VAR). Kết quả của nghiên cứu cho thấy giá dầu thế

giới tác động đáng kể lên hoạt động kinh tế của Trung Quốc.



9



2.2. Các nghiên cứu về độ mạnh của cú sốc giá dầu đến các biến kinh tế vĩ mơ

Một trong những cơng trình đầu tiên là Burbidge và Harrison (1984). Bằng cách

sử dụng phương pháp VAR, họ đã chứng minh được rằng tác động của giá dầu có

ảnh hưởng ngược chiều lên các biến kinh tế vĩ mô ở các nước OECD. Tuy nhiên, họ

cho thấy cú sốc giá dầu 1973 – 1974 thì khác với giai đoạn 1979 – 1980. Trong giai

đoạn 1973 – 1974 ảnh hưởng của giá dầu lên các biến kinh tế vĩ mô thực sự lớn.

Những nghiên cứu tương tự được thực hiện bởi Blanchard và Gali (2007).

Trong bài viết của mình, hai tác giả tranh luận rằng cú sốc giá dầu của thập niên 70

và thập niên 2000 thì khác nhau bởi vì so với những năm 70 thì trong giai đoạn

2000:

 Thiếu những cú sốc lớn khác xảy ra đồng thời với cú sốc giá dầu;

 Tỷ trọng của dầu trong sản xuất và tiêu dùng giảm;

 Mức độ cứng nhắc của tiền lương thực tế giảm;

 Chính sách tiền tệ được cải thiện hơn.

Theo bài nghiên cứu thì bởi vì bốn lý do trên mà tác động của những cú sốc giá

dầu mỏ trong thập niên 2000 có phần nhỏ hơn so với thập niên 70.

Bohi (1991) trình bày một báo cáo về vai trò của cú sốc giá dầu tới sự suy thối

trong thập niên 1970. Theo đó, ông cho rằng không có mối quan hệ giữa mức biến

động năng lượng và các hoạt động sản xuất công nghiệp của bốn nước cơng nghiệp.

Ơng đề nghị rằng chính sách tiền tệ thắt chặt mới có thể là cách giải thích hợp lý.

Theo cùng hướng nghiên cứu, Hooker (1996) sử dụng kiểm định nhân quả

Granger và cho kết quả rằng khơng có mối quan hệ tuyến tính hay quan hệ không

đối xứng giữa giá dầu và các biến kinh tế vĩ mơ. Ơng xem giá dầu như một biến

ngoại sinh, từ đó ơng cho kết quả khơng có mối quan hệ nhân quả giữa giá dầu và

nhiều chỉ số vĩ mô của Mỹ sau năm 1973 mặc dù trước năm 1973 có những kết quả

khác.

Tuy nhiên, trong một nghiên cứu khác mà Hooker là một đồng tác giả (Carruth

và cộng sự 1998) chỉ ra giá dầu thực có mối quan hệ nhân quả với thất nghiệp ở



10



Mỹ. Cùng phương pháp nghiên cứu với Hooker (1996), Segal (2007) cho rằng

nguyên nhân quan trọng nhất khiến giá dầu ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mơ là

thơng qua chính sách tiền tệ, khi giá dầu truyền dẫn vào lạm phát cơ bản, những nhà

làm chính sách sẽ tăng lãi suất, làm giảm đi tăng trưởng kinh tế.

Sử dụng phương pháp Markov swiching, Raymond và Rich (1997) chứng minh

rằng sự tăng ròng trong giá dầu mỏ góp phần làm chậm tốc độ tăng trưởng GDP của

Mỹ trong giai đoạn 1973 – 1975 và 1980, tuy nhiên đây không phải là yếu tố quyết

định.

Sử dụng phương pháp VAR với dữ liệu về việc làm ở Mỹ giai đoạn 1972 –

1988, Davis và Haltiwanger (2001) nhận thấy cú sốc giá dầu tăng có tác động mạnh

gấp đôi đến tăng trưởng việc làm so với cú sốc chính sách tiền tệ. Cụ thể, cú sốc giá

dầu năm 1973 đã làm giảm 8% tăng trưởng việc làm khu vực sản xuất trong hai

năm. Hai ơng còn nhận thấy tác động bất cân xứng của cú sốc giá dầu đến việc làm:

mức độ giảm tăng trưởng việc làm khi giá dầu tăng lớn gấp 10 lần mức độ tăng việc

làm khi giá dầu giảm. Kết quả này cùng với những nghiên cứu của Mork (1989),

Mory (1993), Lee và cộng sự (1995), Hamilton (1996) và Hooker (1996) đã cho

thấy những bằng chứng vững chắc về tác động bất cân xứng của giá dầu (khi giá

dầu tăng và khi giá dầu giảm) đến nền kinh tế Mỹ.

