Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU BAO BÌ NHỰA

CHƯƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU BAO BÌ NHỰA

Tải bản đầy đủ - 0trang

Thực hành nghề nghiệp 1



GVHD : ThS. Tạ Hoàng Thùy Trang



1.1.2. Vai trò xuất khẩu bao bì



Trong nền kinh tế hàng hoá, hầu hết các sản phẩm đều phải dùng đến bao bì để

bao gói. Việc bao gói hàng hố khơng chỉ để chứa đựng sản phẩm mà còn

được sử dụng cho nhiều mục đích. Có thể nói chỉ trong điều kiện kinh tế thị

trường, bao bì mới phát huy hết các chức năng của nó và nó có vai trò rất to

lớn đối với các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại.

Bao bì là một trong những phương tiện quan trọng để giữ gìn nguyên vẹn số

lượng và chất lượng sản phẩm hàng hoá, giảm mất mát, hao hụt và được coi là

một yếu tố trực tiếp thực hiện tiết kiệm lao động xã hội.

Bao bì đảm bảo cho hàng hố được an tồn trong các khâu lưu chuyển của nó.

Trong lĩnh vực xếp dỡ, vận chuyển, bao bì như một “lớp bảo vệ” vững chắc

ngăn cản sự tác động cơ học giữa các bao bì khác nhau (sự chèn, nén, va đập

do chất xếp và sự di chuyển của các phương tiện vận tải). Điều đó cũng có

nghĩa bao bì góp phần tích cực vào việc ngăn chặn ảnh hưởng có hại đến chất

lượng hàng hoá, tránh được đổ vỡ, dập nát, cong vênh các hàng hố chứa đựng

bên trong bao bì. Bao bì hàng hố bảo vệ và duy trì “sự sống” của sản phẩm.

Từ lâu các nhà kinh tế bao bì đã đánh giá: vai trò của bao bì là để bảo quản,

bảo vệ hàng hoá, là yếu tố để tiết kiệm của cải xã hội. Hiện nay, ở các nước

đang phát triển tỷ lệ hư hại sản phẩm chế biển sẵn và các mặt hàng lương thực,

thực phẩm khác trong toàn bộ khâu phân phối được đánh giá vào khoảng 20 25%. Đây là một con số rất lớn và đáng báo động. Nguyên nhân quan trọng

nhất gây hư hỏng, thối rữa lương thực, thực phẩm là do sự tấn công của cơn

trùng, vật gặm nhấm, chim chóc. Khâu mất mát nhiều nhất là khâu lưu kho

hay trước khi hàng hoá được vận chuyển từ nhà sản xuất đến nơi tiêu thụ, cảng

xuất khẩu. Một nguyên nhân khác gây ra hư hại hàng hố là do chất lượng bao

bì kém, khơng đảm bảo các yêu cầu của quy phạm chất xếp, độ bền vững thấp.

Việc tổ chức đóng gói, tổ chức bốc xếp không hợp lý cũng gây ra những tác

động xấu đến cơng tác bảo quản hàng hố, phương thức vận chuyển hàng hố

và bao bì khơng hợp lý đã gây ra hiện tượng sản phẩm bị hư nát là phổ biến.5

Bao bì là một trong những phương tiện quan trọng thực hiện thông tin quảng

cáo sản phẩm, hướng dẫn sử dụng, là hình thức phục vụ văn minh khách hàng

và trong buôn bán quốc tế.

5 Saga, Câu chuyện về bao bì hàng hóa, http://www.saga.vn/cau-chuyen-ve-bao-bi-hang-hoa-phan-



ii-vai-tro-cua-bao-bi-trong-hoat-dong-kinh-d~42226



SVTH : Phạm Ngọc Ái Phương



Trang 8



Thực hành nghề nghiệp 1



GVHD : ThS. Tạ Hoàng Thùy Trang



Trong nền kinh tế hàng hoá, sản phẩm được sản xuất ra với số lượng vô cùng

lớn với vô vàn quy cách chủng loại. Trong đống khổng lồ hàng hoá như vậy,

người tiêu dùng sẽ lựa chọn như thế nào? Cái gì là tín hiệu đầu tiên để khách

hàng tìm kiếm sản phẩm theo u cầu của họ? Đó chính là bao bì hàng hố.

