Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2 – TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG HÀ LAN

CHƯƠNG 2 – TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG HÀ LAN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Thực hành nghề nghiệp 1



GVHD : ThS. Tạ Hoàng Thùy Trang



là thâm hụt ngân sách chính phủ gần 4,6% GDP trong năm 2009 và tăng lên

5,6% trong năm 2010 trái ngược với thặng dư 0,7% GDP trong năm 2008. Với

tỷ lệ thất nghiệp chủ yếu thuộc về khu vực tư nhân tiêu dùng, Chính phủ của

Thủ tướng Mark RUTTE đang phải chịu áp lực tăng để giữ mức thâm hụt

ngân sách trong tầm kiểm soát đồng thời thúc đẩy kinh tế phát triển.

Đánh giá kinh tế năm 2013-2015

Theo Cơ quan Thống kê Hà Lan, nước này đã lần đầu tiên trong 5 năm trở lại

đây đưa thâm hụt ngân sách trong năm 2013 xuống thấp hơn mức 3% GDP

theo quy định của Liên minh châu Âu (EU). Cụ thể, thâm hụt ngân sách của

Hà Lan trong năm ngoái đã giảm 9 tỷ euro, từ mức tương đương 4,1% GDP

năm 2012 xuống còn 2,5% GDP. Nguyên nhân chủ yếu của mức giảm đáng kể

này là nhờ nguồn thu ngân sách đã tăng 7 tỷ euro, lên tới 285 tỷ euro năm

ngoái. Tuy nhiên, nền kinh tế của Hà Lan vẫn ở trong tình trạng suy thối

trong phần lớn thời gian của năm ngoái. Kinh tế của Hà Lan đã suy giảm trong

tám quý liên tiếp trước khi tăng trưởng trở lại 0,8% vào cuối năm 2013. Nợ

công tăng 2,2 điểm phần trăm lên 73,5% GDP, cao hơn nhiều so với mức 60%

GDP theo quy định của EU Chính phủ của Thủ tướng Mark Rutte từ đó đã

thực hiện các biện pháp thắt lưng buộc bụng để cải thiện tài chính cơng và

thực hiện các cải cách trong nhiều lĩnh vực quan trọng, trong đó có thị trường

lao động, lĩnh vực nhà đất, thị trường năng lượng, và hệ thống lương hưu. Kết

quả là, thâm hụt ngân sách chính phủ vào cuối năm 2015 giảm xuống còn 2%

GDP. Sau cuộc suy thối kéo dài với tỷ lệ thất nghiệp tăng gấp đôi lên 7,4% và

chi tiêu gia đình giảm liên tiếp trong gần ba năm, đến năm 2014 đã chứng kiến

mức tăng trưởng GDP 1% và các dấu hiệu khả quan ở hầu hết các chỉ tiêu kinh

tế. Các động lực thúc đẩy tăng trưởng bao gồm xuất khẩu tăng và đầu tư kinh

doanh phát triển, cũng như sự kích thích tiêu dùng từ các hộ gia đình. 13

QUAN HỆ KINH TẾ VỚI VIỆT NAM

2.2.1. Hợp tác thương mại

Ngoài phần viện trợ khơng hồn lại, Hà Lan còn có các Chương trình tín dụng

hỗn hợp Miliev và Oret, theo đó Chính phủ Hà Lan viện trợ khơng hồn lại

35% tổng trị giá hợp đồng với nhà thầu Hà Lan (từ 1998 về trước, dự án

Miliev được viện trợ 60% và dự án Oret được viện trợ 45%), còn lại 65% là

đóng góp từ phía Việt Nam. Chương trình này chủ yếu sử dụng cho các dự án

cấp nước, lâm nghiệp, dệt may, sản xuất thức ăn gia súc... Tiêu chuẩn lựa chọn



2.2.



13 Phòng Thương Mại Và Cơng Nghiệp Việt Nam ( VCCI ), Hồ sơ thị trường Hà Lan,



http://vcci.com.vn/ha-lan



SVTH : Phạm Ngọc Ái Phương



Trang 17



Thực hành nghề nghiệp 1



GVHD : ThS. Tạ Hồng Thùy Trang



là các dự án khơng mang tính chất thương mại theo qui định của OCDE, có tác

động tích cực đối với môi trường (Miliev) hoặc không làm hại đến mơi trường

(Oret), ít nhất 60% giá trị giao dịch có xuất xứ từ Hà Lan, gắn liền với chính

sách phát triển và đóng góp vào quan hệ kinh tế Hà Lan - Việt Nam.

Kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và Hà Lan trong các năm gần đây :

2.2.2. Hợp tác đầu







- Các lĩnh vực đầu tư Hà

Lan bao gồm dịch vụ,

quản lý nước, môi trường, gần đây là bán lẻ, bất động sản, nhà ở, đầu tư gián

tiếp...

- Các dự án đầu tư chủ yếu thực hiện tại các tỉnh phía Nam như: Tp HCM, Bà

Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương…Trừ một số dự án dầu khí và bia,

thực phẩm, các dự án đầu tư của Hà Lan nhìn chung có quy mơ vừa và nhỏ.

Nhiều dự án đầu tư hoạt động rất có hiệu quả, với các công ty lớn nổi tiếng



như Heineken (bia Heineken, Tiger, Bivina), Unilever (chất tẩy rửa, hoá mỹ

phẩm, kem Wall), Royal Dutch Shell (dầu khí – cả khai thác và phân phối),

Foremost (sữa), Akzo Nobel Coating (hoá dược), Philips (điện tử),...

- Các doanh nghiệp Việt Nam chưa có dự án đầu tư sang Hà Lan. 14

2.3.



PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG HÀ LAN

2.3.1. Tình hình cung – cầu sản phẩm bao bì trên thị trường

2.3.1.1.

Nhu cầu tiêu dùng :



Doanh thu của thị trường bao bì tồn cầu là 403 tỷ Euro và của thị trường Hà

Lan là 3.6 tỷ Euro. Giấy là vật liệu được sử dụng nhiều nhất trong khi nhựa có

14 Phòng Thương Mại Và Cơng Nghiệp Việt Nam ( VCCI ), Hồ sơ thị trường Hà Lan,



http://vcci.com.vn/ha-lan



SVTH : Phạm Ngọc Ái Phương



Trang 18



Thực hành nghề nghiệp 1



GVHD : ThS. Tạ Hoàng Thùy Trang



giá trị cao nhất. Các ngành công nghiệp thực phẩm và đồ uống là thị trường

cuối cùng quan trọng nhất đối với bao bì nhựa ( khoảng 60% ).15

Bao bì nhựa phải đáp ứng nhiều yêu cầu về vận chuyển, xử lý, tiếp thị, thông

tin, và sử dụng. Những yêu cầu này cho thấy tính linh hoạt các chức năng của

bao bì. Mặt khác, hầu hết người sử dụng bao bì coi nó như là một sản phẩm

với lãi suất thấp

Các nhu cầu dài hạn cho bao bì nhựa là tương đối ổn định: sự thay thế quy mơ

lớn giữa các chất liệu bao bì không phải là dự kiến. Cơ hội dài hạn cho bao bì

nhựa về người tiêu dùng, chủ sở hữu thương hiệu và nhà bán lẻ đang thay đổi

liên tục. Bao bì nhựa có thể trở thành một thị trường nhiềm tiềm năng : nhu

cầu thiết thực hơn về bao bì, thiết kế thương hiệu nổi bật và nâng cao thị hiếu

của khách hàng.

Nhu cầu ngắn hạn là việc tăng trưởng GDP: sản xuất bao bì nhiều hơn và tiêu

thụ mạnh hơn. Với dự báo nền kinh tế có nhiều biến động vào năm 2016, nhu

cầu về bao bì nhựa sẽ giảm nhẹ trong khi lợi nhuận có thể chịu áp lực do chi

phí ngun liệu thơ vẫn ở mức cao và chi phí lao động tăng.



15 All4Pack.com , Packaging: Market And Challenges In 2016,

https://www.all4pack.com/content/location/136757



SVTH : Phạm Ngọc Ái Phương



Trang 19



Thực hành nghề nghiệp 1



GVHD : ThS. Tạ Hoàng Thùy Trang



Tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm Nhựa theo thị trường từ 2010 – 2015

(% tính theo Trị giá)

2.3.1.2.



