Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG III: CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO CHI TIẾT CHÍNH CỦA ĐẦU NỐI TOA XE GOONG

CHƯƠNG III: CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO CHI TIẾT CHÍNH CỦA ĐẦU NỐI TOA XE GOONG

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đặc thù của vận tải mỏ là khoảng cách vận tải đất đá, khống sản ln ln

thay đổi và phát triển dài ra. Ngồi các tuyến vận tải chính còn có nhiều nhánh

rẽ.

Việc vận chuyển than nguyên khai trong các mỏ than hầm lò Việt Nam hiện

nay sử dụng 3 phương pháp

-



Dùng thùng Skip.



-



Dùng các loại băng tải



-



Dùng các loại xe goong



Hình 3.1. Xe goong do Viện máy mỏ thiết kế

Trong đó, vận tải bằng xe goong là hình thức vận tải có chu kì và được sử

dụng rộng rãi nhất.

Đặc điểm của vận tải bằng xe goong là năng suất vận tải phụ thuộc vào quãng

đường vận tải, khả năng vận tải của từng loại xe goong như sức chở, khả năng

cơ động. So với các thiết bị vận tải ở các mỏ than hầm lò thì vận tải bằng xe

goong có tính cơ động tương đối cao, có thể mở thêm các đường goong mới

hoặc nối thêm, cắt ngắn các đoạn đường cần thiết.

Trong các mỏ than trên thế giới việc vận chuyển than bằng xe goong trong

các lò cái chiếm 70% còn khai thác quặng hầm lò là 100%.

Ở nước ta công nghệ vận tải bằng goong chủ yếu được áp dụng trong các mỏ

than hầm lò và được sử dụng trong các đường lò bằng và lò nghiêng. Trong

các đường lò bằng goong được nối với nhau thành từng đoàn và kéo bằng đầu



54



tầu điện ắc quy hoặc cần vẹt. Tại các đường lò nghiêng thì sử dụng các tời trục

cỡ lớn.

3.2.



Cơ cấu móc nối xe goong



3.2.1. Cơ cấu móc nối bằng dây xích

Hiện nay các cơ cấu xe goong đều được liên kết với nhau bằng cơ cấu móc nối

sử dụng dây xích.



Hình 3.2. Cơ cấu móc nối bằng dây xích

Ưu điểm của kết nối bằng dây xích :

-



Dễ chế tạo



-



Giá thành rẻ



Nhược điểm

-



Nhanh hỏng trong điều kiện khắc nhiệt



-



Do được hàn chặt nên tháo lắp khó khăn, bắt buộc phải thay mới hồn

tồn.



3.2.2. Cơ cấu móc nối tự động



55



Hình 3.3. Cơ cấu móc nối tự động

Cơ cấu móc nối tự động được sử dụng để nối các toa xe với nhau cũng như

giữa toa xe và đầu máy, giữ cho chúng ở một khoảng cách nhất định, truyền

lực đấm và kéo trong đoàn đồng thời giảm nhẹ tác dụng động của chúng xảy

ra trong q trình chạy và dồn phóng tại các ga.

Thiết bị thực hiện đầy đủ các chức năng trên được gọi là bộ đầu đấm móc nối

liên hợp. Có thể hai chức năng đấm và móc kéo được thực hiện riêng biệt.

Nếu chỉ truyền và giảm nhẹ tác dụng của lực đấm, đồng thời giữ một khoảng

cách nhất định giữa các toa xe với nhau và giữa toa xe với đầu máy thì được

gọi là thiết bị giảm đấm. Thiết bị nối trực tiếp các toa xe với nhau và giữa các

toa xe với đầu máy được gọi là thiết bị móc nối. Thiết bị móc nối được chia

làm 2 loại là thiết bị móc nối tự động và thiết bị móc nối khơng tự động.

Hiện nay hầu hết các toa xe đều sử dụng loại đầu đấm móc nối tự động bởi nó

có các ưu điểm sau đây :

-



Móc nối có độ bền cao, truyền được lực dọc cao, được sử dụng cho các

loại tải trọng lớn.