Hầu hết các bài nghiên cứu dựa trên số liệu của Mỹ, nhưng cũng có khá nhiều

các bài nghiên cứu sử dụng số liệu của các quốc gia khác.

Bjornland (2000) nghiên cứu ảnh hưởng động của tổng cầu, tổng cung và giá

dầu cho chuỗi số liệu lấy từ Mỹ, Anh, Đức, Thụy Điển và cung cấp một kết quả

thực nghiệm rằng giá dầu có tác động nghịch biến trong mối quan hệ với GDP

ngoại trừ Thụy Điển.

Cunado và Gracia (2003) nghiên cứu hành vi của giá dầu và thay đổi của GDP

ở một vài nước châu Âu bằng cách sử dụng phương pháp VAR. Mặc dù ở những

nước khác nhau thì kết quả thể hiện khác nhau, nhưng bài nghiên cứu cũng cho thấy



11



một kết quả thực nghiệm rằng giá dầu có tác động nghịch biến đến hoạt động kinh

tế vĩ mơ nói chung.

Cologoni và Manera (2009) sử dụng những mơ hình “regime switching” khác

nhau cho các nước G7, họ tìm ra kết quả vai trò của những cú sốc dầu trong những

kịch bản suy thoái khác nhau qua thời gian.

Lescaroux và Mignon (2009) sử dụng phương pháp vectơ tự hồi quy Factor –

Augmented, từ những nghiên cứu của mình họ đã kết luận rằng giữa giá dầu, CPI,

PPI và lãi suất có mối quan hệ đồng biến và giữa giá dầu và sản lượng, tiêu dùng và

đầu tư có mối quan hệ nghịch biến ở Trung Quốc.

Tang và cộng sự (2010) nghiên cứu tác động ngắn hạn và dài hạn của giá dầu ở

Trung Quốc, sử dụng mơ hình cấu trúc tự hồi quy véc tơ (SVAR), họ cho thấy giá

dầu tăng có tác động nghịch biến lên sản lượng và đầu tư nhưng có tác động đồng

biến lên lạm phát và lãi suất.



12



2.3. Các nghiên cứu về tác động bất đối xứng của cú sốc giá dầu

Giá dầu tăng thường đi kèm với sản lượng thấp hơn, nhưng giá dầu giảm lại

không dẫn đến tăng trưởng sản lượng cao hơn. Nguyên nhân của sự bất đối xứng

này là do hiệu ứng tái phân bổ và chi phí điều chỉnh (Hamilton, 1996). Thứ nhất, giá

dầu tăng dẫn đến sự thu hẹp tổng cung khi các công ty cắt giảm sản lượng để đối

phó với chi phí đầu vào cao hơn và điều này cũng có thể dẫn đến tổng cầu thấp hơn

do tâm lý bất an của khách hàng khi ra quyết định đầu tư hay mua sắm hàng hóa lâu

bền. Đồng thời giá dầu cao cũng dẫn đến việc tái phân bổ của nền kinh tế về nguồn

năng lượng, từ lĩnh vực năng lượng nhạy cảm sang lĩnh vực năng lượng hiệu quả.

Tất cả các nhân tố này tạo nên hiệu ứng kết hợp làm chậm đà tăng trưởng kinh tế.

Trong khi đó, giá dầu giảm kích thích sản xuất ở các cơng ty và chi tiêu ở hộ gia

đình, nhưng việc tái phân bổ khu vực theo hướng ngược lại sẽ làm giảm tăng trưởng

kinh tế. Thêm vào đó, do tính cứng nhắc của tiền lương danh nghĩa (vốn đã được

điều chỉnh tăng sau khi giá dầu cao) gây ra chi phí điều chỉnh trên thị trường lao

động, nghĩa là tiền lương danh nghĩa sẽ khơng giảm và chi phí sản xuất vẫn cao.

Hiệu ứng kết hợp của tất cả những nhân tố này cho thấy giá dầu giảm sẽ không làm

gia tăng sản lượng.

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh cho thấy những tác động bất đối xứng của giá

dầu đến nền kinh tế - những ảnh hưởng khác nhau khi giá dầu tăng hoặc giảm.