( Nguồn : Hiệp hội nhựa Việt Nam )



Khả năng cung ứng :



Sản xuất bao bì nhựa được đặt ở phân đoạn tầm trung trong thị trường sản xuất

nguyên vật liệu. Đây là vị trí nói chung tương đối khó khăn như: các nhà cung

cấp chủ yếu là các cơng ty hóa học lớn, khách hàng là các công ty tư nhân và

các nhà bán lẻ, thị trường đa phần đều do các nhà cung cấp lớn nắm giữ.

Ngành cơng nghiệp bao bì nhựa bao phủ rộng: thị phần của 50 nhà sản xuất

hàng đầu châu Âu chiếm 42% của 50 tỷ Euro nhựa đóng gói trên thị trường

Châu Âu. Điều này dẫn đến giá cả cạnh tranh khốc liệt, lợi nhuận khiêm tốn,

tính kinh tế theo qui mô được củng cố liên tục. Tuy nhiên, dựa vào sự phong

phú các loại vật liệu và sản phẩm, cộng thêm thị trường chứng khốn, có thể

xác định các phân đoạn nhỏ của thị trường và tập trung vào những nhóm

khách hàng riêng biệt (thị trường ngách) . Điều này đã hạ nhiệt cho mức độ

cạnh tranh trong các phân đoạn.16

Thị trường bao bì nhựa chủ yếu là một thị trường nội địa (khoảng 400km). 50

công ty hàng đầu châu Âu có tất cả các cơ sở sản xuất ở các nước khác nhau.

Chỉ có mặt hàng thuần túy như túi nylon được sản xuất ở các nước châu Á có

chi phí thấp và được giao dịch trên tồn cầu.

Thị trường bao bì nhựa ở Hà Lan chiếm phần nhỏ doanh thu so với nền kinh tế

Hà Lan. Hầu hết các nhà sản xuất Hà Lan là doanh nghiệp vừa và nhỏ phục vụ

cho thị trường Hà Lan và lân cận. Còn số doanh nghiệp có tổng doanh thu trên

50 triệu USD chỉ chiếm rất ít.

Việc sản xuất bao bì nhựa có đặc điểm là: chi phí ngun vật liệu cao (trung

bình 45%) và tâp trung nhiều vốn. Giá nguyên liệu không ổn định mà kết quả

trong bán hàng cao và biến động lợi nhuận. Nó cũng làm cho việc mua sắm và

ký kết hợp đồng thậm chí quan trọng hơn. Kết quả của việc tập trung nguồn

vốn lớn sẽ làm dao động và biến đổi các mục chi phí cố định.17

16 Rabobank, Unpacking the Dutch plastics packaging industry,



http://www.vmt.nl/Nieuws/~/media/0009DEF665C6266E16E81EE77B75C006.ashx

17 Rabobank, Unpacking the Dutch plastics packaging industry,



http://www.vmt.nl/Nieuws/~/media/0009DEF665C6266E16E81EE77B75C006.ashx



SVTH : Phạm Ngọc Ái Phương



Trang 20



Thực hành nghề nghiệp 1



GVHD : ThS. Tạ Hồng Thùy Trang



2.3.2. Tình hình cạnh tranh trên thị trường



Đối thủ cạnh tranh của các nhà sản xuất của Việt Nam là từ khu vực Đông

Nam Á, bao gồm Thái Lan, Malaysia và Singapore. Trung Quốc và Ấn Độ

cũng là đối thủ cạnh tranh nhưng lại ở góc độ khác, và Pakistan thì ở mức độ

thấp hơn. Thổ Nhĩ Kỳ là đối thủ mạnh đối với sản phẩm túi container (FIBC).

Tham vấn với các nhà sản xuất bao bì nhựa Việt Nam cho thấy rằng Trung

Quốc có vẻ không phải là đối thủ hàng đầu. Trung Quốc, với năng suất sản

xuất cao, thường nhắm vào các thị trường có quy mơ lớn chứ khơng phải là

các thị trường ngách nhỏ với những yêu cầu chất lượng cao mà các nhà sản

xuất của Việt Nam đang hướng tới.