Khách hàng dựa vào bao bì để tìm ra những sản phẩm mà họ cần.

Bao bì một loại sản phẩm nhất định trở thành ấn tượng quen thuộc của những

người mua sắm thường xuyên, trở thành tiềm thức của mỗi khách hàng khi lựa

chọn hàng hoá, để phân biệt sản phẩm này với sản phẩm khác, sản phẩm của

doanh nghiệp này với sản phẩm của doanh nghiệp khác.

Trong thương mại quốc tế, bao bì hàng hố được xem là một tiêu chuẩn chất

lượng quan trọng. ở các nước phát triển, khi hình thức bán hàng đã đạt tới

trình độ cao thì chức năng bán hàng của bao bì rất được chú ý. Kéo theo đó

những u cầu quảng cáo, thơng tin của bao bì, cách bao gói, các ký mã hiệu,

nhãn hiệu... cần phải tuân thủ các thông lệ quốc tế và luật pháp của các nước

nhập khẩu. Bao bì được tiêu chuẩn hố là tiếng nói chung của các quốc gia

trong lĩnh vực lưu thông, buôn bán quốc tế. Nhờ đó thúc đẩy hoạt động xuất

nhập khẩu giữa các nước.

1.1.3. Các hình thức xuất khẩu bao bì :

Cùng với quá trình phát triển lâu dài của mình, các hình thức kinh doanh xuất

khẩu ngày càng trở nên phong phú và đa dạng. Hầu hết các hình thức đều cố

gắng khai thác tối đa những lợi thế do xuất khẩu mang lại. Tuy nhiên trong

điều kiện nền kinh tế còn yếu như nước ta, các hình thức xuất khẩu của các

doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu còn nghèo nàn và chưa sử dụng

được các nguồn lực trong nước để xuất khẩu có hiệu quả cao như các nước

khác trong khu vực.

Hoạt động xuất khẩu ở nước ta bao gồm các hình thức chủ yếu sau đây:

-



Xuất khẩu trực tiếp:



Xuất khẩu trực tiếp hay còn gọi là giao dịch trực tiếp. Theo GS.TS Võ Thanh

Thu (2011): “Giao dịch trực tiếp là hình thức giao dịch, trong đó người bán

(người sản xuất, người cung cấp) và người mua quan hệ trực tiếp với nhau

(bằng cách gặp mặt, qua thư từ, điện tín) để bàn bạc thỏa thuận về hàng hóa,

giá cả và các điều kiện giao dịch khác”. 6

6 Võ Thanh Thu (2011), Kỹ thuật Kinh doanh Xuất Nhập khẩu, NXB Tổng hợp TP.HCM



SVTH : Phạm Ngọc Ái Phương



Trang 9



Thực hành nghề nghiệp 1



GVHD : ThS. Tạ Hoàng Thùy Trang



Ưu điểm của hình thức này là giảm được chi phí trung gian, doanh nghiệp có

thể chủ động hơn trong việc thâm nhập thị trường nước ngoài. Tuy nhiên, xuất

khẩu trực tiếp đòi hỏi khối lượng giao dịch phải lớn để bù đắp chi phí giao

dịch, các cán bộ xuất nhập khẩu phải có đủ năng lực, trình độ và kinh nghiệm

khi thực hiện giao dịch.

-



Xuất khẩu ủy thác :



Xuất khẩu ủy thác còn gọi là xuất khẩu gián tiếp. Đây là hoạt động bán hàng

hoá hoặc dịch vụ của doanh nghiệp ra nƣớc ngồi thơng qua trung gian (đơn

vị xuất khẩu nhận ủy thác).

PGS.TS Phạm Duy Liên cho rằng: “Do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho

doanh nghiệp khơng thể có mối liên hệ trực tiếp với thị trường,bạn hàng ,do

vậy họ sử dụng các hình thức xuất khẩu gián tiếp qua người thứ ba: mua bán

qua trung gian thƣơng mại, tham gia đấu giá, mua bán ở sở giao dịch hàng

hóa…Những nguyên nhân gặp phải trong kinh doanh thường là do tính chất

của hàng hóa, do khơng am hiểu thị trường, khơng có thời gian nghiên cứu,

thâm nhập thị trường, do các quy định của luật pháp,…”7

Trong hình thức này, đơn vị xuất khẩu nhận ủy thác nhận xuất khẩu một lô

hàng nhất định với danh nghĩa của mình và nhận được một khoản thù lao theo

thỏa thuận với đơn vị có hàng xuất khẩu (bên ủy thác). Các trung gian mua

bán (như đại lý, doanh nghiệp quản lý xuất nhập khẩu và doanh nghiệp kinh

doanh xuất nhập khẩu) khơng chiếm hữu hàng hố của doanh nghiệp mà trợ

giúp doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá sang thị trường nước ngồi.