-



Giảm được lao động nặng nhọc và nguy hiểm cho con người khi móc

nối hoặc khi ngắt.



-



Giảm được trọng bì các toa xe có giá chuyển hướng nhờ giảm nhỏ được

cà đầu ( xà chịu đấm) và các xà dọc cạnh của toa xe



Để chạy được liên vận thì thiết bị đầu đấm – móc nối phải đượcs sản xuất có

tính lắp lẫn cao và theo tiêu chuẩn chung. Hiện nay, Việt Nam sử dụng nhiều

loại đầu đấm – móc nối của một số nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản...



56



Hình 3.4. Cấu tạo chi tiết móc nối toa xe goong

Nguyên tắc hoạt động : đầu đấm hoạt động dựa trên nguyên tắc tự động

đóng móc bằng lực xung kích tác động theo ngun lý đồn bẩy, còn sử dụng

móc thì phải theo nguyên tắc cần giật.

Phân loại móc nối tự động

Móc nối tự động có 2 loại

-



Móc nối tự động liên hết cứng

Khơng cho phép hai móc nối lắp vào nhau khi có dịch chuyển tương

đối. Nếu trước khi móc nối, hai móc nối có chênh leehcj về chiều

cao thì sau khi ăn khớp chúng nằm trên cùng một đường thẳng

nghiêng. Đuôi móc nối được nối liền với quang đỡ hộp giảm đấm

bằng khớp cầu, đảm bảo được các dịch chuyển theo phương thẳng

đứng và ngang của hai đầu đấm toa xe nối với nhau



-



Móc nối tự động liên kết mềm :



57



Móc nối loại này cho phép hai thân móc nối dịch chuyển tương đối

với nhau trong phạm vi thẳng đứng trong giới hạn cho phép của

chiều cao đầu đấm giữa hai toa nối nhau.

Sự dịch chuyển trong mặt phẳng ngang được thực hiện nhờ khớp ở

thân móc.

Móc nối tự động liên kết mềm được sử dụng rộng rãi do có các ưu

điểm sau đây :

 Cho phép lắp được với nhau các móc nối có chiều cao sai lệch

lớn.

 Khớp nối đi móc – quang đỡ hộp giảm đấm có kết cấu đơn

giản.

 Khối lượng của móc nối tự động nhỏ.

 Kết cấu và cơng nghệ đúc của phần đầu móc đơn giản

3.2.3. Giới thiệu chi tiết trỏ cài

Chi tiết trỏ cài là một chi tiết quan trọng trong cơ cấu đầu đấm nối toa xe, vì

vậy nó chịu lực cắt ngang nên yêu cầu cao về độ bền.



Hình 3.5. Chi tiết trỏ cài



58



Hình 3.6. Mơ hình hóa chi tiết

3.3.



Tính tốn lượng dư gia công và dung sai vật dập



3.3.1. Cấp chính xác của vật dập

Trước khi xác định lượng dư gia cơng cho ngun cơng dập tạo hình chúng ta

phải xác định cấp chính xác của vật dập.

Theo tiêu chuẩn



ước định bốn nhóm chính xác của vật



dập.

-



Nhóm 1: Những vật dập có chính xác cao trong sản xuất hàng khối

được gia cơng cắt gọt tển các thiết bị chun dùng.



-



Nhóm 2: Những vật dập chính xác trung bình trong sản xuất hàng loạt

lớn được gia công bằng cắt gọt trên máy vạn năng với đồ gá chuyên

dùng ( đôi khi là đồ gá vạn năng).



-



Nhóm 3: Những vật dập chính xác thấp trong sản xuất hàng loạt nhỏ

được gia công bằng cắt gọt trên các máy vạn năng.



-



Nhóm 4: Những vật dập mà tại một số phân đoạn cần phải tinh chỉnh

nguội phẳng để nhận được độ chính xác của kích thước cao hơn 3 nhóm

ở trên.