Các nhà sản xuất ở Châu Âu, Nhật Bản và Bắc Mỹ không phải là những đối

thủ cạnh tranh trực tiếp mặc dù họ sẽ bảo vệ vị trí của họ bằng cách yêu cầu

những động thái can thiệp của chính phủ khi có bằng chứng rằng họ đang bị

cạnh tranh không công bằng tại sân nhà.



2.3.3. Các qui định pháp lý liên quan đến mặt hàng bao bì



Yêu cầu pháp lý EU đối với các sản phẩm là bắt buộc đối với tất cả các

nguyên liệu và sản phẩm bao bì nhựa được xuất khẩu sang EU. Các yêu cầu

này bao gồm tiêu chuẩn về môi trường, sức khoẻ và an toàn của người tiêu

dùng. Các yêu cầu liên quan tới môi trường phải được áp dụng cho tất cả các

loại nguyên liệu và sản phẩm bao bì nhựa để gói đồ ăn. Ví dụ, u cầu hợp

pháp về chất nguy hiểm như là việc sử dụng các loại mực chứa kim loại

nặng.18

Yêu cầu về môi trường

Yêu cầu pháp lý về mơi trường, phần 4 cuả Nghị định 2004/12/EC hồn thiện

Nghị định số 94/62/EC kêu gọi đẩy mạnh việc tái chế tổng thể và các mục tiêu

khôi phục với mục tiêu tái chế nguyên liệu cùng với mỗi nguyên liệu đóng gói,

2.3.3.1.



18 Cục Xúc tiến Thương mại ( Vietrade ) , Hướng dẫn Tiếp thị Xuất khẩu cho Doanh nghiệp sản



xuất bao bì nhựa Việt Nam, http://www.vietrade.gov.vn/ket-qua-du-an/category/7-nganh-nh.html?

download=12%3Ahuong-dan-tiep-thi-xuat-khau-cho-nganh-nhua-viet-nam



SVTH : Phạm Ngọc Ái Phương



Trang 21



Thực hành nghề nghiệp 1



GVHD : ThS. Tạ Hồng Thùy Trang



60% cho kính, giấy và bìa, 50 % cho kim loại, 22.5% cho nhựa, 15% cho gỗ.

Cũng có thể cân nhắc việc đốt để lấy năng lượng như là một cách để khôi phục

(cũng được gọi là khôi phục năng lương). Bắt buộc phải ghi mác nguyên liệu

đóng gói. Việc các nhà xuất khẩu Việt Nam sẽ biết nguyên liệu và sản phẩm

bao bì nhựa được đặt ở thùng tái chế hay thùng phục hồi năng lượng phụ thuộc

vào loại bao bì nhựa được nói tới và nó sẽ được thiết kế để tái chế. Nó cũng sẽ

được thiết kế một cách thống nhất và rất nhẹ nhằm tiết kiệm nguyên liệu.

Nghị định này quy định cụ thể trong Phụ lục II các yêu cầu cần thiết cần đáp

ứng về bao bì để đảm bảo tiếp cận được với thị trường EU có thể được tóm tắt

như sau:

- Bao bì được sản xuất sao cho số lượng và cân nặng giới hạn ở mức tối thiểu

để duy trì mức độ an toàn, vệ sinh và chấp nhận đối với sản phẩm được đóng

gói và với khách hàng.

- Bao bì phải được thiết kế, sản xuất và thương mại hố theo cách mà có thể sử

dụng lại bao gồm tái chế, và hạn chế tác hại đối với môi trường khi bao bì

hoặc rác thải từ việc sản xuất bao bì thải ra mơi trường.

- Bao bì phải được sản xuất sao cho hạn chế sử dụng các chất và nguyên liệu

độc hại, cũng như hạn chế mùi, tro hoặc leachte của nguyên liệu và các chất

cấu thành. Các chất thừa gói hàng hoặc chất thải khi sản xuất bao bì phải được

đốt hoặc lấp. Chú ý mỗi thành phần bao gói phải tuân thủ theo giới hạn 100

ppm cho 4 kim loại nặng và hạn chế sử dụng các chất nguy hiểm.

- Bao gói phải có thể tái sinh dưới dạng tái chế nguyên liệu, phục hồi năng

lượng.

