Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 4 – MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU BAO BÌ NHỰA ĐẾN NĂM 2020

CHƯƠNG 4 – MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU BAO BÌ NHỰA ĐẾN NĂM 2020

Tải bản đầy đủ - 0trang

Thực hành nghề nghiệp 1



4.1.



GVHD : ThS. Tạ Hoàng Thùy Trang



QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU ĐỀ XUẤT GIẢI

PHÁP



Trong tiến trình phát triển, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới của Việt Nam ,

cùng với sự nỗ lực tạo điều kiện của chính phủ , con đường duy nhất cho các

doanh nghiệp Việt Nam là phải nâng cao được khả năng cạnh tranh và đạt hiệu

quả trong sản xuất kinh doanh , có chiến lược phát triển trong dài hạn , và đây

cũng là bài toán lớn cho nền kinh tế Việt Nam hiện nay . Ngành nhựa Việt

Nam là một bộ phận của nền kinh tế Việt Nam . Do vậy , việc khai thác các cơ

hội , tận dụng thế mạnh , hạn chế điểm yếu và né tránh rủi ro được phân tích

và tính toán trong phạm vi ngành nhựa là rất cần thiết , nhằm đưa ra các giải

pháp định hướng chiến lược phát triển cho ngành , tạo ra sự phát triển cho

ngành , cùng với các chiến lược phát triển của các ngành công nghiệp hỗ trợ

và liên quan như xây dựng , điện tử , ô tô , viễn thông sẽ định hướng cho chiến

lược phát triển đa ngành . Từ đó , tạo cơ sở để nâng cao được sức cạnh tranh

và hiệu quả trong phát triển của mỗi doanh nghiệp trong ngành , đáp ứng yêu

cầu phát triển ngành , đạt tốc độ tăng trưởng bền vững theo mục tiêu đặt ra.

Dựa vào những kiến thức chuyên ngành liên quan đến xuất khẩu hàng hóa,

những phân tích về thực trạng của xuất khẩu sản phẩm nhựa ở Việt Nam hiện

nay và tình hình xuất khẩu bao bì nhựa sang thị trường Hà Lan của công ty cổ

phần bao bì Tín Thành giai đoạn 2014 – 2016 cũng như những mục tiêu - định

hướng hoạt động của công ty trong tương lai, tôi xin đề xuất một vài giải pháp

để thúc đẩy việc xuất khẩu bao bì nhựa sang Hà Lan trong vòng năm năm tới.

Mục tiêu của các giải pháp sẽ tập trung vào việc củng cố và mở rộng thị

trường nước ngồi, nâng cao tính cạnh tranh của hàng hóa ngang tầm khu vực

và thế giới về chất lượng, giá cả và dịch vụ từ đây đến năm 2020.

4.2.



MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU BAO BÌ NHỰA

4.2.1. Cải tiến mẫu mã và nâng cao chất lượng sản phẩm



Mẫu mã là yếu tố đập vào mắt khách hàng đầu tiên, nhất là những sản phẩm

nhựa gia dụng thì mẫu mã rất quan trọng. Hai sản phẩm giống hệt nhau về

chức năng, về chất lượng và giá cả, … thì khi mua chắc chắn khách hàng sẽ

chọn sản phẩm có mẫu mã đẹp. Doanh nghiệp phải thường xuyên nghiên cứu

những sản phẩm trên thị trường và thị hiếu của người tiêu dùng để có kế hoạch

thay đổi mẫu mã phù hợp. Chất lượng của sản phẩm cũng đóng vai trò rất

quan trọng cho việc thành bại trên thị trường. Doanh nghiệp cần phải có sản



SVTH : Phạm Ngọc Ái Phương



Trang 37



Thực hành nghề nghiệp 1



GVHD : ThS. Tạ Hồng Thùy Trang



phẩm vừa có chất lượng cao nhưng giá thành thấp, phế phẩm ít. Muốn được

thế, doanh nghiệp cần phải:

- Tổ chức kiểm tra sản phẩm thường xuyên.