59



Với chi tiết vật rèn là chi tiết trỏ cài trong cơ cấu đầu đấm tự động nối toa xe

được sản xuất hàng loạt lớn với độ chính xác trung bình thực hiện trên máy

vạn năng, ta xếp chúng vào nhóm 2 trong bốn nhóm cấp chính xác vật dập. [1]

3.3.2. Xác định lượng dư gia công

Tại một số mặt chi tiết yêu cầu độ chính xác và độ bóng cao, hoặc độ cứng

cao thì sau khi rèn, dập cần phải gia cơng cơ để cắt bỏ lớp bề mặt phơi đã bị

thốt C và có nhiều khuyết tật tạo độ bóng và độ chính xác cần thiết. Cho nên

ta phải tạo và rèn lớn hơn chi tiết về mặt đó bằng cách cộng thêm vào kích

thước danh nghĩa của chi tiết một đại lượng là . Như vậy nếu kích thước

danh nghĩa của chi tiết là A thì kích thước danh nghĩa của vật rèn phải được

tính bằng B trong đó

Trong đó



được gọi là lượng dư gia cơng, giá trị của nó phụ thuộc vào kích



thước chi tiết và loại thiết bị rèn được sử dụng trong quy trình cơng nghệ.[1]

3.3.3. Xác định dung sai vật rèn

Vì khơng thể tạo được vật rèn có kích thước đúng với kích thước danh nghĩa

của nó mà khơng có sự sai lệch. Tuy nhiên độ sai lệch ấy cũng phải nằm trong

phạm vi cho phép. Hiệu số của kích thước lớn nhất cho phép và kích thước

nhỏ nhất cho phép gọi là dung sai về hai phía của vật rèn. Như đã biết kích

thước thước cho phép của các vật rèn chỉ có thể là



. Nếu ta gọi kích



thước lớn nhất cho phép của vật dập là C thì dung sai vật rèn sẽ được tính.

Nếu ta chia dung sai vật rèn làm hai phần gọi là giới hạn trên

dưới



3.4.



thì :



Tính tốn phơi



3.4.1. Khổi lượng và thể tích vật rèn

Khối lượng vật rèn : m=3,525 kg

Thể tích vật rèn : V= 448400



60



và giới hạn



Hình 3.7. Thể tích và khối lượng chi tiết trỏ cài

3.4.2. Khối lượng và thể tích phơi

Ta có cơng thức xác định

Trong đó :

là khối lượng vật rèn



(kg).



khối lượng hao cháy khi nung ở nhiệt độ cao.

( )

Suy ra



3.4.3. Chọn phơi

Thể tích phơi ban đầu

V=448400

Trọn phơi trụ có đường kính ngồi D= 50 mm

Chiều dài của phôi là

(

3.5.



Kết luận



61



)



Để chế tạo được chi tiết bằng cơng nghệ dập nóng trong khn kín chúng ta

phải tính tốn chính xác phơi cũng như những yếu tố ảnh hưởng tới q trình

gia cơng như nhiệt độ, vật liệu biến dạng, kết cấu khuôn, phôi và lực tạo hình.

Đây là các yếu tố chính ảnh hưởng đến q trình dập khối chính xác. Phụ

thuộc vào u cầu về cơ tính, mơi trường làm việc của chi tiết, điều kiện thiết

bị cho phép để ta lựa chọn các yếu tố sao cho phù hợp.

Để lựa chọn tối ưu các thơng số khi dập chính xác ta sẽ tiến hành mơ phỏng

q trình dập với các điều kiện khác nhau, nhưng để xác định tính tốn các

thơng số khi dập là rất khó khăn, vì vậy thay cho việc tính tốn lý thuyết ta sẽ

khảo sát bằng thực nghiệm.



62



CHƯƠNG IV : MÔ PHỎNG SỐ VÀ TỐI ƯU CÁC THÔNG SỐ TẠO

HÌNH CHI TIẾT TRONG CƠ CẤU NỐI TOA XE

4.1.