Yêu cầu về bao gói thực phẩm

Đề cập tới vấn đề an tồn, luật bao gói thực phẩm và Siêu luật đã đưa ra các

Nghị định cụ thể đặc biệt đề cập tới việc di chuyển của chất dẻo (Nghị định

Nhựa 2002/72/EC) liên quan tới các nguy cơ độc hại và sự ảnh hưởng của bao

gói và thực phẩm về thời hạn sử dụng và khái niệm rào cản chức năng (Quy

định 2004/1935/EC cho biết bao bì đóng gói sản phẩm phải ghi rõ xuất xứ).

Các nhà sản xuất bao bì nhựa Việt Nam phải đảm bảo bao bì đóng gói thực

phẩm phải phù hợp với chứng nhận của các nhà cung cấp nhựa của họ, ví dụ,

các cơng ty hố chất chính với các nhà cung cấp phụ gia và ngun liệu thơ

khác của họ ví dụ cơng ty sản xuất mực để đảm bảo rằng khơng có chất tái chế

trong sản phẩm đóng gói thực phẩm và rằng quy trình sản xuất được tiến hành

rất chuyên nghiệp.

Quy tắc về bao bì đóng gói thực phẩm như trên đề cập tới giới hạn chuyển đổi

là 60mg (chất rắn) trên 1 kg thực phẩm hoặc loại giống như thực phẩm đề tất

cả chất chuyển đổi từ nguyên liệu vào thực phẩm. Danh sách chất tổng hợp và

2.3.3.2.



SVTH : Phạm Ngọc Ái Phương



Trang 22



Thực hành nghề nghiệp 1



GVHD : ThS. Tạ Hoàng Thùy Trang



các chất ban đầu cùng với số lượng cho phép sử dụng đều được cung cấp.

Danh sách các chất phụ gia được sử dụng và số lượng cho phép sử dụng cũng

sẽ được cung cấp cụ thể. Bên cạnh đó cũng có danh sách cấp quốc gia các chất

phụ gia cho phép sử dụng cấp.

Nghị định 2002/72/EC được sửa đổi từ Nghị định 2004/1/EC mà đình chỉ việc

sử dụng chất azodicarbonamide từ ngày 2 tháng 8 năm 2005. Một Nghị định

sửa đổi khác (2004/19/EC) cung cấp một danh sách các chất phụ gia được

phép sử dụng. Theo Nghị định 2004/19/EC thì đối với số lượng chất phụ gia

của nguyên liệu sản xuất bao bì gói thực phẩm chất mà được coi là chất phụ

gia thực phẩm trực tiếp thì giới hạn sử dụng sẽ chặt chẽ hơn. Chúng không có

chức năng kỹ thuật nào đối với thực phẩm.



Sự tác động giữa thực phẩm và nguyên liệu đóng gói



Sự di chuyển hay chuyển đổi thành phần của bao gói sang thực phẩm,



Sự thẩm thấu các khí, hơi nước, các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi qua

bao gói và thốt ra ngoài hoặc thấm vào trong thực phẩm,



Chuyển đổi thành phần trong thực phẩm vào nguyên liệu bao gói.



2.4.



DỰ BÁO TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG TRONG THỜI GIAN ĐẾN

2020



Hiện nay, sản phẩm nhựa của Việt Nam đã xuất khẩu đến 159 thị trường trên

thế giới. Tuy nhiên, dù có sự phát triển mạnh trong những năm gần đây nhưng

ngành nhựa chủ yếu vẫn chỉ được biết đến như một ngành kinh tế kỹ thuật về

gia cơng chất dẻo, vì phải nhập khẩu đến 80% nguyên liệu. Hiện mỗi năm

ngành nhựa cần 3,5 triệu tấn các loại nguyên liệu đầu vào chưa kể hàng trăm

hóa chất phụ trợ khác trong khi khả năng trong nước chỉ đáp ứng gần 900.000

tấn nguyên liệu và hóa chất phụ gia cho nhu cầu.