Hình thức này giúp cho doanh nghiệp giảm bớt rủi ro khi thâm nhập thị

trường nước ngoài, giảm bớt các chi phí giao dịch và khơng cần phải có nhiều

kinh nghiệm trong cơng tác xuất nhập khẩu. Nhược điểm của xuất khẩu ủy

thác đó là lợi nhuận bị chia sẻ, doanh nghiệp ủy thác không chủ động trong

việc tiêu thụ sản phẩm bởi họ không trực tiếp liên hệ với khách hàng và thị

trường nước ngoài.

-



Xuất khẩu tự doanh



7 Phạm Duy Liên (2012), Giáo trình Giao dịch Thương mại Quốc tế, NXB Thống kê.



SVTH : Phạm Ngọc Ái Phương



Trang 10



Thực hành nghề nghiệp 1



GVHD : ThS. Tạ Hoàng Thùy Trang



Theo GS. TS. Võ Thanh Thu (2010) 8thì xuất khẩu tự doanh “là hình thức

doanh nghiệp tự tạo ra sản phẩm (tổ chức thu mua hoặc tổ chức sản xuất), tự

tìm kiếm khách hàng để xuất khẩu” Xuất khẩu tự doanh là hoạt động xuất

khẩu độc lập và trực tiếp của một doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải chịu tất cả

mọi việc từ nghiên cứu thị trường, tìm nguồn hàng cho đến việc ký kết và thực

hiện hợp đồng. Hình thức xuất khẩu này phù hợp với những doanh nghiệp lớn,

chất lƣợng sản phẩm của họ có uy tín, hình thức xuất khẩu tự doanh có thể

đảm bảo cho cơng ty đẩy mạnh thâm nhập thị trƣờng thế giới. Tuy nhiên, xuất

khẩu tự doanh có một số nhược điểm như chi phí kinh doanh bỏ ra cao, đòi hỏi

doanh nghiệp phải có nguồn vốn lớn, có thương hiệu, mẫu mã, kiểu dáng cơng

nghiệp riêng. Ngồi ra, hình thức này cũng chứa đựng nhiều rủi ro do mọi giai

đoạn xuất khẩu doanh nghiệp đều phải đảm nhận.

-



Gia công quốc tế:



Theo GS.TS Võ Thanh Thu (2010) thì “Gia cơng hàng xuất khẩu là phương

thức sản xuất hàng xuất khẩu mà trong đó người đặt gia cơng ở nước ngồi

cung cấp: máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu hoặc bán thành phẩm theo mẫu

và định mức cho trước. Người nhận gia công trong nước tổ chức quá trình sản

xuất sản phẩm theo yêu cầu của khác. Toàn bộ sản phẩm làm ra người nhận

gia công sẽ giao lại cho người đặt gia công để nhận tiền công.”

Gia công quốc tế là hoạt động xuất nhập khẩu gắn liền với hoạt động sản xuất,

thị trường nước ngoài là nơi cung cấp nguyên vật liệu cũng chính là nơi tiêu

thụ mặt hàng đó, đồng thời nó có tác dụng là xuất khẩu lao động tại chỗ,

trường học về kỹ thuật và quản lý và là q trình tích luỹ vốn cho những nước

ít vốn.

1.1.4. Qui trình hoạt động xuất khẩu bao bì



Bước 1 : Bộ phận kinh doanh gửi kế hoạch xuất khẩu cho bộ phận Xuất nhập

khẩu

1.Thơng tin làm thủ tục chứng từ: hóa đơn chiếu lệ, đơn đặt hàng, đơn xác

nhận bán hàng, phụ lục, hợp đồng......