- Biến việc kiểm tra chất lượng sản phẩm là của mọi người chứ khơng phải là

của phòng kỹ thuật hoặc phòng kiểm tra chất lượng sản phẩm.

- Đào tạo cán bộ thường xuyên để theo kịp công nghệ mới.

- Áp dụng hệ thống tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO 9000

4.2.2. Đổi mới cơng nghệ, máy móc thiết bị sản xuất



Cơng nghệ thiết bị trong ngành bao bì nhựa được cập nhật tiến bộ khoa học kỹ

thuật thế giới rất nhanh, theo hướng nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng

hóa mẫu mã, tăng tính thẩm mỹ, tăng năng suất lao động, kiểm sốt quy trình

tự động, giảm tiêu hao điện năng, giảm định mức tiêu hao nguyên liệu trong

sản xuất, giảm tỷ lệ phế phẩm trong sản xuất.

Bất kỳ một ngành sản xuất cơng nghiệp nào, trình độ cơng nghệ ảnh hưởng

trực tiếp tới năng suất, chất lượng, giá thành và sự phát triển của ngành. Chính

vì vậy, tất cả các nước, muốn đẩy nhanh sự phát triển của ngành công nghiệp

đều phải quan tâm hàng đầu tới việc đổi mới công nghệ để nâng cao chất

lượng sản phẩm và tăng năng suất lao động. Tốc độ đổi mới về cơng nghệ sản

xuất của ngành bao bì nhựa phụ thuộc rất nhiều vào việc nghiên cứu và

chuyển giao công nghệ của ngành và phụ thuộc vào các ngành công nghiệp

khác như chế tạo máy, hóa dầu, hóa chất, tự động hóa.

Các chính sách phát triển khoa học cơng nghệ của ngành bao bì nhựa như sau:

- Tăng chi phí cho các hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công

nghệ của ngành nhựa bằng cách cho phép các doanh nghiệp được trích 2%

doanh thu cho cơng tác nghiên cứu triển khai và đầu tư bổ sung thêm trang

thiết bị và nâng cao năng lực các phòng nghiên cứu, phòng thí nghiệm gắn với

sản xuất, phối hợp với các cơ sở khác trong và ngoài ngành, nghiên cứu phục

vụ mục tiêu phát triển ngành.

- Đối với sản phẩm kỹ thuật cao (như màng mỏng PVC, giả da PVC, vải

tráng nhựa PVC, giả da PU) đòi hỏi độ chính xác cao, chất lượng tốt nên lựa

chọn cơng nghệ cao vì cơng nghệ cao không chỉ giúp ta rút ngắn dần khoảng

cách và trình độ cơng nghệ của ngành với các nước tiên tiến trên thế giới mà

còn giúp ngành nhựa sản xuất được nhiều mặt hàng có chất lượng, giá trị cao



SVTH : Phạm Ngọc Ái Phương



Trang 38



Thực hành nghề nghiệp 1



GVHD : ThS. Tạ Hoàng Thùy Trang



đáp ứng được yêu cầu đa dạng của các ngành kinh tế kỹ thuật khác trong nước

và xuất khẩu, tạo thế cạnh tranh.

Điều quan trọng là phải chọn đúng được công nghệ đang cần và đầu tư đón

đầu đúng hướng. Phải tận dụng, phát huy ngay được công nghệ mới đầu tư, tổ

chức tiếp thu và làm chủ được các công nghệ nhập bằng cách đào tạo mới và

đạo độ ngũ cán bộ kỹ thuật (gởi đi nước ngồi đào tạo). Để nhập cơng nghệ

cần:

- Doanh nghiệp cần có sự chọn lựa kỹ càng, chủ động tìm kiếm hoặc

thơng qua cơng ty tư vấn. Chỉ nhập thiết bị mới và công nghệ với khoảng cách

khơng xa q về trình độ so với cơng nghệ hiện đại của ngành. Tổ chức tốt các

đơn vị thẩm định, kiểm tra khi nhập công nghệ.