Dự báo đến năm 2020, doanh nghiệp ngành nhựa Việt Nam sẽ cần khoảng 5

triệu tấn nguyên liệu để phục vụ cho hoạt động sản xuất. Tuy nhiên, năng lực

cung ứng đầu vào thấp, công nghiệp hỗ trợ ngành nhựa chưa phát triển. Hàng

năm các doanh nghiệp phải nhập khẩu 70-80% nguyên liệu đầu vào làm giảm

sức cạnh tranh, doanh nghiệp xuất khẩu khó tận dụng được ưu đãi thuế do quy

định liên quan đến xuất xứ hàng hóa.19



19 Hiệp hội nhựa Việt Nam, Tổng Quan Ngành Nhựa Việt Nam,



http://www.vpas.vn/gioi-thieu/tong-quan-nganh.html



SVTH : Phạm Ngọc Ái Phương



Trang 23



Thực hành nghề nghiệp 1



GVHD : ThS. Tạ Hoàng Thùy Trang



Kỳ vọng lớn nhất cho ngành sản xuất nhựa Việt Nam vẫn là 3 Hiệp định

thương mại EVFTA, TPP và RCEP đang trong giai đoạn đàm phán cuối cùng.

Với RCEP, doanh nghiệp Việt Nam sẽ mở rộng phạm vi khu vực nguồn

nguyên liệu được đảm bảo yêu cầu quy tắc xuất xứ để được hưởng mức ưu đãi

thuế xuất khẩu.

Cụ thể, nếu nguồn nguyên liệu sản xuất của các doanh nghiệp Việt Nam được

nhập từ một trong 16 nước (10 nước khu vực Đông Nam Á và 6 nước cộng

thêm là Trung Quốc, Australia, Newzeland, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản) thì

đều đáp ứng tiêu chuẩn quy tắc xuất xứ. Đặc biệt, cùng với Hiệp định thương

mại RCEP, Hiệp định thương mại Việt Nam - EU và TPP thông qua, sản phẩm

Việt Nam sẽ tăng khả năng cạnh tranh khi xuất khẩu sang những thị trường

trên nhờ được giảm thuế còn từ 5% đến 0%.



CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CHO BAO BÌ CỦA VIỆT NAM

TRÊN THỊ TRƯỜNG HÀ LAN

2.5.1. Cơ hội

Sự hỗ trợ của các tổ chức ngành – Hiệp Hội Nhựa Việt Nam

Hiệp Hội Nhựa Việt Nam (VPA) phải là cầu nối đầu tiên khi xuất khẩu được

quyết định là cơ hội mang tính phát triền. Trở thành thành viên của hiệp hội

này mang đến lợi ích, đặc biệt là với kinh nghiệm nhiều năm của VPA, VPA có

được thơng tin từ những thương vụ với nước ngoài trước đây, từ những yêu

cầu, và từ kinh nghiệm của những thành viên khác. Khả năng sử dụng thông

tin này có thể tiết kiệm thời gian và cơng sức trong quá trình xuất khẩu. Việc

tận dụng tất cả các dịch vụ như vậy là hồn tồn có thề.

Với tinh thần đó, việc kinh doanh của Việt Nam và các sản phẩm đặc trưng

của ngành cơng nghiệp vật liệu đóng gói nhựa Việt Nam chính là một phần

trong hoạt động của Hiệp Hội Nhựa Việt Nam, điều này sẽ đem đến lợi ích

cho từng nhà sản xuất.



2.5.



Biểu trưng quan trọng về khả năng cạnh tranh, logo chung, màu và khẩu hiệu

chung, cùng với tất cả biểu trưng chung cho các nhà sản xuất vật liệu đóng gói

nhựa Việt Nam đáng được chia sẻ và tận dụng một cách hệ thống. Các buổi

họp về ngành kinh doanh này được tổ chức dưới sự chủ trì của Hiệp Hội Nhựa

Việt Nam và Cục xúc tiến Thương mại ( Viettrade) đã nhấn mạnh vào một loạt



SVTH : Phạm Ngọc Ái Phương



Trang 24



Thực hành nghề nghiệp 1



GVHD : ThS. Tạ Hoàng Thùy Trang



các đặc điểm biểu hiện chung cho tất cả các nhà sản xuất và những thứ có thể

sử dụng trong xúc tiến chung, ví dụ như sự quan tâm đối với chất lượng sản

phầm nhờ vào lực lượng lao động và thông qua việc sử dụng các quy trình

đánh giá, nhờ đó có được sự quản lí chất lượng có tính hệ thống và chuẩn bị

cho sự theo dõi việc giao nhận một cách đầy đủ cũng như những biến động

trong sản xuất, và điều này rất hữu dụng để hoàn thành các đơn hàng trong

thời gian ngắn và đáp ứng yêu cầu thời gian.