2. Phiếu thông tin kế hoạch xuất hàng .

8 Võ Thanh Thu (2010), Kinh tế & Phân tích Hoạt động Kinh doanh Thƣơng mại, NXB Tổng hợp,



TP.HCM.



SVTH : Phạm Ngọc Ái Phương



Trang 11



Thực hành nghề nghiệp 1



GVHD : ThS. Tạ Hoàng Thùy Trang



Bước 2 : Bộ phận sản xuất cung cấp thông tin cho bộ phận Xuất nhập khẩu

Tổ đóng gói/Thành phẩm/Máy thổi..: nhập thơng tin số liệu hàng xuất chính

thức bằng cách cập nhật "Phiếu đóng gói hàng hóa C" trên phần mềm hoặc

bằng file giấy

Bước 3 : Bộ phận Xuất nhập khẩu làm thủ tục xuất khẩu và báo chi tiết giao

hàng. Trong quá trình tiếp nhận thông tin từ bước 1 đến bước 2 sẽ thông báo

cho các bộ phận liên quan như Kinh doanh, Kế Hoạch Giao Hàng, Kế Toán,

Sản Xuất, Kho, Giám sát chất lượng các thông tin như: ngày giao hàng, ngày

đóng container, ngày cutoff .....chậm nhất 12h làm việc trước ngày giao hàng.

1.2.



TỔNG QUAN VỀ SẢN XUẤT BAO BÌ TẠI VIỆT NAM

1.2.1. Sự hình thành và phát triển của ngành hàng



Ngày nay, ngành sản xuất Bao bì như chúng ta biết là kết quả của một quá

trình phát triển lâu dài. Nó là sản phẩm ra đời từ thành quả của nghiên cứu

liên tục nhằm tìm kiếm các phương pháp tốt hơn cho việc sản xuất bao bì hàng

hố khác nhau mục đích bảo vệ tốt nhất cho hàng hóa .

Trở lại trong chiều sâu của thời tiền sử , những người dân đầu tiên trên trái đất

đã tìm cách bảo tồn những thức ăn dư thừa của họ thu thập được trong quá

trình săn bắn, câu cá trong thời gian lâu nhất có thể và cũng để được chuẩn bị

tốt cho bất kỳ sự thiếu lương thực trong tương lai. Họ đã sử dụng lá cây, giỏ

vải dệt thoi và da động vật để lưu trữ thực phẩm của họ. Đất nung được sử

dụng để chứa chất lỏng.

Những bao bì cổ xưa như chậu bằng đất nung và túi da ngày nay vẫn còn

trong các viện bảo tàng khảo cổ học và cổ sinh học. Điều đó đã chứng minh sự

ra đời rất sớm của và tầm quan trọng của bao bì đối với đời sống cổ xưa của tổ

tiên chúng ta ‘. Mặc dù hình thức ban đầu của bao bì rất thơ sơ, nhưng cũng

khẳng định tính hữu dụng của nó.

Năm 1920, các sáng chế của giấy bóng kính trong suốt đánh dấu sự bắt đầu

của thời đại của nhựa, các túi nhựa đầu tiên được sử dụng cho bao bì được

phát hiện vào năm 1933 . Còn túi nhơm lát mỏng được phát minh ra để sử

dụng cho các sản phẩm thuốc và dược phẩm.

Bao bì liên tục cải tiến và ra đời nhiều chủng loại để đáp ứng cho đa dạng

hàng hóa , do đó nâng cao mức sống hàng ngày của chúng ta. Trong những



SVTH : Phạm Ngọc Ái Phương



Trang 12



Thực hành nghề nghiệp 1



GVHD : ThS. Tạ Hồng Thùy Trang



năm 1940, bao bì đã được phát triển cho thực phẩm đông lạnh. Năm 1952,

Aerosol đến trên thị trường. Loại bao bì Lon, có sẵn từ những năm 1960, điều

này báo trước sự bùng nổ của thị trường nước giải khát. Hộp vô trùng, được

phát minh vào năm 1961, đã được sử dụng để bảo quản sữa lâu đời từ bao giờ.