Hamilton (1988) cho rằng chi phí điều chỉnh đối với sự thay đổi giá dầu là nguyên

nhân của sự bất đối xứng. Các chi phí điều chỉnh đối với sự thay đổi giá dầu làm

chậm trễ hoạt động kinh tế. Đồng thời, giá dầu giảm có tác động kích thích nền kinh

tế, trong khi giá dầu tăng gây cản trở nền kinh tế. Chính vì vậy, giá dầu tăng sẽ gây

ra trở ngại cho tăng trưởng kinh tế, trong khi giá dầu giảm tạo ra hiệu ứng bù trù

giữa tác động tích cực và tiêu cực. Tác giả còn nhận định rằng giá dầu tăng có ảnh

hưởng quan trọng hơn so với giá dầu giảm và sự thay đổi của giá dầu trong một thị

trường biến động sẽ làm cho việc dự báo tăng trưởng GDP trở nên khó khăn hơn.

Cunado và Gracia (2003) đã nghiên cứu ảnh hưởng của cú sốc giá dầu đến sản

lượng công nghiệp và các chỉ số tiêu dùng ở 14 nước Châu Âu và phát hiện ra rằng



13



giá dầu có ảnh hưởng lâu dài đến lạm phát và ảnh hưởng ngắn hạn nhưng bất đối

xứng đến tỷ lệ tăng trưởng sản xuất. Jimenez-Rodriguez và Sanchez (2005) đã sử

dụng mô hình VAR để khám phá mối quan hệ giữa giá dầu và tăng trưởng GDP.

Nghiên cứu đưa ra bằng chứng về ảnh hưởng phi tuyến của giá dầu lên các hoạt

động kinh tế thực, bởi giá dầu tăng có các tác động khác đến sản lượng thực so với

khi giá dầu giảm. Huang, Hwang và Hsiao-Ping Peng (2005) lại ứng dụng mơ hình

ngưỡng đa biến để tìm hiểu ảnh hưởng của sự thay đổi và biến động giá dầu đến các

hoạt động kinh tế (sản lượng công nghiệp và tỷ suất sinh lợi thực của cổ phiếu) ở

Mỹ, Nhật, Canada từ năm 1970 đến 2002. Các tác giả chỉ ra rằng mức ngưỡng thay

đổi tùy theo mức độ lệ thuộc của một quốc gia vào dầu nhập khẩu và trình độ công

nghệ hướng đến tiết kiệm năng lượng, một sự thay đổi hay biến động giá dầu có ảnh

hưởng hạn chế đến những nền kinh tế này nếu sự thay đổi nằm dưới các mức

ngưỡng.

Cũng sử dụng dữ liệu của Mỹ, Lian An và cộng sự (2014) ứng dụng mô hình

FAVAR phi tuyến và hàm phản ứng đẩy IRF để phân biệt cú sốc dương và cú sốc

âm, nghiên cứu kiểm tra ảnh hưởng bất đối xứng của cú sốc giá dầu đến hoạt động

kinh tế thực của Mỹ. Kết quả cho thấy tác động tiêu cực của giá dầu tăng là lớn hơn

tác động tích cực của giá dầu giảm và ảnh hưởng bất đối xứng rõ rệt hơn khi có cú

sốc giá dầu lớn.

Nhiều nghiên cứu khác cũng có cùng kết luận rằng giá dầu tăng gây ảnh hưởng

bất lợi đến mức độ phát triển kinh tế nhiều hơn so với hiệu ứng có lợi của giá dầu

giảm, như: Hamilton (2003), Jones và Leiby (1996), Davis và Haltiwanger (2001),

Hooker (2002). Một số nghiên cứu đã đưa ra nguyên nhân lý giải cho ảnh hưởng bất

đối xứng này.

Bohi (1989, 1991), Bernanke và cộng sự (1997) cho rằng chính sách tiền tệ là

một nguyên nhân gây ra ảnh hưởng bất đối xứng. Khi giá dầu tăng ảnh hưởng đến

lạm phát, ngân hàng trung ương có khả năng sẽ sử dụng chính sách tiền tệ thắt chặt

để phản ứng lại điều này và do đó chính sách tiền tệ đã góp phần làm gia tăng ảnh

hưởng tiêu cực đối với tăng trưởng kinh tế cùng với tác động bất lợi của giá dầu



14



cao. Balke và cộng sự (2002) cũng khẳng định rằng chính sách tiền tệ và chi phí

điều chỉnh là nguyên nhân dẫn đến ảnh hưởng bất đối xứng.