2.5.2. Thách thức :



Tuy ngành nhựa là một trong những ngành cơng nghiệp có tăng trưởng cao

nhất Việt Nam, với những điểm yếu chưa khắc phục, nhất là nguồn nguyên

liệu, các doanh nghiệp (DN) nhựa nội địa đang đối mặt cạnh tranh quyết liệt

các DN trong khu vực Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) khi hàng rào phi

thuế quan được dỡ bỏ.

Có nhiều sản phẩm nhựa gia dụng của DN Việt đã xuất khẩu đi nhiều nước

trên thế giới, tuy nhiên giá trị mang lại chưa cao vì vẫn cạnh tranh ở phân khúc

thấp.

Theo Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA), dự báo đến năm 2020, các DN ngành

nhựa Việt Nam sẽ cần khoảng 5 triệu tấn nguyên liệu để phục vụ cho sản xuất.

Theo lãnh đạo VPA, khả năng trong nước mới chỉ đáp ứng được khoảng gần

900.000 tấn nguyên liệu và hoá chất, phụ gia cho nhu cầu ngành nhựa nội địa.

Ngành nhựa hiện nay mới chỉ chủ động được khoảng 20% – 25% nguyên liệu

cũng như hố chất phụ gia đầu vào. Còn lại phải nhập khẩu hoàn toàn khiến

cho hoạt động sản xuất của ngành bị phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nguyên

liệu và các bán sản phẩm từ nước ngoài.

Hiện nay, mỗi năm ngành nhựa cần trung bình khoảng 3,5 triệu tấn các loại

nguyên liệu đầu vào như PE, PP, PS…, chưa kể hàng trăm loại hố chất phụ

trợ khác nhau. Trong khi đó, khả năng trong nước mới chỉ đáp ứng được

khoảng gần 900.000 tấn nguyên liệu và hoá chất, phụ gia cho ngành nhựa.

Đó là chưa kể, việc thâu tóm DN ngành nhựa được dự đoán sẽ tiếp diễn trong

năm 2016, sau khi AEC có hiệu lực và chuẩn bị cho TPP sắp tới.

Theo giới chuyên gia, các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) có thể thúc đẩy

tăng trưởng sản lượng nhựa xuất khẩu. Tuy nhiên, điều này sẽ làm tăng áp lực



SVTH : Phạm Ngọc Ái Phương



Trang 25



Thực hành nghề nghiệp 1



GVHD : ThS. Tạ Hoàng Thùy Trang



cạnh tranh tại thị trường Việt Nam. Thuế nhập khẩu hạt nhựa PP dự kiến tăng

từ 2% lên 3% trong năm 2016.20

Để hội nhập hiệu quả, ngành nhựa cần hướng đến việc tự chủ hơn về nguồn

nguyên liệu, cải tiến sản phẩm, tiến tới thâm nhập, mở rộng thị trường. Trong

q trình đó, ngành nhựa khơng chỉ cần có giá cả cạnh tranh mà quan trọng

hơn vẫn là chất lượng.

Với triển vọng triển khai và hoàn tất 14 hiệp định thương mại tự dao (FTA)

trong giai đoạn đến 2020, ngành nhựa cần nghiêm túc xem xét việc đầu tư

máy móc cần thiết dể nâng tầm chất lượng sản xuất sản phẩm cũng như có sự

liên kết đầu tư.

Để tận dụng tối đa những lợi thế phát triển, các DN nhựa sẽ phải thúc đẩy

nhanh khâu cải tiến, đầu tư công nghệ mới, mạnh dạn đầu tư đổi mới dây

chuyền sản xuất sang ngành nhựa kỹ thuật cao, nâng cao giá trị gia tăng của

ngành.

CHƯƠNG 3 – PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU BAO BÌ CỦA

CƠNG TY TÍN THÀNH SANG THỊ TRƯỜNG HÀ LAN

3.1.