Ngày nay, ngành cơng nghiệp sản xuất bao bì đang phát triển mạnh mẽ trên

thế giới, đặc biệt là ở Việt Nam khi tham gia vào nền kinh tế hội nhập toàn cầu

WTO. Các vật liệu sản xuất bao nhựa rất đa dạng và phong phú, công nghệ

sản xuất hiện đại được nghiên cứu công nghệ mới nhất, áp dụng các quy chuẩn

về chất lượng mẫu mã, kiểu dáng, khối lượng. Do vậy cơng dụng của bao bì đã

được mở rộng trong các lĩnh vực, bảo quản, vận chuyển, thương mại, quảng bá

sản phẩm thương hiệu.

1.2.2. Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật trong sản xuất bao bì nhựa:



Ngành nhựa của Việt Nam lọt vào tầm ngắm của các tập đoàn nước ngoài là

do triển vọng rất lớn của ngành này. Hiện, tốc độ tăng trưởng của ngành được

xếp hàng thứ hai tại khu vực Đông Nam Á. Về tổng thể, ngành nhựa Việt Nam

không yếu thế so với khu vực, với mức tăng trưởng bình quân 20 - 25%/năm 9,

ngay cả Thái Lan, Singapore cũng không cạnh tranh được với tốc độ tăng

trưởng của Việt Nam.

Theo Hiệp hội Nhựa Việt Nam, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu các sản phẩm

nhựa thời gian qua có sự nỗ lực và linh hoạt nắm bắt kịp tình hình thị trường

từ chính các doanh nghiệp nhựa, nhiều doanh nghiệp đã tranh thủ tận dụng lợi

thế ưu đãi thuế và giá nguyên liệu đầu vào giảm, để mỏ rộng thị phần xuất

khẩu. Hiệp hội cũng hỗ trợ nhiều giải pháp dể tạo điều kiện thuận lợi cho các

doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất.

Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhựa cũng gặp nhiều khó khăn, theo các chuyên

gia trong ngành, dù tăng trưởng khả quan và đầu tư bài bản, nhưng nhìn

chung, doanh nghiệp (DN) bao bì vẫn chưa hồn tồn lạc quan vì vẫn phải đối

đầu với nhiều thách thức, nhất là khi năm 2016, hàng rào phi thuế quan được

dỡ bỏ thì áp lực cho DN trong nước càng lớn. Trong khi đó, ngành bao bì ở

một số quốc gia trong khu vực ASEAN đã có trình độ sản xuất cao hơn như

Thái Lan hướng tới sản xuất các sản phẩm nhựa công nghệ sinh học, thân

9 Hiệp hội Nhựa Việt Nam, Một năm xuất khẩu sản phẩm nhựa chưa có nhiều chuyển biến và cơ



hội mới trong năm 2016, http://www.vpas.vn/thong-tin/thong-tin-xuat-nhap-khau/mot-nam-xuatkhau-san-pham-nhua-chua-co-nhieu-chuyen-bien-va-co-hoi-moi-trong-nam-2016.html



SVTH : Phạm Ngọc Ái Phương



Trang 13



Thực hành nghề nghiệp 1



GVHD : ThS. Tạ Hoàng Thùy Trang



thiện với môi trường và Malaysia là nơi cung cấp màng kéo nhựa polyetylen

có lợi cho mơi trường.

Năm 2015, các doanh nghiệp bao bì gặp nhiều khó khăn trong sản xuất và xuất

khẩu khi giá điện tăng lên. Một số thị trường lớn của ngành bao bì nhựa như

Nhật, Mỹ có nền kinh tế phát triển chậm trong năm, đã ảnh hưởng tới xuất

khẩu nhựa nước ta tới thị trường này. Đồng euro liên tục xuống thấp trong

năm qua khiến doanh nghiệp châu Âu giảm cả số lượng đơn hàng lẫn giá mua

từ công ty Việt Nam. Khi giá euro giảm, ngồi thiệt hại về số lượng đặt hàng

giảm thì các doanh nghiệp Việt còn phải chịu cạnh tranh từ chính hàng hóa sản

xuất tại khu vực này. Bởi lẽ, euro xuống thấp, chi phí ngun liệu hàng hóa

cũng giảm theo, từ đó, doanh nghiệp ngành bao bì nhựa ở Châu Âu sẽ tung ra

thị trường sản phẩm có giá cạnh tranh, thậm chí giá bằng với hàng hóa Việt

Nam.