Các nghiên cứu khác về ảnh hưởng bất đối xứng của giá dầu (Davis, 1987,

Hooker, 1996, Mork, 1989, 1994, Mork và cộng sự, 1994, Lee và cộng sự, 1995,

Ferderer, 1996, Davis và Haltiwanger, 2001, Cunado và Gracia, 2005) cũng cho

thấy sản lượng phản ứng bất đối xứng với cú sốc giá dầu. Nguyên nhân chủ yếu dẫn

đến sự bất đối xứng là khi có một cú sốc giá dầu tăng cao, cơng nghệ mới tiết kiệm

dầu hay việc sử dụng các nguồn nguyên liệu thay thế sẽ được phát triển và ứng

dụng. Nhưng khi giá dầu giảm, các công ty sẽ không từ bỏ ngay lập tức các khoản

đầu tư này nhằm giảm thiểu chi phí chìm và do đó giá dầu giảm sẽ ít gây ảnh hưởng

đến nền kinh tế so với khi giá dầu tăng.

Về các nước xuất khẩu dầu, Berument và Ceylan (2005) cũng cho thấy ảnh

hưởng bất đối xứng của cú sốc giá dầu đến sản lượng của các quốc gia Trung Đông

và Bắc Phi, bao gồm Iran. Iwayemi và Fowowe (2011) nghiên cứu trường hợp

Nigeria, cho thấy các cú sốc dương và tuyến tính của giá dầu khơng có ảnh hưởng

đáng kể đến các biến kinh tế vĩ mơ như chi tiêu Chính phủ, lạm phát và tỷ giá thực.

Kết quả kiểm định ủng hộ cho ảnh hưởng bất đối xứng của cú sốc giá dầu bởi các

tác giả phát hiện rằng cú sốc giá dầu âm ảnh hưởng có ý nghĩa đến sản lượng và tỷ

giá thực. Trong khi đó, kiểm định ảnh hưởng bất đối xứng của các cú sốc giá dầu

đến nền kinh tế Iran, các tác giả Farzanegan và Markwardt (2009) lại tìm thấy tương

quan dương mạnh giữa giá dầu tăng và tăng trưởng sản lượng công nghiệp. Eltony

và Al-Awadi (2001) cho thấy ảnh hưởng bất đối xứng của cú sốc giá dầu có ý nghĩa

quan trọng trong việc giải thích sự biến động của kinh tế vĩ mô ở Kuwait thông qua

chi tiêu Chính phủ.

Rất ít nghiên cứu lựa chọn mẫu quan sát là các quốc gia Châu Á. Raguindin và

Reyes (2005) phân tích ảnh hưởng bất đối xứng của giá dầu ở Philippines trong giai

đoạn 1981 đến 2003 bằng mơ hình VAR bất đối xứng, cho thấy cú sốc giá dầu tăng

làm sụt giảm GDP thực ở Philippines về lâu dài. Ngược lại, giá dầu giảm có vai trò

đối với sự dao động của mỗi biến số lớn hơn là khi giá dầu tăng. Du và cộng sự



15



(2010) nghiên cứu mối quan hệ giữa giá dầu thế giới và kinh tế vĩ mơ Trung Quốc,

cho thấy giá dầu thế giới có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát, mối

quan hệ là phi tuyến. Ngược lại, các hoạt động kinh tế Trung Quốc không ảnh

hưởng đến giá dầu thế giới, nghĩa là giá dầu thế giới vẫn là ngoại sinh và Trung

Quốc khơng có sức mạnh định giá trên thị trường dầu thế giới.

Gần đây, nghiên cứu của Elder và Serletis (2010), Naifar và Dohaiman (2013),

Jo (2014) đã tìm ra mối quan hệ phi tuyến giữa giá dầu, lãi suất và lạm phát ở một

số quốc gia. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này tập trung vào trường hợp của

Mỹ và các nước Châu Âu mà chưa chú trọng đến vai trò ngày càng gia tăng của các

quốc gia Châu Á trên thị trường dầu thế giới.

Những nghiên cứu trên nhìn chung cho thấy được ảnh hưởng quan trọng của

các cú sốc giá dầu đến tổng thể nền kinh tế vĩ mô thông qua các chỉ tiêu như GDP,

lạm phát, việc làm, đầu tư và thâm hụt ngân sách. Đặc biệt, tác động của biến động

giá dầu đến nền kinh tế dường như là bất đối xứng, trong đó tác động tiêu cực của

giá dầu tăng là lớn hơn so với tác động tích cực khi giá dầu giảm. Tuy nhiên, hầu

hết các nghiên cứu được thực hiện với mẫu quan sát là các quốc gia phát triển, đặc

biệt là Mỹ.



