Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2.: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC BÀI NGHIÊN CỨU TRƯỚC

CHƯƠNG 2.: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC BÀI NGHIÊN CỨU TRƯỚC

Tải bản đầy đủ - 0trang

9

nghiệp duy nhất tiến hành mà nó xem xét cả các mối liên kết ngược và xuôi cho đến

khi nguyên liệu thô được sản xuất, được kết nối đến người tiêu dùng cuối cùng.

Khái niệm chuỗi giá trị bao hàm cả các vấn đề về tổ chức và điều phối, các chiến

lược và quan hệ quyền lực của những người tham gia khác nhau trong chuỗi.

Khái niệm chuỗi giá trị (value chain) được Michaeếal Porter đưa ra lần đầu

vào năm 1985, ông cho rằng công cụ quan trọng của doanh nghiệp để tạo ra giá trị



Formatted: Indent: First line: 0.39", Space

Before: 6 pt, After: 6 pt



lớn hơn cho khách hàng chính là chuỗi giá trị.Về thực chất, đây là một tập hợp các

hoạt động nhằm thiết kế, sản xuất, bán hàng, giao hàng và hỗ trợ sản phẩm của

doanh nghiệp. Chuỗi giá trị bao gồm 9 hoạt động tương ứng về chiến lược tạo ra giá

trị cho khách hàng, trong đó, chia ra 5 hoạt động chính (cung ứng đầu vào, quá trình

sản xuất, phân phối sản phẩm, marketing - bán hàng và dịch vụ) và 4 hoạt động hỗ

trợ (quản trị tổng quát, quản trị nhân sự, phát triển cơng nghệ và hoạt động thu

mua). Tiếp đó, Kaplinsky và Morris (2006) mở rộng khái niệm và cho rằng: chuỗi

giá trị là nói đến một loạt những hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm (hoặc

một dịch vụ) từ lúc còn là ý tưởng, thơng qua các giai đoạn sản xuất khác nhau, đến

khi phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng và loại bỏ sau khi đã sử dụng. Một khái

niệm liên quan tới chuỗi giá trị là chuỗi cung ứng (supply chain) xuất hiện từ những

năm 60 của thế kỉ XX. Chuỗi cung ứng là sự liên kết các công ty nhằm đưa sản

phẩm hay dịch vụ vào thị trường (Lambert và Cooper, 2000).

Một cách khái quát “Chuỗi giá trị” có nghĩa là:



Formatted: Indent: First line: 0.39", Space

After: 6 pt



- Một chuỗi các quá trình sản xuất (các chức năng) từ cung cấp các đầu vào cho



Formatted: Condensed by 0.2 pt



một sản phẩm cụ thể tới sản xuất sơ bộ, chế biến, marketing và tiêu thụ cuối cùng.

- Sự sắp xếp có tổ chức, kết nối và điều phối nhà sản xuất, thương gia và nhà

phân phối liên quan đến một sản phẩm cụ thể.

- Một mô hình kinh tế trong đó kết nối việc lựa chọn sản phẩm và cơng nghệ

thích hợp, với cách thức tổ chức các đối tượng liên quan để tiếp cận thị trường.

Có ba luồng nghiên cứu chính về khái niệm chuỗi giá trị:



7



10

- Phương pháp filiere

- Khung khái niệm do Porter lập ra (1985)

- Phương pháp toàn cầu do Kaplinsky đề xuất (1999), Gereffi (1994; 1999;

2003), Gereffi và Korzeniewics (1994).

Phương pháp chuỗi giá trị chủ yếu là một công cụ mô tả để xem xét các tương tác



Formatted: Condensed by 0.3 pt



giữa những người tham gia khác nhau. Là một công cụ có tính mơ tả, nó có những lợi thế

khác nhau ở chỗ nó buộc người phân tích phải xem xét cả các khía cạnh vi mơ và vĩ mơ

trong các hoạt động sản xuất và trao đổi. Phân tích trên các cơ sở các hàng hố có thể cho

biết nhiều hơn về cơ cấu tổ chức và chiến lược của những người tham gia khác nhau.