Xét về góc độ cạnh tranh, các DN bao bì nhựa hiện vẫn bị lép vế do nguyên

liệu sản xuất trong nước chỉ mới đáp ứng khoảng 30% nhu cầu, 70% còn lại

đang phụ thuộc vào nhập khẩu. Trong khi đó, mức thuế nhập khẩu nguyên liệu

PP tăng từ 2% lên 3% bắt đầu từ ngày 1/1/2016. Bên cạnh đó, số lượng mẫu

mã, chủng loại sản phẩm của ngành bao bì nhựa còn đơn điệu, chưa có nhiều

sản phẩm có giá trị gia tăng.10

1.2.3. Năng lực sản xuất hiện tại của ngành hàng :



Lĩnh vực đóng gói bao bì là một trong những ngành cơng nghiệp phát triển

nhanh chóng ở Việt Nam, được thúc đẩy phát triển do nhu cầu ngày càng cao

đối với hàng hóa tiêu dùng, thực phẩm... Ngồi ra, tốc độ tăng trưởng GDP

trong năm 2016 được dự báo khá lạc quan (xấp xỉ 6%), điều này tạo cơ sở để

chỉ số bán lẻ duy trì đà phục hồi và tác động đến những ngành công nghiệp

phụ trợ khác trong đó có ngành cơng nghiệp bao bì. Ngồi ra, cơ hội phát triển

của ngành bao bì còn là việc các hiệp định thương mại song phương và đa

phương có thể ký kết trong năm nay như TPP, Việt Nam - EU... kỳ vọng số

lượng đơn hàng xuất khẩu tăng vọt, đặc biệt là nhóm hàng thủy sản, dệt may...

kéo theo sự tăng trưởng mạnh trong nhu cầu các mặt hàng bao bì.



10 Hiệp hội Nhựa Việt Nam, Một năm xuất khẩu sản phẩm nhựa chưa có nhiều chuyển biến và cơ



hội mới trong năm 2016, http://www.vpas.vn/thong-tin/thong-tin-xuat-nhap-khau/mot-nam-xuatkhau-san-pham-nhua-chua-co-nhieu-chuyen-bien-va-co-hoi-moi-trong-nam-2016.html



SVTH : Phạm Ngọc Ái Phương



Trang 14



Thực hành nghề nghiệp 1



GVHD : ThS. Tạ Hoàng Thùy Trang



Từ những điều kiện thuận lợi này đã đưa ngành đóng gói bao bì trở thành một

trong những ngành phát triển nhanh nhất tại Việt Nam. Theo đánh giá của

Hiệp hội Bao bì Việt Nam (Vinpas), lĩnh vực đóng gói bao bì tăng trưởng

trung bình từ 15- 20%/năm. Hiện tại, Việt Nam có hơn 900 nhà máy đóng gói

bao bì, khoảng 70% trong số đó tập trung ở các tỉnh thành phía Nam. Thị

trường có thể được chia làm 5 lĩnh vực chính bao gồm đóng gói bao bì nhựa,

carton/giấy, đóng gói kim loại và các loại khác.11

Theo đánh giá của Hiệp hội Nhựa Việt Nam, trong những năm gần đây, ngành

bao bì nhựa cũng đã phát triển mạnh với tốc độ tăng trưởng bình quân hơn

25%/năm. Bao bì nhựa phát triển mạnh do ngành lương thực, thực phẩm có

bước tăng trưởng tốt. Các DN đã đầu tư những dây chuyền công nghệ mới và

cung ứng ra thị trường nhiều chủng loại bao bì cao cấp, đáp ứng được các tiêu

chuẩn nghiêm ngặt về an toàn vệ sinh thực phẩm như bao bì sử dụng màng

ghép phức hợp có chức năng gia tăng độ bảo quản, kéo dài thời gian sử dụng

sản phẩm mà không cần dùng chất bảo quản...

Với dân số đông và sự phát triển nhanh của ngành cơng nghiệp sản xuất hàng

tiêu dùng đóng gói, ngành sản xuất bao bì sẽ có thị trường rất rộng lớn. Theo

các chuyên gia kinh tế, loại bao bì, túi xách vẫn tiếp tục được sản xuất và tiêu

thụ mạnh trong thời gian tới do mức độ thông dụng và có lợi thế về chi phí sản

xuất bởi sử dụng ít năng lượng, trọng lượng nhẹ, tiết kiệm được chi phí vận

chuyển, giảm khơng gian lưu trữ... và nhất là thu lợi nhuận nhanh. Ngành cơng

nghiệp bao bì cũng sẽ gắn kết mật thiết hơn với các mặt hàng thực phẩm đóng

hộp nhờ những cải tiến khơng ngừng về chất lượng và tính tiện lợi.