Giới thiệu phần mềm deform 3D



4.1.1. Phương pháp phần tử hữu hạn

Phương pháp phần tử hữu hạn là phương pháp số dùng để phân tích các bài

tốn về kết cấu và môi trường liên tục.

Phương pháp phần tử hữu hạn được sử dụng để giải các bài toàn như sau :

-



Bài toán về kết cấu ( tĩnh học, động lực học, ứng xử tuyến tính, phi

tuyến).



-



Bài tốn về truyền nhiệt.



-



Bài tốn về cơ học chất lỏng.



-



Bài toán về truyền âm.



-



Bài toán về điện từ trường.



Phương pháp phần tử hữu hạn được ứng dụng rộng rãi trong nhiều ngành kĩ

thuật : cơ khí, hàng khơng, xây dựng, ơ tơ,... Để có thể khai thác và sử dụng

hiểu quả những phần mềm phần tử hữu hạn hiên có ta cần nắm được cơ sở lý

thuyết, kỹ thuật mơ hình hóa cũng như các bước tính cơ bản của phương

pháp.[4]

4.1.2. Phần mềm deform 3d

DEFORM là một phần mềm tính tốn mơ phỏng q trình dựa trên phương

pháp phần tử hữu hạn(FEM) nhằm phân tích các q trình tạo hình và sử lí

nhiệt khi tạo hình kim loại và các cơng nghệ liên quan. Bằng việc mơ phỏng

q trình sản xuất trên máy tính, đây là công cụ tiên tiến cho phép các nhà

thiết kế và kĩ sư :

-



Kiểm nghiệm các điều kiên trên máy tính mootj cách chính xác



-



Dễ dàng nhanh chóng với các giả lập



-



Cải thiện việc thiết kế dụng cụ và khuôn mẫu nhằm hạ giá thành sản

phầm, tiết kiệm vật liệu



-



Rút ngắn thời gian tung sản phẩm mới ra thị trường



63



4.1.3. Các sản phẩm của hệ thống DEFORM

a. DEFORM-2D

Sử dụng trên nền UNIX/LINUX (HP, DEC,LINUX) và chạy rất tốt với máy

tính cá nhân trên nền các window XP/Vista. Có khả năng giải cho các mơ hình

biến dạng phẳng hoặc các chi tiết đơi xứng với một mơ hình 2 chiều.

b. DEFORM-3D

Sử dụng trên nền UNIX/LINUX (HP, DEC, LINUX) và cũng chạy rất tốt với

máy tính cá nhân trên nền các window XP/Vista. DEFORM-3D có khả năng

giải được các bài tốn phức tạp với mơ hình 3 chiều và các đặc tính dòng

chảy. Nó rất lý tưởng để giải cái bài tốn phức tạp khi bài tốn đó khơng hề

đơn giản với mơ hình 2 chiều.

c. DEFORM-F2

Chạy trên nền các máy tính cá nhân cài đặt Windows XP/Vista. Có khả năng

giải các bài tốn với mơ hình 2 chiều đối xứng hoặc biến dạng phẳng. Rất

thuận lợi để giải với các công đoạn từ nhỏ đến trung bình trong mơ hình phần

tử hữu hạn.

d. DEFORM-F3

Chạy trên nền các máy tính cá nhân cài đặt Windows XP/Vista. Giải rất tốt

trong mơ hình 3 chiều vơí các bài tốn tạo hình ở trại thái thường, ấm và nóng.

e. DEFORM HT

Là chương trình phụ trợ cho DEFORM-2D và DEFORM-3D. Nhờ việc bổ

xung cho các mô hình biến dạng, DEFORM-HT có thể mơ hình hố các ảnh

hưởng của xử lí nhiệt gồm có độ cứng, cỡ hạt của tổ chức kim loại, biến dạng,

ứng suất dư, và hàm lượng các bon. [4]

4.1.4. Một số sản phầm kết quả mô phỏng của phần mềm DEFROM



64



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG III: CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO CHI TIẾT CHÍNH CỦA ĐẦU NỐI TOA XE GOONG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×