Phương pháp Filiere



Formatted: Indent: First line: 0.39"



Cách tiếp cận theo phương pháp “filière”– Phân tích ngành hàng CCA –

Commodity Chain Analysiscó các đặc điểm chính là: 1) tập trung vào những vấn đề



Formatted: Indent: First line: 0.39", Space

Before: 6 pt, After: 6 pt



của các mối quan hệ định lượng và vật chất trong chuỗi; 2) sơ đồ hóa các dòng chảy

của hàng hóa vật chất và 3) sơ đồ hóa các quan hệ chuyển dạng sản phẩm.Trong

phương pháp phân tích ngành hàng có hai đường lối phân tích chính. Đường lối thứ

nhất tập trung vào đánh giá kinh tế và tài chính, mà chủ yếu là tập trung vào phân

tích việc tạo ra thu nhập và phân phối thu nhập trong ngành hàng, tách chi phí và

thu nhập giữa các thành phần thương mại địa phương và quốc tế, và phân tích vai

trò của ngành hàng đối với nền kinh tế quốc gia và sự đóng góp của nó vào GDP.

Đường lối thứ hai tập trung vào phân tích chiến lược, đánh giá sự ảnh hưởng lẫn

nhau của các mục tiêu, sự ràng buộc và kết quả của từng tác nhân tham gia ngành

hàng; xây dựng các chiến lược cá nhân và tập thể.





Khung phân tích của Porter



Formatted: Indent: First line: 0.39"



Porter (1985) đã dùng khung phân tích chuỗi giá trị để đánh giá xem một cơng

ty nên tự định vị mình như thế nào trên thị trường và trong mối quan hệ với các nhà

cung cấp, khách hàng và các đối thủ cạnh tranh. Ý tưởng về lợi thế cạnh tranh của

một doanh nghiệp có thể được tóm tắt như sau: Một cơng ty có thể cung cấp cho

khách hàng một mặt hàng (hoặc dịch vụ) có giá trị tương đương với đối thủ cạnh

7



11

tranh của mình nhưng với chi phí thấp hơn (chiến lược giảm chi phí) như thế nào?

Cách khác là làm thế nào để một doanh nghiệp có thể sản xuất một mặt hàng mà

khách hàng muốn mua với giá cao hơn (chiến lược tạo sự khác biệt)?

Trong bối cảnh này, khái niệm chuỗi giá trị được sử dụng như một khung khái

niệm mà các doanh nghiệp có thể dùng để tìm ra các nguồn lợi thế cạnh tranh (thực

tế và tiềm tàng) của mình. Đặc biệt, Porter lập luận rằng các nguồn lợi thế cạnh

tranh khơng thể tìm ra nếu nhìn vào cơng ty như một tổng thể. Một công ty cần

được phân tách thành một loạt các hoạt động và có thể tìm thấy lợi thế cạnh tranh

trong một (hoặc nhiều hơn) những hoạt động đó. Porter phân biệt giữa các hoạt

động sơ cấp, trực tiếp góp phần tăng thêm giá trị cho sản xuất hàng hoá (hoặc dịch

vụ) và các hoạt động hỗ trợ có ảnh hưởng gián tiếp đến giá trị cuối cùng của sản

phẩm. Trong khung phân tích của Porter, khái niệm chuỗi giá trị không trùng với ý

tưởng về chuyển đổi vật chất.

Porter giới thiệu ý tưởng, theo đó tính cạnh tranh của một cơng ty khơng chỉ liên

quan đến quy trình sản xuất. Tính cạnh tranh của doanh nghiệp có thể phân tích bằng



Formatted: Condensed by 0.3 pt

Formatted: Condensed by 0.3 pt



cách xem chuỗi giá trị bao gồm thiết kế sản phẩm, mua vật tư đầu vào, hậu cần, hậu cần

bên ngoài, tiếp thị bán hàng, các dịch vụ hậu mãi và dịch vụ hỗ trợ như lập kế hoạch

chiến lược, quản lý nguồn nhân lực, hoạt động nghiên cứu...Do vậy trong khung phân

tích của Porter, khái niệm chuỗi giá trị chỉ áp dụng trong kinh doanh. Kết quả là phân

tích chuỗi giá trị chủ yếu nhằm hỗ trợ các quyết định quản lý và chiến lược điều hành.