11 Hiệp hội Nhựa Việt Nam, Được đầu tư ‘khủng’ về máy móc, ngành bao bì sẽ sớm tăng năng



suất, http://www.vpas.vn/thong-tin/tin-tuc/duoc-dau-tu-khung-ve-may-moc-nganh-bao-bi-se-somtang-nang-suat.html



SVTH : Phạm Ngọc Ái Phương



Trang 15



Thực hành nghề nghiệp 1



2.1.



GVHD : ThS. Tạ Hoàng Thùy Trang



CHƯƠNG 2 – TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG HÀ LAN

KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI



Hà Lan là một nước hẹp, người đơng, khơng có nhiều tài nguyên thiên nhiên.

Hà Lan chỉ có hơi đốt (trữ lượng khoảng 2.680 tỷ m3), một khối lượng không

lớn dầu lửa ở biển Bắc (sản lượng đáp ứng khoảng 20% nhu cầu hiện nay).

Nhưng Hà Lan đã biết sử dụng thế mạnh của mình là một quốc gia ven biển,

cửa khẩu của 3 con sông lớn ở Tây Âu và giữa các cường quốc kinh tế Anh,

Pháp, Đức để phát triển các ngành dịch vụ hàng hải, cảng, vận tải sơng, cơng

nghiệp chế biến, hố dầu... Hà Lan cũng đã tận dụng đất đai mầu mỡ để phát

triển nông nghiệp và ngành công nghiệp thực phẩm.

Nền kinh tế Hà Lan được ghi nhận là nền kinh tế ổn định, về tăng trưởng công

nghiệp, tỉ lệ thất nghiệp và lạm phát, thặng dư tài khoản vãng lai khá lớn, và

đóng vai trò quan trọng như là một trung tâm giao thơng của Châu Âu. Hoạt

động công nghiệp chủ yếu trong lĩnh vực chế biến thực phẩm, hóa chất, lọc

dầu, và máy móc thiết bị điện. Lĩnh vực nơng nghiệp sử dụng cơ giới hóa cao

chỉ chiếm 2% lực lượng lao động nhưng tạo ra giá trị thặng dư lớn cung cấp

cho ngành công nghiệp chế biến thực phẩm và xuất khẩu. 12

Hà Lan, cùng với 11 nước đối tác Châu Âu, bắt đầu lưu hành đồng tiền euro

vào 01 tháng 1 năm 2002. Quốc gia này được đánh giá là một trong những

quốc gia Châu Âu cho thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất và là một

trong bốn nhà đầu tư lớn nhất tại Mỹ. Sau 26 năm tăng trưởng kinh tế không

bị gián đoạn, nền kinh tế Hà Lan – một nền kinh tế mở, phụ thuộc vào thương

mại nước ngồi và các dịch vụ tài chính - đã bị ảnh hưởng nặng bởi cuộc

khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Hà Lan đạt tăng trưởng GDP 3,9% trong năm