-



TỔNG QUAN VỀ CƠNG TY CỔ PHẦN BAO BÌ TÍN THÀNH

3.1.1. Vài nét chính về cơng ty

Tên cơng ty : Cơng Ty Cổ Phần Bao Bì Tín Thành

Tên viết tắt : BATICO

Tên giao dịch : Tin Thanh Packing Joint Stock Company

Trụ sở chính : Lơ C20, cụm Cơng Nghiệp Nhựa Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa,

tỉnh Long An, Việt Nam

Điện Thoại : +84 (0) 72 377 97 47 - +84 (0) 72 377 97 57

Fax : +84 (0) 72 377 97 50

Email : tinthanh@batico.com

Website : http://www.batico.com

3.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của cơng ty Tín Thành :

- Năm 1995: Công ty được thành lập – tại một Nhà xưởng nhỏ 2,500m2 tại

Quận 11 – Thành phố Hồ Chí Minh. Là một trong những Cơng ty bao bì nhựa

mềm phức hợp tư nhân đầu tiên tại Việt Nam.



20 Thời Báo Kinh Doanh, Lo nguyên liệu “làm khó” ngành nhựa,



http://thoibaokinhdoanh.vn/Lang-kinh-8/Lo-nguyen-lieu-%E2%80%9Clam-kho%E2%80%9Dnganh-nhua-21990.html



SVTH : Phạm Ngọc Ái Phương



Trang 26



Thực hành nghề nghiệp 1



GVHD : ThS. Tạ Hoàng Thùy Trang



- Từ năm 1995 đến 2000: hoạt động gặp nhiều khó khăn do non kém về kinh

nghiệm quản lý và kỹ thuật. Nhưng là nền móng cho những năm sau này với

đội ngũ cán bộ công nhân viên trung thành, gắn bó với Cơng ty.

- Năm 2000: đổi cơ cấu chủ sở hữu – với các nhà đầu tư mới, cách quản lý

mới.

- Năm 2002: đổi cơ cấu chủ sở hữu lần 2.

- Năm 2005: dây chuyền sản xuất thứ 2 được lắp đặt, tại Nhà máy cũ tại Thành

phố Hồ Chí Minh. Cơng ty được đánh giá chứng nhận ISO 9001:2000.

- Năm 2007: bắt đầu xây dựng Nhà máy mới – Nhà máy và trụ sở chính hiện

tại – Tại Đức Hòa Long An trên diện tích đất 18,500m2. Một dây chuyền sản

xuất mới hồn tồn với Cơng nghệ tầm khu vực từ Ý – Hàn Quốc cũng được

đầu tư và lắp đặt ngay sau khi Nhà máy hoàn thiện.

- Năm 2008: di dời mọi thiết bị, văn phòng,… từ Nhà máy cũ sang Nhà máy

mới.

- Năm 2009 – 2010: Thay đổi mơ hình Cơng ty từ Trách nhiệm hữu hạn sang

Công ty Cổ phần. Tiếp tục các thiết bị bao bì từ Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc

được đầu tư, bao gồm phòng thí nghiệm đáp ứng các yêu cầu test – quản lý

chất lượng.

- Năm 2011: Thành lập Văn phòng tại Châu Âu: Batico Europe – Tại Wijchen

– Hà Lan. Công ty cũng được đánh giá chứng nhận: ISO 22000:2005 (gồm

HACCP và GMP), ISO 14000:2004 và SA 8000:2008.

- Năm 2012: đánh dấu mức doanh thu đạt gấp 9 lần so với doanh thu năm

2005.

- Năm 2013 : dây chuyền sản xuất hiện đại từ Đức – Nhật được lắp đặt. Sản

phẩm được sử dụng rộng rãi tại nội địa cũng như xuất khấu đến Châu Âu, Mỹ,

Nhật và các Quốc gia lân cận như Lào, Campuchia, Thái Lan, Phillipines, Úc,



- Năm 2015, 20 năm thành lập công ty, BATICO trở thành một trong những

công ty sản xuất bao bì phức hợp lớn nhất Việt Nam.



SVTH : Phạm Ngọc Ái Phương



Trang 27



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2 – TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG HÀ LAN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×