Phương pháp tiếp cận tồn cầu



Gần đây nhất, khái niệm các chuỗi giá trị được áp dụng để phân tích tồn cầu

hố (Gereffi and Korzeniewicz1994; Kaplinsky 1999). Tài liệu này dùng khung

phân tích chuỗi giá trị để tìm hiểu các cách thức mà các cơng ty và các quốc gia hội

nhập toàn cầu và để đánh giá các yếu tố quyết định đến phân phối thu nhập toàn cầu

Kaplinsky và Morris (2001) quan sát được rằng trong q trình tồn cầu hóa khoảng

cách thu nhập trong và giữa các nước tăng lên.

Trong khuôn khổ chuỗi giá trị, các mối quan hệ thương mại quốc tế được coi là

một phần của các mạng lưới những nhà sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu và bán lẻ;

7



Formatted: Indent: First line: 0.39", Space

After: 6 pt



12

trong đó tri thức và quan hệ được phát triển để tiếp cận được các thị trường và các

nhà cung cấp. Trong bối cảnh này, sự thành công của các nước đang phát triển và của

những người tham gia thị trường ở các nước đang phát triển phụ thuộc vào khả năng

tiếp cận các mạng lưới này. Kaplinsky và Morris (2001) nhấn mạnh rằng không có

cách nào “đúng” để phân tích chuỗi giá trị mà phương pháp được chọn chủ yếu dựa

vào câu hỏi nghiên cứu đang tìm câu trả lời. Dù sao, bốn khía cạnh phân tích trong

chuỗi giá trị như được áp dụng trong nông nghiệp cũng rất đáng lưu ý.

Thứ nhất, ở mức độ cơ bản nhất, phân tích chuỗi giá trị bằng cách lập sơ đồ một

cách hệ thống các bên tham gia vào sản xuất, phân phối, tiếp thị và bán một hoặc

nhiều sản phẩm cụ thể. Việc lập sơ đồ này đánh giá các đặc điểm của những người

tham gia, cơ cấu lãi và chi phí, dòng hàng hóa trong chuỗi, đặc điểm việc làm, khối

lượng và điểm đến của hàng hóa được bán trong nước và nước ngồi

(KaplinskyvaMorris Kaplinsky và Morris 2001). Những chi tiết này có thể thu thập

được nhờ kết hợp điều tra thực địa, thảo luận nhóm tập trung, PRA, phỏng vấn thơng

tin và số liệu thứ cấp.

Thứ hai là phân tích chuỗi giá trị có vai trò trung tâm trong việc xác định sự

phân phối lợi ích của những người tham gia trong chuỗi.Có nghĩa là, phân tích lợi

nhuận và lợi nhuận biên trên một sản phẩm trong chuỗi để xác định ai được hưởng

lợi nhờ tham gia chuỗi và những người tham gia nào có thể được hưởng lợi nhờ

được tổ chức và hỗ trợ nhiều hơn. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh của

các nước đang phát triển (và đặc biệt là nông nghiệp), với những lo ngại rằng người

nghèo nói riêng dể bị tổn thương trước q trình tồn cầu hố (Kaplinsky va và

Morris 2001). Có thể bổ sung phân tích này bằng cách xác định bản chất việc tham

gia trong chuỗi để hiểu được các đặc điểm của những người tham gia.