- Doanh nghiệp phải tổ chức tốt đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật tiếp thu tốt

các công nghệ nhập để tổ chức sản xuất ổn định, tiến tới làm chủ được công

nghệ nhập. Có thể tự sản xuất một số phụ tùng thay thế để phát huy hết công

suất của thiết bị và khả năng của công nghệ để tạo ra sản phẩm có giá trị cao.

- Doanh nghiệp đặc biệt chú ý cơng nghệ xử lý bảo vệ mơi trường. Bởi

vì vấn đề bảo vệ môi trường là một vấn đề lớn cần có sự phối hợp nhiều ngành

và tiến hành đồng bộ trên từng khu cụm công nghiệp nhựa cụ thể thơng qua

các chính sách lớn của Nhà nước. Nhà Nước cần quy hoạch các đơn vị sản

xuất nhựa tập trung vào một khu vực nhằm hạn chế độc hại do sản xuất nhựa

gây ra có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của mọi người, hoặc là đề ra các biện

pháp buộc nhà sản xuất phải đóng thuế rác dựa trên sản lượng sản xuất ra, phải

tự bỏ chi phí để thu hồi nhựa phế thải tái chế lại, cao hơn nữa là đưa phế liệu

vào dây chuyền hóa dầu để tái tạo các sản phẩm hóa dầu mới.

- Doanh nghiệp cần nhanh nhạy trong việc ứng dụng những thành tựu của thế

giới về các loại vật liệu nhựa mới có khả năng tự phân hủy, các loại nhựa sinh

học, nhằm hạn chế tối đa ô nhiễm môi trường như các loại bao bì trên cơ sở

tinh bột hoặc màng từ polyninylalcol đã và đang được nghiên cứu và bước đầu

đưa vào sử dụng như túi áo đựng sản phẩm áo sơ mi may sẵn xuất qua thị

trường Nhật Bản được làm từ màng polyvinylalcol, …

4.2.3.



Một số giải pháp về nguồn nguyên liệu :



SVTH : Phạm Ngọc Ái Phương



Trang 39



Thực hành nghề nghiệp 1



GVHD : ThS. Tạ Hoàng Thùy Trang



Hiện nay ngành nhựa Việt Nam mới chỉ đáp ứng được một phần nhỏ nguyên

liệu phục vụ cho ngành, còn lại phải nhập khẩu của nước ngoài. Với nguồn

nguyên liệu phải nhập khẩu chiếm tới 90% thì ngành nhựa thực sự là phát

triển rất bấp bênh, khơng có tính bền vững, rủi ro lớn. Để thực sự trở thành

một ngành kinh tế mạnh trong nền kinh tế, ngành nhựa cần phát triển nguồn

ngun liệu cho mình. Đây khơng chỉ đơn thuần cần sự nỗ lực của ngành mà

cần có sự phối hợp của nhiều ngành có liên quan đặc biệt là ngành dầu khí và

hóa chất. Cơng nghiệp hóa dầu Việt Nam đầy triển vọng trên cơ sở cơng

nghiệp dầu khí khơng ngừng gia tăng. Chính vì vậy, chiến lược sản xuất

nguyên liệu nhựa tại Việt Nam là có cơ sở. Song khả năng tài chính thực thi thì

hạn chế. Đây là một thách thức đối với ngành nhựa vì khơng đủ vốn đầu tư

xây dựng nhà máy và một loạt các vấn đề khác như thuế, môi trường, …

Tuy nhiên, tất cả các thách thức này có thể tạo cơ hội phát triển nhanh hơn

khi có sự hỗ trợ từ Chính phủ và liên kết sản xuất liên ngành các Tổng Cơng ty

Dầu khí Việt Nam, Tổng Cơng ty Hóa Chất Việt Nam và Tổng Công ty Nhựa

Việt Nam.

4.2.3.1.