16



2.4. Các kênh truyền dẫn của cú sốc giá dầu đến các biến kinh tế vĩ mô

Theo Brown và Yucel (2002) thì tác động của sự thay đổi giá dầu lên các biến

kinh tế vĩ mô thông qua các kênh truyền dẫn chính như sau:

2.4.1 Cú sốc lên nguồn cung

Sự gia tăng giá dầu có thể được xem là một chỉ báo cho một cú sốc nguồn cung

làm giảm sản lượng tiềm năng, như trong nghiên cứu của Rasche và Tatom (1977

và 1981), Barro (1984) và Brown và Yucel (1999). Sự gia tăng này báo hiệu sự

khan hiếm của nguồn năng lượng vốn được xem là nguyên liệu đầu vào cơ bản của

sản xuất. Do đó, tốc độ tăng trưởng sản lượng và năng suất sẽ sụt giảm, điều này

dẫn đến giảm mức tăng lương thực và tăng tỷ lệ thất nghiệp.

Nếu người dân nhìn nhận đây là một cú sốc ngắn hạn, họ sẽ giữ ổn định chi tiêu

bằng cách tiết kiệm ít hơn và tăng vay mượn, điều này làm tăng lãi suất thực cân

bằng. Tăng trưởng sản lượng chậm lại, lãi suất thực tăng sẽ làm giảm lượng cầu đối

với số dư tiền mặt thực tế, và với mức tăng trưởng cung tiền nhất định, tỷ lệ lạm

phát sẽ tăng. Như vậy, giá dầu tăng sẽ làm giảm tăng trưởng GDP, làm tăng lãi suất

thực và nguy cơ lạm phát.

Nếu tiền lương danh nghĩa khó thay đổi theo hướng giảm đi, sự suy giảm trong

tăng trưởng GDP sẽ làm tăng tỷ lệ thất nghiệp và làm tăng trưởng GDP giảm hơn

nữa – nếu lạm phát tương lai không bằng đúng mức sụt giảm trong tăng trưởng. Sự

suy giảm ban đầu trong tăng trưởng GDP đi cùng với sự sụt giảm trong năng suất

lao động. Nếu mức giảm tiền lương thực không bằng mức giảm trong năng suất lao

động, doanh nghiệp sẽ cắt giảm nhân công, làm tăng tỷ lệ thất nghiệp và giảm GDP.

Điều này gây áp lực làm tăng lạm phát.



17



2.4.2 Hiệu ứng chuyển giao thu nhập và tổng cầu

Cú sốc giá dầu có thể tác động đến hoạt động kinh tế thông qua hiệu ứng

chuyển giao sức mua từ những nước nhập khẩu dầu thô sang những nước xuất khẩu

dầu thô khi giá dầu tăng, như trong nghiên cứu của Fried và Schulze (1975) và

Dohner (1981). Sự tăng giá dầu sẽ chuyển giao thu nhập từ các nước nhập khẩu dầu

thô sang các nước xuất khẩu dầu thô, điều này làm giảm cầu tiêu dùng ở nước nhập

khẩu và tăng cầu ở nước xuất khẩu, tuy nhiên mức độ tăng lại ít hơn, điều này làm

tổng cầu của cả thế giới đối với sản phẩm của nước nhập khẩu giảm, làm tăng cung

tiết kiệm. Cung tiết kiệm tăng gây áp lực giảm lãi suất thực, và mức giảm này có thể

lấn át mức tăng lãi suất thực do người tiêu dùng ổn định chi tiêu. Lãi suất giảm sẽ

kích thích đầu tư, điều này sẽ bù đắp cho mức giảm trong tiêu dùng, vì vậy tổng cầu

khơng thay đổi ở các nước nhập khẩu dầu thơ.

Tuy nhiên, nếu giá cả khó điều chỉnh giảm, sự sụt giảm trong tiêu dùng hàng

hóa sản xuất ở những nước nhập khẩu dầu mỏ sẽ làm tăng trưởng GDP giảm hơn

nữa. Tiêu dùng giảm sẽ tạo áp lực làm giá giảm về điểm cân bằng mới. Nếu giá

không giảm, mức giảm trong tiêu dùng sẽ lớn hơn mức tăng trong đầu tư. Do đó,

tổng cầu sẽ giảm làm tăng trưởng GDP toàn cầu giảm thêm. Tuy nhiên, theo

Horwich và Weimer (1984), ngay cả khi giá không giảm thì tăng trưởng GDP cũng

khơng giảm theo, do chính sách tiền tệ và/ hoặc chính sách tài khóa có thể được sử

dụng để kích cầu ở những quốc gia nhập khẩu dầu thô.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: CÁC NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁ DẦU VÀ NỀN KINH TẾ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×