Thứ ba, phân tích chuỗi giá trị có thể dùng để xác định vai trò của việc nâng

cấp trong chuỗi giá trị. Nâng cấp gồm cải thiện chất lượng và thiết kế sản phẩm

giúp nhà sản xuất thu được giá trị cao hơn hoặc đa dạng hóa dòng sản phẩm. Phân

tích q trình nâng cấp gồm đánh giá khả năng sinh lợi của các bên tham gia trong



7



Formatted: Condensed by 0.1 pt



13

chuỗi cũng như thông tin về các cản trở đang tồn tại, các vấn đề quản trị có vai trò

then chốt trong việc xác định những hoạt động nâng cấp đó diễn ra như thế nào?.

Ngồi ra cơ cấu của các quy định, rào cản gia nhập, hạn chế thương mại, các tiêu

chuẩn có thể tiếp tục tạo nên và ảnh hưởng đến môi trường mà các hoạt động nâng

cấp diễn ra.

Cuối cùng, phân tích chuỗi giá trị có thể nhấn mạnh vai trò của quản trị trong

chuỗi giá trị. Quản trị trong chuỗi giá trị nói đến cơ cấu các mối quan hệ và cơ chế

điều phối tồn tại giữa các bên tham gia trong chuỗi giá trị. Quản trị quan trọng từ

góc độ chính sách thông qua xác định các sắp xếp về thể chế có thể cần nhắm tới để

nâng cao năng lực trong chuỗi giá trị, điều chỉnh các sai lệch về phân phối và tăng

giá trị gia tăng trong ngành.

2.1.1.2.Quản trị chuỗi giá trị

Quản trị chuỗi là mối quan hệ giữa các bên tham gia và các cơ chế, thể chế mà

thơng qua đó các hoạt động điều phối phi thị trường được thực hiện (Humphrey &

Schmitz, 2002).

Gereffi,Humphrey và Timothy Sturgeon, trong nghiên cứu “Quản trị chuỗi giá

trị toàn cầu” đã đưa ra năm mơ hình quản trị: quản trị theo thị trường, quản trị theo

chuỗi giá trị mẫu, quản trị theo chuỗi giá trị quan hệ, quản trị theo chuỗi giá trị phụ

thuộc, và cuối cùng là quản trị theo cấp bậc.

Khi quá trình sản xuất đi vào giai đoạn chun biệt hố, cạnh tranh dựa

trêncác tiêu chí mới như chất lượng sản phẩm, truy xuất nguồn gốc sản phẩm,

antoàn vệ sinh thực phẩm … thì các hình thức quản trị mạng lưới (chuỗi giá trị mẫu,

chuỗi giá trị quan hệ, chuỗi giá trị phụ thuộc) sẽ trở nên quan trọng hơn. Quản trị

chuỗi theo cấp bậc đặc trưng của quản trị này là hội nhập theo chiều dọc xảy ra khi

chủ thể chủ đạo có khả năng kiểm sốt hoàn toàn rủi ro trong toàn chuỗi (thường

xảy ra trong cùng một công ty là quản trị từ quản lý đến nhân viên, từ công ty mẹ

đến công ty con). Trong khi quản trị theo thị trường là hình thức quản trị đơn giản,

cơ chế trung tâm là giá cả,thì các mối quan hệ phụ thuộc lại nói đến một hình thức

7



Formatted: Indent: First line: 0.39", Space

Before: 6 pt, After: 6 pt



14

quản trị trong đó những nhà cung cấp nhỏ phải lệ thuộc vào một công ty đầu mối

lớn hơn nhiều.

2.1.1.3. Bản đồ chuỗi giá trị và lập bản đồ chuỗi giá trị

Bản đồ chuỗi giá trị là một hình thức trình bày bằng hình ảnh (sơ đồ) vềcác tác



Formatted: Indent: First line: 0.39"



nhân (chủ thể) tham gia chuỗi giá trị, Sơ đồ chuỗi giá trị có thể cho thấy được toàn

bộ hệ thống từ khi khởi đầu đến khi tạo thành sản phẩm để giúp nhà quản lý, kỹ sư,

cơng nhân sản xuất, người lập chương trình, nhà cung cấp và khách hàng nhận ra sự

lãng phí và xác định nguyên nhân của nó từ đó đưa ra những chiến lược để cải tiến

phù hợp.