Cần xây dựng một số xí nghiệp sản xuất nguyên liệu:



Hiện nay, hàng năm ngành nhựa Việt Nam nhập khẩu hàng chục loại nhựa

khác nhau, nhưng chủ yếu là nhựa PVC, nhựa PP, PE, PS, nhựa Melamin,

nhựa Phenol, nhựa Acrylic, nhựa ABS, EVA, …Hóa chất như dầu DOP, TDI,

MDI, PPG, PEG, các loại dung môi hữu cơ, keo dán, mực in, chất mầu, …Các

loại bán thành phẩm như màng BOPP, OPP, …Các loại phụ gia như chất độn

và các hóa chất chuyên dùng khác. Về số lượng hàng năm gia tăng rất nhanh.

Để đáp ứng được yêu cầu trên thì phải xây dựng hàng chục nhà máy, điều này

không thể thực hiện ngay.

Vì vậy, trong 10 năm từ nay đến 2025, chúng ta cần phải xây dựng các

nhà máy sản xuất một số nguyên liệu cho ngành mà tập trung chủ yếu vào 4

loại nguyên liệu là: PVC, PE, PP và PS. Và cũng chỉ đáp ứng một phần nhu

cầu trong nước.

Để có những sản phẩm cho ngành nhựa, ngành hóa dầu phải đi từ hai loại

nguyên liệu chính là naphta và khí (metal, etan, LPG, …). Do đó, để sớm đáp

ứng được những nhu cầu thiết yếu của nền kinh tế quốc dân trong đó có ngành

nhựa thì ngành hóa dầu nên thực hiện song song hai phương hướng phát triển

trong thời gian tới:

- Trên cơ sở khai thác khí của ngành cơng nghiệp hóa dầu cần phải xây

dựng các nhà máy tách khí e tan để từ đó xây dựng các nhà máy sản xuất



SVTH : Phạm Ngọc Ái Phương



Trang 40



Thực hành nghề nghiệp 1



GVHD : ThS. Tạ Hoàng Thùy Trang



etylen, propylene, … là những loại nguyên liệu trong việc sản xuất các nguyên

liệu như PE, PP, PVC, ...

- Mặt khác, trên cơ sở nhu cầu bức thiết của ngành nhựa, chúng ta khơng

nên chờ đến khi có sản phẩm hóa dầu của Việt Nam mà nên có kế hoạch đón

đầu bằng cách nhập nguyên liệu trung gian để sản xuất một số nguyên liệu

thiết yếu như nhựa PVC, PE, PS, hóa dẻo DOP.

4.2.3.2.



Cần liên kết với các cơng ty nước ngồi:



- Nhà nước cần tạo mơi trường kinh doanh và đầu tư tại Việt Nam có thể

đảm bảo được sự cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng cho các doanh nghiệp trong

tiến trình hội nhập khu vực và thế giới.

- Phải lôi kéo cho được sự đầu tư của các tập đồn dầu khí đa quốc gia và

xun quốc gia ngành nhựa lớn trên thế giới như: Exxon Mobil, Shell, BPAmoco, Formosa, Dow-UCC, Petronas, …

Hiện tại, các nước trong khu vực đã thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực

sản xuất nguyên liệu nhựa như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc,

… trên cơ sở tạo ra lợi thế cạnh tranh cho đầu tư quy mô lớn, công nghệ hiện

đại. Tuy nhiên, theo thống kê của Liên đoàn nhựa các nước ASEAN, sản xuất

nguyên liệu nhựa cho nhu cầu của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương hiện

nay, cung chỉ đáp ứng được 80% cho cầu. Đây chính là cơ hội cho việc đầu tư

sản xuất nguyên liệu nhựa tại Việt Nam không chỉ nhằm đáp ứng cho nhu cầu

nội địa mà cả cho xuất khẩu.