2009, trong khi xuất khẩu giảm gần 25% do sự giảm mạnh của nhu cầu thế

giới. Khu vực tài chính của Hà Lan cũng bị ảnh hưởng, một phần do việc đầu

tư vào chứng khoán thế chấp trên thị trường Mỹ của một số ngân hàng Hà

Lan. Để đối phó với tình trạng hỗn loạn trong thị trường tài chính, chính phủ

đã quốc hữu hóa hai ngân hàng và bơm hàng tỷ đô la vào ngân hàng thứ ba, để

ngăn chặn rủi ro hệ thống. Chính phủ cũng tìm cách thúc đẩy nền kinh tế trong

nước bằng cách đẩy mạnh chương trình cơ sở hạ tầng, cắt giảm thuế để các

doanh nghiệp giữ chân người lao động, và các cơ sở tín dụng mở rộng xuất

khẩu. Do thực hiện các chương trình kích thích và cứu trợ ngân hàng, kết quả

12 Phòng Thương Mại Và Cơng Nghiệp Việt Nam ( VCCI ), Hồ sơ thị trường Hà Lan,



http://vcci.com.vn/ha-lan



SVTH : Phạm Ngọc Ái Phương



Trang 16



Thực hành nghề nghiệp 1



GVHD : ThS. Tạ Hồng Thùy Trang



là thâm hụt ngân sách chính phủ gần 4,6% GDP trong năm 2009 và tăng lên

5,6% trong năm 2010 trái ngược với thặng dư 0,7% GDP trong năm 2008. Với

tỷ lệ thất nghiệp chủ yếu thuộc về khu vực tư nhân tiêu dùng, Chính phủ của

Thủ tướng Mark RUTTE đang phải chịu áp lực tăng để giữ mức thâm hụt

ngân sách trong tầm kiểm soát đồng thời thúc đẩy kinh tế phát triển.

Đánh giá kinh tế năm 2013-2015

Theo Cơ quan Thống kê Hà Lan, nước này đã lần đầu tiên trong 5 năm trở lại

đây đưa thâm hụt ngân sách trong năm 2013 xuống thấp hơn mức 3% GDP

theo quy định của Liên minh châu Âu (EU). Cụ thể, thâm hụt ngân sách của

Hà Lan trong năm ngoái đã giảm 9 tỷ euro, từ mức tương đương 4,1% GDP

năm 2012 xuống còn 2,5% GDP. Nguyên nhân chủ yếu của mức giảm đáng kể

này là nhờ nguồn thu ngân sách đã tăng 7 tỷ euro, lên tới 285 tỷ euro năm

ngoái. Tuy nhiên, nền kinh tế của Hà Lan vẫn ở trong tình trạng suy thối

trong phần lớn thời gian của năm ngoái. Kinh tế của Hà Lan đã suy giảm trong

tám quý liên tiếp trước khi tăng trưởng trở lại 0,8% vào cuối năm 2013. Nợ

công tăng 2,2 điểm phần trăm lên 73,5% GDP, cao hơn nhiều so với mức 60%

GDP theo quy định của EU Chính phủ của Thủ tướng Mark Rutte từ đó đã

thực hiện các biện pháp thắt lưng buộc bụng để cải thiện tài chính cơng và

thực hiện các cải cách trong nhiều lĩnh vực quan trọng, trong đó có thị trường

lao động, lĩnh vực nhà đất, thị trường năng lượng, và hệ thống lương hưu. Kết

quả là, thâm hụt ngân sách chính phủ vào cuối năm 2015 giảm xuống còn 2%

GDP. Sau cuộc suy thoái kéo dài với tỷ lệ thất nghiệp tăng gấp đơi lên 7,4% và

chi tiêu gia đình giảm liên tiếp trong gần ba năm, đến năm 2014 đã chứng kiến

mức tăng trưởng GDP 1% và các dấu hiệu khả quan ở hầu hết các chỉ tiêu kinh

tế. Các động lực thúc đẩy tăng trưởng bao gồm xuất khẩu tăng và đầu tư kinh

doanh phát triển, cũng như sự kích thích tiêu dùng từ các hộ gia đình. 13

QUAN HỆ KINH TẾ VỚI VIỆT NAM

2.2.1. Hợp tác thương mại

Ngồi phần viện trợ khơng hồn lại, Hà Lan còn có các Chương trình tín dụng

hỗn hợp Miliev và Oret, theo đó Chính phủ Hà Lan viện trợ khơng hồn lại

35% tổng trị giá hợp đồng với nhà thầu Hà Lan (từ 1998 về trước, dự án

Miliev được viện trợ 60% và dự án Oret được viện trợ 45%), còn lại 65% là

đóng góp từ phía Việt Nam. Chương trình này chủ yếu sử dụng cho các dự án

cấp nước, lâm nghiệp, dệt may, sản xuất thức ăn gia súc... Tiêu chuẩn lựa chọn



2.2.



13 Phòng Thương Mại Và Cơng Nghiệp Việt Nam ( VCCI ), Hồ sơ thị trường Hà Lan,



http://vcci.com.vn/ha-lan



SVTH : Phạm Ngọc Ái Phương



Trang 17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU BAO BÌ NHỰA

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×