Bán lẻ (Điểm

BH cuối cùng



Người tiêu dùng



Formatted: Font: 11 pt



(Thị trường)



Formatted: Font: 11 pt



Người tiêu dùng

(Thị trường)Chế



Hoạt động

Thươngmại



Formatted: Font: 11 pt

Formatted: Font: 11 pt

Formatted: Font: 11 pt

Formatted: Font: 11 pt

Formatted: Font: 11 pt



Chuyển đổi



Người tiêu dùng



Formatted: Font: 11 pt



(Thị trường)Nậu,



Formatted: Font: 11 pt, English (U.S.)



Người tiêu dùng

(Thị trường)Thu



Formatted: Font: 11 pt

Formatted: Font: 11 pt, English (U.S.)

Formatted: Font: 11 pt

Formatted: Font: 11 pt

Formatted: Font: 11 pt, English (U.S.)



Sản xuất



Đầu vào cụ

thể



Người tiêu dùng



Formatted: Font: 11 pt



(Thị trường)nuôi



Formatted: Font: 11 pt



Người tiêu dùng



Formatted: Font: 11 pt



(Thị trường)Cung



Formatted: Font: 11 pt, English (U.S.)



Formatted: Font: 11 pt



Formatted: Font: 11 pt

Formatted: English (U.S.)

Formatted: English (U.S.)



7



15



Sơ đồ 1: Bản đồ chuỗi giá trị (Nguồn: Filière)

2.1.1.4. Người vận hành chuỗi giá trị

Người vận hành chuỗi là các chủ thể tham gia trong chuỗi. Đối với các chuỗi

giá trị thuỷ sản, những người vận hành điển hình là sản xuất (đánh bắt, hoặc ni trồng



Comment [TT1]: Chú ý: tại sao phía tay phải

khơng phải là các tác nhân khác nhau mà chỉ có

“người tiêu dùng (thị trường)”?



Formatted: Font: Bold

Formatted: English (U.S.)

Formatted: Condensed by 0.2 pt

Formatted: Space Before: 6 pt, After: 6 pt



thuỷ sản, hoặc kết hợp cả hai), chế biến, phân phối, tiếp thị và tiêu dùng cuối cùng.

2.1.1.5 Nội dung phân tích



Formatted: Font: Italic



Ngưưgn xuíchội dung t, hoặc nc đ xu tham gia trong chu h. Đố ham gia trong

chuhu hoặc nuôi trồng thuỷ sản, hoặc kếđi ham gia trs ham gia trong chu chuhu

hoặc nuôi trồng thuỷ sản, hoặc kết hợp cả hai), chế biến, phân phối, tiếp thị và tiêu

dùng cuối



Formatted: Font: Italic, Condensed by 0.2 p

Formatted: Indent: First line: 0.39", Space

Before: 6 pt, After: 6 pt



Formatted: Normal, Indent: First line: 0.39"

Formatted: Vietnamese

Formatted: Vietnamese

Formatted: Vietnamese



2.1.1.5. Nchu chuhu ho chuhu hoặc nuôi trồng,



Formatted: Font: Italic



- Đánh giá hiện trạng sản xuất, chế biến và tiêu thụ của ngành hàng;



Formatted: Space Before: 6 pt, After: 6 pt



- Phân tích chức năng và hoạt động của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị

- Phân tích mối liên kết giữa các tác nhân tham gia chuỗi giá trị

- Phân tích kinh tế của chuỗi giá trị.

- Đánh giá các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong chuỗi giá trị

2.1.1.6. Ý nghĩa thực tiễn của việc phân tích chuỗi giá trị.