4.2.4. Giải pháp về nguồn nhân lực:



Đặc điểm của ngành nhựa là sử dụng ít lao động nhưng lại đòi hỏi lao động

phải có sức khỏe và có trình độ tay nghề vì hầu hết dây chuyền thiết bị sử

dụng trong sản xuất là các dây chuyền mang tính chun mơn tự động hóa

cao.

Như vậy, để nâng cao nguồn nhân lực cho ngành nhựa Việt Nam đòi hỏi phải

thực hiện một số giải pháp đồng bộ như sau:

- Để đáp ứng nguồn lao động cho sự phát triển của ngành cần phối hợp với



SVTH : Phạm Ngọc Ái Phương



Trang 41



Thực hành nghề nghiệp 1



GVHD : ThS. Tạ Hồng Thùy Trang



các đơn vị có chức năng đào tạo để hình thành các kế hoạch đào tạo cụ thể,

đáp ứng nhu cầu của ngành nhựa, chủ yếu trong đào tạo dài hạn, nhằm đáp

ứng một trình độ nhất định: Cơng nhân lành nghề, cao đẳng, đại học, chủ yếu

bằng nguồnđào tạo trong nước.

- Mặt khác, tổng Công ty nhựa cần phối hợp với các doanh nghiệp trong

ngành lập quỹ học bổng tài trợ cho các học sinh trung học học nghề, sinh viên

ở các trường Đại học làm các đề án nghiên cứu phục vụ cho ngành.

- Các doanh nghiệp có thể liên kết với các trường đại học mở các khóa đào

tạo ngắn hạn, bồi dưỡng lý thuyết nâng cao tay nghề, hoặc có thể gởi kỹ sư,

chuyên gia đi đào tạo ở nước ngồi.

Bên cạnh hệ đào tạo chính quy cần hình thành Trung tâm bồi dưỡng, đào

tạo nghề trực thuộc các Hiệp hội Nhựa. Các trung tâm hoạt động với sự tài trợ

của các doanh nghiệp và có nhiệm vụ phối hợp với các đơn vị có khả năng

(trường, viện, tổng cơng ty, …) đồng thời các trung tâm cũng tổ chức các khóa

đào tạo lại nhằm nâng cao trình độ cho cán bộ đương chức theo yêu cầu của

ngành, yêu cầu của các doanh nghiệp, chương trình ln cập nhật kiến thức và

phổ biến thơng tin mới nhất trong và ngồi nước cho các học viên.

- Về nghiên cứu: Thành lập trung tâm nghiên cứu đầu ngành. Tuyển chọn

các kỹ sư tốt nghiệp ra trường loại khá, giỏi, các kỹ sư đang cơng tác tại cơ sở

sản xuất có năng lực nghiên cứu đa dạng về các cơ sở nghiên cứu của ngành.

Có hệ số tiền lương cao hơn giữa các kỹ sư làm công tác nghiên cứu và công

việc khác. Tổ chức đào tạo lại, đào tạo bổ sung và nâng cao cho đội ngũ làm

công tác nghiên cứu triển khai bằng các hình thức: thực tập sinh, đào tạo

chuyên đề, đào tạo thạc sỹ.

4.3.

KIẾN NGHỊ VỚI NHÀ NƯỚC VÀ CÁC NGÀNH HỮU QUAN

Để các giải pháp trình bày trên được thực hiện đồng bộ và có tính khả thi

cao , chính phủ và các ngành hữu quan cần có các hoạt động hỗ trợ ngành bao

bì nhựa và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này như :

1. Có chính sách tăng thời gian khấu hao cơ bản lên trong chính sách thuế ,

nhằm khuyến khích đầu tư dài hạn phát triển ngành , và cũng để giảm giá

thành sản phẩm , tăng khả năng cạnh tranh cho ngành . Hiện tại thời gian khấu

hao cơ bản cho thiết bị ngành nhựa tại Việt Nam là 7 năm , kiến nghị được

tăng lên là 12 năm .