Phân tích chuỗi gí trị là q trình phân tích, đánh giá sản phẩm từ nhiều cấp

độ, nhiều khía cạnh về dòng chảy sản phẩm, các tác nhân liên quan tới sản phẩm,

quan hệ của các tác nhân với nhau v.v. Từ đó có thể giúp cho việc xác định những

hạn chế và khó khăn trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, vị trí cạnh tranh

của các tác nhân tham gia vào chuỗi. Vì vậy, phân tích chuỗi giá trị trong nông

nghiệp bao gồm các ý nghĩa sau:



7



Formatted: Space Before: 6 pt, After: 6 pt



16

Thứ nhất: Lập bản đồ chuỗi giá trị là xây dựng một sơ đồ có thể quan sát bằng



Formatted: Condensed by 0.1 pt



mắt thường về hệ thống chuỗi giá trị giúp cho ta thấy được hoạt động của các tác

nhân tham gia trong chuỗi và các mối quan hệ của các tác nhân tham gia trong chuỗi.

Thứ hai: Giúp ta xác định được sự phân phối lợi ích của các tác nhân tham gia

trong chuỗi.

Thứ ba: Giúp ta xác định các mối quan hệ giữa các bên tham gia và các cơ

chế, thể chế thông qua đó các hoạt động điều phối phi thị trường được thực hiện.

Thứ ba: Giúp ta xác định các mối quan hệ giữa các bên tham gia và các

Formatted: Space Before: 6 pt, After: 6 pt



2.1.2. Chuỗi giá trị thủy sản tôm nuôi

2.1.2. Chua: Giúp ta xác đ đn tôm nuô

Áp dụng lý thuyết chuỗi giá trị vào trong ngành thủy sản, có thể hiểu chuỗi giá

trị thủy sản (GTTS) là tập hợp các hoạt động từ người sản xuất đến người tiêu dùng



Formatted: Font: Bold, Italic

Formatted: Normal, Indent: First line: 0.2",

Space Before: 6 pt, After: 6 pt

Formatted: Space Before: 6 pt, After: 6 pt



cuối cùng gồm các tác nhân sau: (1)Người sản xuất (người nuôi trồng thủy sản;

người đánh bắt thủy sản); (2) Thu gom; (3) Đại lý thu mua; (4) Sơ chế; (5) Người

chế biến;(6) Thương mại; (7) Người tiêu thụ. Đây là những tác nhân trực tiếp tham

gia vào chuỗi giá trị. Quan hệ của các tác nhân này dựa trên dòng thơng tin, dòng

hàng hóa (dịch vụ) và dòng tiền trên chuỗi. Sự vận động của chuỗi giá trị còn chịu

tác động bởi các tác nhân và yếu tố bên ngoài chuỗi như hệ thống cung ứng, hoạt

động marketing, hệ thống luật pháp, cung cầu hàng hóa.

Nhà nước giữ vai trò chủ đạo xây dựng cơ chế chính sách tạo mơi trường pháp

lý cạnh tranh lành mạnh cho các tác nhân tham gia vào chuỗi GTTS thơng qua các

hình thức liên kết dọc và ngang theo chuỗi giá trị sản phẩm. Cụ thể: Liên kết ngang là

liên kết các đối tượng cùng tham gia trong quá trình sản xuất, kinh doanh; Liên kết

dọc là liên kết theo đường đi của sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng.



7



Formatted: Condensed by 0.1 pt



17



Người

SX



Thu gom



Đại lý

mua



Người

chế biến



Thương

mại



Người

tiêu thụ



Sơ chế



Sơ đồ 2.2. Sơ đồ chuỗi giá trị tôm (Nguồn: VASEP)

Doanh nghiệp chế biến thủy sản (CBTS) phải là hạt nhân của chuỗi GTTS, các



Formatted: English (U.S.)

Formatted: Space Before: 6 pt, After: 6 pt



tác nhân tham gia vào chuỗi GTTS là các vệ tinh, các vệ tinh liên kết với các tác

nhân thơng qua các chính sách hỗ trợ của Nhà nước và được Nhà nước bảo hộ

thông qua hợp đồng kinh tế.