SVTH : Phạm Ngọc Ái Phương



Trang 42



Thực hành nghề nghiệp 1



GVHD : ThS. Tạ Hoàng Thùy Trang



2. Nhà nước cho thành lập các công ty lớn then chốt cho ngành về các mặt

hàng có giá trị gia tăng cao như nguyên liệu nhựa , nhựa kỹ thuật cao , sản

xuất máy nhựa , và hình thành các tập đồn , các cơng ty đa quốc gia tại Việt

Nam , chính các cơng ty này sẽ giữ vai trò chủ động trong phát triển ngành .

3. Hỗ trợ xúc tiến thương mại , cung cấp thông tin về thương mại , làm dịch

vụ xuất khẩu , dịch vụ tư vấn và tài chính chuyên ngành cho các hoạt động

xuất khẩu của ngành nhằm bảo vệ cho doanh nghiệp thiếu kinh nghiệm trong

ngoại thương .

4. Nhà nước cho thành lập ngân hàng cổ phần chuyên ngành nhựa , với sự

tham gia cổ phần nhà nước để thu hút các nguồn tài chính nước ngồi nhằm

giải quyết nguồn vốn đầu tư cho ngành nhựa trong giai đoạn tới , giai đoạn hội

nhập kinh tế khu vực và thế giới .

5. Nhà nước cho thực hiện nhanh các dự án cải tạo , nâng cấp cơ sở hạ tầng .

Khuyến khích , tạo điều kiện cho các công ty vận tải quốc tế đầu tư tại Việt

Nam , nhằm giúp doanh nghiệp giảm được chi phí vận chuyển theo mặt bằng

giá chung của khu vực .

6. Nhà nước có chính sách bảo vệ mơi trường đối với các doanh nghiệp

ngành nhựa trong sản xuất và xử lý rác nhựa , cụ thể là là các phương án xủ lý

của các ngành như tài nguyên – môi trường , cơng trình- đơ thị . Hiện nay trên

thế giới và khu vực các doanh nghiệp ngành nhựa đều phải chịu một khoản chi

phí nhỏ để dùng vào việc xử lý bảo vệ môi trường .

7. Nhà nước hỗ trợ vốn cổ phần cho các doanh nghiệp đầu tư thiết bị hiện đại

cho công nghệ tái chế nhựa , nhằm bảo vệ môi trường và giảm giá thành sản

xuất cho doanh nghiệp ngành nhựa .



SVTH : Phạm Ngọc Ái Phương



Trang 43



Thực hành nghề nghiệp 1



GVHD : ThS. Tạ Hoàng Thùy Trang



KẾT LUẬN

Cơng ty cổ phần Bao bì Tín Thành là một doanh nghiệp hoạt động lâu năm trong

lĩnh vực bao bì nhựa, hoạt động làm ăn, giao dịch với nước ngoài rất rộng và chặt

chẽ. Những xu hướng phát triển của thế giới tác động không nhỏ đến hoạt động sản

xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mang đến rất nhiều cơ hội để phát triển, cũng

như khơng ít những thách thức cần vượt qua.

Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của mình, cơng ty đã phải đối mặt với

những thách thức đến từ khách quan như tình hình kinh tế đất nước và thế giới, các

đối thủ cạnh tranh, các đối tác làm ăn, khách hàng,… hay những khó khăn đến từ

chính cơng ty như các vấn đề về tài chính, quản lý, sản xuất, nguồn nhân lực,… Qua

đó, cơng ty ngày càng hồn thiện mình, phát triển bền vững, khẳng định được

thương hiệu, uy tín của mình đối với khách hàng, đối tác trong và ngồi nước.

Hoạt động chính chủ yếu là sản xuất và xuất khẩu bao bì nhựa phức hợp cho các

doanh nghiệp từ nước ngồi, cơng ty khơng ngừng vươn lên, cải tiến các quy trình

sản xuất, nâng cao trình độ tay nghề của người lao động, đầu tư vào các trang thiết

bị máy móc sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm, cố gắng thúc đẩy những

phương thức xuất khẩu mang lại lợi nhuận cao cho công ty, chủ động hơn trong

kinh doanh từ nguồn nguyên liệu đầu vào đến việc thiết kế mẫu mã.