Có thể thấy rằng quản lý nhà nước về chất lượng là hoạt động tổng hợp mang



Formatted: Space Before: 3 pt, After: 3 pt



tính kỹ thuật, kinh tế và xã hội. Các hoạt động này nhằm mục tiêu là để đảm bảo

nâng cao chất lượng hàng hóa, hiệu quả sản xuất kinh doanh, bảo vệ quyền lợi tổ

chức, cá nhân sản xuất kinh doanh và người tiêu dùng. Các cơ quan quản lý nhà

nước điều hành các hoạt động trên thị trường bằng các văn bản phát luật. Đây là các

văn bản hướng dẫn việc thực thi ATVSTP gồm một số nọi dung sau:

- Xây dựng và thực hiện chiến lược, chính sách, quy hoạch kế hoạch về

VSATTP;

- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về VSATTP,

các quy định và tiêu chuẩn về VSATTP;

- Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phòng ngừa, khắc phục ngộ độc

thực phẩm và bệnh truyền nhiễm qua thực phẩm;

- Quản lý hệ thống kiểm nghiệm, thử nghiệm về VSATTP;

- Quản lý việc công bố tiêu chuẩn VSATTP, chứng nhận đủ điều kiện

VSATTP;…



7



Formatted: Space Before: 6 pt, After: 6 pt



18

2.1.3 Chính sách quản lý vệ sinh thực phẩm trong chuỗi giá trị của nhà nước

Hiện nay nước ta đang bước vào thời kỳ hội nhập do đó các sản phẩm của

chúng ta muốn đứng vững trên thị trường đòi hỏi sản phẩm của chúng ta phải có tính

cạnh tranh cao như chất lượng, giá cả và vấn đề VSATTP cũng là vấn đề cần đặc biệt

quan tâm. Đối với chuỗi giá trị thủy sản việc đảm bảo VSATTP hiện nay là việc làm

hết sức cấp thiết, đây là nhân tố quan trọng không chỉ làm nâng cao giá trị của sản

phẩm mà còn tăng sức cạnh tranh giúp cho ngành thủy sản phát triển bền vững.

Chính sách của Nhà nước cần giải quyết được những khó khăn về lợi ích trước

mắt của ngư dân/người nuôi, đồng thời định hướng và dẫn dắt chuỗi liên kết về lâu

dài, có sự điều tiết quản lý, ví dụ có chính sách hạn chế tàu thuyền khai thác, quy

định mùa cấm, vùng cấm/hạn chế đánh bắt; chính sách hỗ trợ tín dụng, bảo hiểm,

chính sách thu hút vốn FDI vào lĩnh vực thủy sản… Cần tăng cường hỗ trợ các tác

nhân tham gia vào chuỗi trong khuyến nông, trong thực hiện các quy định về vệ

sinh an toàn thực phẩm, trong kiểm tra và chứng nhận chất lượng, xây dựng và phát

triển thương hiệu. Gia tăng sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc thực hiện các quy

định về vệ sinh an toàn thực phẩm, chứng nhận chất lượng sản phẩm và phát triển

thương hiệu.

Nhà nước đã ban hành các chinh sách vệ sinh an toàn thực phẩm như: Xây

dựng chiến lược, quy hoạch tổng thể về bảo đảm an toàn thực phẩm, quy hoạch

vùng sản xuất thực phẩm an toàn theo chuỗi cung cấp thực phẩm được xác định là

nhiệm vụ trọng tâm ưu tiên; Sử dụng nguồn lực nhà nước và các nguồn lực khác

đầu tư nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ phục vụ việc phân tích nguy cơ

đối với an toàn thực phẩm; xây dựng mới, nâng cấp một số phòng thí nghiệm đạt

tiêu chuẩn khu vực, quốc tế; nâng cao năng lực các phòng thí nghiệm phân tích hiện

có; hỗ trợ đầu tư xây dựng các vùng sản xuất ngun liệu thực phẩm an tồn, chợ

đầu mối nơng sản thực phẩm, cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm quy mơ cơng nghiệp;