Những hạn chế của công ty trong thời điểm hiện tại bắt nguồn từ thực tế ngành cơng

nghiệp sản xuất bao bì nhựa nước ta và cũng từ chính năng lực của cơng ty. Tuy

nhiên, với những cố gắng không ngừng nghỉ, công ty cổ phần Bao Bì Tín Thành đã

hạn chế phần nào những khuyết điểm của mình, phát huy những thế mạnh về các

sản phẩm chủ lực đạt chất lượng tốt, về uy tín, thương hiệu của công ty. Điều này

khiến các đối tác rất tin tưởng, xây dựng được các mối quan hệ làm ăn lâu dài. Tất

cả những điều trên tạo nên nền tảng phát triển vững chắc và ổn định cho các doanh

nghiệp.

Thời gian thực hiện đề án thực hành nghề nghiệp 1 đã giúp em phần nào hiểu rõ

hơn về tình hình xuất khẩu bao bì nhựa của nước ta trong thời gian gần đây, về tình

hình hoạt động hiện tại của công ty, những thành tựu đã đạt được cũng như khó

khăn trong tương lai cần đối mặt, để từ đó đề xuất nên một vài giải pháp thúc đẩy

hoạt động kinh doanh xuất khẩu bao bì nhựa đạt được thành công và hiệu quả trong

tương lai.

Đề án là những phân tích dựa trên những thơng tin và số liệu được cung cấp từ công

ty và kiến thức của bản thân, nên còn mang tính chủ quan, phiến diện, chưa được

hồn thiện. Em mong nhận được những ý kiến đóng góp và chỉ bảo của q thầy cơ

để hồn thiện hơn đề án nghiên cứu của mình.



SVTH : Phạm Ngọc Ái Phương



Trang 44



Thực hành nghề nghiệp 1



GVHD : ThS. Tạ Hoàng Thùy Trang



Em xin chân thành cảm ơn.



TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1. Đoàn Thị Hồng Vân (2013), Quản Trị Xuất Nhập Khẩu, NXB Tổng hợp

2.

3.

4.

5.

6.

7.



Thành Phố Hồ Chí Minh, TP.HCM.

Hà Nam Khánh Giao (2012), Giáo trình Cao học Quản Trị Kinh Doanh Quốc

Tế, NXB Tổng hợp TP.HCM, TP.HCM.

Võ Thanh Thu (2011), Kỹ thuật Kinh doanh Xuất Nhập khẩu, NXBTổng hợp

TP.HCM, TP.HCM.

Phạm Duy Liên (2012), Giáo trình Giao dịch Thương mại Quốc tế, NXB

Thống kê.

Võ Thanh Thu (2010), Kinh tế & Phân tích Hoạt động Kinh doanh Thương

mại, NXB Tổng hợp TP.HCM, TP.HCM.

Dương Hữu Hạnh ( 2010 ), Kinh doanh quốc tế - Thách thức của cạnh tranh

toàn cầu, NXB Thanh niên.

TS. Trần Văn Hòe (2009), Nghiệp Vụ Kinh Doanh Xuất Nhập Khẩu, NXB.

Đại Học Kinh Tế Quốc Dân.



Trang web

1.

2.

3.

4.

5.

6.



Hiệp hội Nhựa Việt Nam http://www.vpas.vn/

Hiệp hội Bao bì Việt Nam http://vinpas.vn/

Tổng cục thống kê http://gso.gov.vn/

Cơng ty cổ phần bao bì Tín Thành http://www.batico.com/

Phòng Thương mại và cơng nghiệp Việt Nam http://vcci.com.vn/

Cục xúc tiến thương mại http://www.vietrade.gov.vn/



SVTH : Phạm Ngọc Ái Phương



Trang 45



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 4 – MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU BAO BÌ NHỰA ĐẾN NĂM 2020

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×