Khuyến khích các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm đổi mới công nghệ, mở

rộng quy mô sản xuất; sản xuất thực phẩm chất lượng cao, bảo đảm an toàn; bổ



7



Formatted: Font: (Default) Times New Roma

Condensed by 0.3 pt

Formatted: Indent: First line: 0.2", Space

Before: 6 pt, After: 6 pt

Formatted: Condensed by 0.1 pt

Formatted: Space Before: 6 pt, After: 6 pt



19

sung vi chất dinh dưỡng thiết yếu trong thực phẩm; xây dựng thương hiệu và phát

triển hệ thống cung cấp thực phẩm an tồn; Thiết lập khn khổ pháp lý và tổ chức

thực hiện lộ trình bắt buộc áp dụng hệ thống Thực hành sản xuất tốt (GMP), Thực

hành nông nghiệp tốt (GAP), Thực hành vệ sinh tốt (GHP), Phân tích nguy cơ và

kiểm sốt điểm tới hạn (HACCP) và các hệ thống quản lý an toàn thực phẩm tiên

tiến khác trong quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm; Mở rộng hợp tác quốc tế,

đẩy mạnh ký kết điều ước, thoả thuận quốc tế về công nhận, thừa nhận lẫn nhau

trong lĩnh vực thực phẩm; Khen thưởng kịp thời tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh

doanh thực phẩm an tồn; Khuyến khích, tạo điều kiện cho hội, hiệp hội, tổ chức, cá

nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư, tham gia vào các hoạt động

xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, kiểm nghiệm an toàn thực phẩm; Tăng

đầu tư, đa dạng các hình thức, phương thức tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận

thức người dân về tiêu dùng thực phẩm an toàn, ý thức trách nhiệm và đạo điêu

chuu ưhuẩn khu vực, quốc tế; nâng cao năng lực các phòng thí nghiệm phân tích hi.

2.2. Các nghiên cứu trong nước và nước ngoài

2.2.1. Nghiên cứu trong nước



Formatted: Font: (Default) Times New Roma

Not Bold, Not Italic, Condensed by 0.3 pt



Formatted: Font: (Default) Times New Roma

Not Bold, Not Italic

Formatted: English (U.S.)



Formatted: Font: (Default) Times New Roma



Ở Việt Nam, việc nghiên cứu chuỗi giá trị mới xuất hiện trong những năm gần

đây và đang phát triển rất mạnh mẽ. Dự án “Nâng cao hiệu quả thị trường cho người

nghèo” (M4P, 2007) đã thực hiện nhiều nghiên cứu về chuỗi giá trị nhằm tìm giải

pháp hỗ trợ cho người nghèo. Các nghiên cứu về chuỗi giá trị bao gồm: gạo, chè, cá

tra, ca cao, hàng thủ công bằng cối, rau xanh,…

Hoạt động phát triển chuỗi giá trị của Tổ chức hợp tác kỹ thuật của Đức

(GTZ) ở Việt Nam thực hiện theo phương pháp luận Liên kết Giá trị (ValueLinks)

và các tài liệu liên quan. Đây là một bộ công cụ được sử dụng nhằm tăng cường

năng lực thể chế và quan hệ hợp tác trong các tiểu ngành, tạo cơ hội cho các nhà sản

xuất tiếp cận với thị trường trong nước và quốc tế, gia tăng giá trị cho sản phẩm,

đẩy mạnh xuất khẩu, qua đó tăng thu nhập cho người sản xuất. Tổ chức này đã

nghiên cứu các chuỗi giá trị ở Việt Nam như vải, nhãn, mây tre, cà phê, hạt điều,

7



Formatted: Indent: First line: 0.2", Space

Before: 6 pt, After: 6 pt

Formatted: Space Before: 6 pt, After: 6 pt



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2.: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC BÀI NGHIÊN CỨU TRƯỚC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×