Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đây là hính thức xuất khẩu mà các đơn vị giao nhận, giao dịch, đàm phán, kí kết hợp đồng để xuất khẩu cho một đơn vị. Trong hình thức xuất khẩu ủy thác, đơn vị ngoại thương đóng vai trò là người trung gian xuất khẩu làm thay cho đơn vị sản xuất. Ưu điểm c

Đây là hính thức xuất khẩu mà các đơn vị giao nhận, giao dịch, đàm phán, kí kết hợp đồng để xuất khẩu cho một đơn vị. Trong hình thức xuất khẩu ủy thác, đơn vị ngoại thương đóng vai trò là người trung gian xuất khẩu làm thay cho đơn vị sản xuất. Ưu điểm c

Tải bản đầy đủ - 0trang

GVHD: TS. PHẠM NGỌC DƯỠNG

này là doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận cao mà không cần phải tổ chức sản xuất,

1.1.2.5



1.1.2.6



đầu tư vào nhà xưởng, thiết bị, khả năng thu hồi vốn cũng nhanh hơn.

Tạm xuất tái nhập:

Ngược lại với hình thức tạm nhập tái xuất, hình thức này là hàng hóa đưa đi triển lãm,

đi sửa chữa rồi lại mang về.

Mua bán đối lưu



Buôn bán đối lưu là phương thức giao dịch mà trong đó xuất khẩu kết hợp chặt

chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng trao đổi có giá

trị tương đương với giá trị lơ hàng đã xuất. Mục đích xuất khẩu không phải là

nhằm thu ngoại tệ mà nhằm thu về một lượng hàng coá giá trị xáp xỉ giá trị của

lơ hàng đã xuất.

Có rất nhiều loại hình buôn bán đối lưu như: hàng đổi hàng, trao đổi bù trừ,

chuyển giao nghĩa vụ , mua lại sản phẩm trong đó:

 Hình thức hàng đổi hàng là việc một bên dùng hàng hoá để đổi lấy một lượng



hàng tương đương và khơng có thanh tốn trong hình thức này.

 Hình thức trao đổi bù trừ là hình thức trong đó hai bên sẽ tiến hành trao đổi



hàng hố trong mét thời gian dài và sẽ dùng một tài khoản chung để theo

dõinghiệp vô giao nhận hàng của cả hai bên. Đến cuối kỳ hai bên sẽ thanh

toán tiền chênh lệch theo tính tốn. Hàng hố có thể là một loại hàng hoá

nhất định hoặc nhiều mặt hàng khác nhau trong mét thời gian nhất định.

 Mua đối lưu là hình thức một bên sẽ ký kết hợp đồng mua hàng có thanh



tốn và cam kết, sau đó một khoảng thời gian nhất định sẽ bán cho bên kia

một lượng hàng hoá khác và cũng được nhận tiền thanh toán. Giá trị của hai



Page 12



GVHD: TS. PHẠM NGỌC DƯỠNG

hợp đồng này không nhất thiết phả bằng nhau, thời gian thông thường từ 1

đến 5 năm với danh mục hàng hoá được mở rộng rãi.

 Chuyển giao nghĩa vụ là hình thức mua bán đối lưu trong đó một bên có



quyền chuyển nghĩa vụ thanh tốn cho bên thứ ba.

 Hình thức mua lại sản phẩm là hình thức một bên tiến hành nhập khẩu máy



móc thiết bị nhưng khơng thanh tốn ngay mà sẽ trả dần bằng sản phẩm do

chín máy móc thiết bị đó sản xuất ra.

1.1.3



Vai trò của hoạt động xuất khẩu

Hoạt động xuất khẩu là hoạt động cơ bản của Ngoại thương. Nó xuất hiện từ rất sớm

trong lịch sử phát triển của xã hội và phát triển mạnh mẽ đến ngày nay. Xuất khẩu diễn

ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện kinh tế. Tất cả đều nhằm mục tiêu đem lại lợi

ích cho doanh nghiệp nói riêng và cho quốc gia nói chung đồng thời thúc đẩy sự phát

triển của một số lĩnh vực có liên quan2.

1.1.3.1 Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế Việt Nam



Tạo nguồn vốn vững vàng cho nhập khẩu, phục vụ cơng cuộc cơng nghiệp hóa

– hiện đại hóa đất nước.

Sự tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia phụ thuộc chủ yếu vào 4 yếu tố sau: tài

nguyên, nhân lực, kỹ thuật và nguồn vốn. Tuy nhiên, khơng phải quốc gia nào cũng

đều có đầy đủ cả 4 yếu tố đó. Do vậy, việc tìm kiếm nguồn vốn để nhập khẩu cho quốc

gia mình những yếu tố mình thiếu hoặc chưa có là một vấn đề lớn. Để giải quyết vấn

đề này, một số quốc gia đã đi tìm viện trợ như đầu tư nước ngồi, vay nợ, viện trợ.

Nhưng khi sử dụng những biện pháp này, nước đi vay cuối cùng vẫn phải trả lại phần

vốn vay và cả lãi vay cho nước cho vay. Do đó, nguồn vốn quan trọng nhất mà mỗi

quốc gia có thể trơng chờ đó là nguồn vốn thu nhâp từ hoạt động xuất khẩu. xuất khẩu

những mặt hàng mình dư thừa hoặc có tiềm năng ra nước ngồi là một phương án khả

2 “Khái niệm và vai trò của hoạt động xuất khẩu”. Xem tại: http://voer.edu.vn/m/khai-niem-va-vai-tro-cua-hoatdong-xuat-khau/ecf8d242



Page 13



GVHD: TS. PHẠM NGỌC DƯỠNG

quan và dễ dàng đạt được mục tiêu nhất. Xuất khẩu sẽ làm tiền đề và thúc đẩy nhập

khẩu góp phần cơng nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.

 Tác động đến việc đối mới công nghệp, khoa học kỹ thuật và đóng góp vào việc

chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Dưới tác động của xuất khẩu, cơ cấu sản xuất và tiêu dùng của thế giới đã và đang

thay đổi mạnh mẽ. Xuất khẩu làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia từ nông

nghiệp chuyển sang công nghiệp và dịch vụ. Xuất khẩu cũng tạo tiền đề cho các ngành

cùng có cơ hội phát triển.

Xuất khẩu góp phần thúc đẩy chun mơn hóa, tăng cường hiệu quả sản xuất của

từng quốc gia. Nó cho phép phát triển sản xuất cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Trong

nền kinh tế hiện đại mang tính tồn cầu hóa như ngày nay, mỗi loại sản phẩm người ta

nghiên cứu ở nước thứ nhất, chế tạo ở nước thứ hai, lắp ráp ở nước thứ ba, tiêu thụ ở

nước thứ tư và thanh toán thực hiện ở nước thứ năm. Như vậy rõ ràng là hàng hóa xuất

ra từ mỗi quốc gia và tiêu thụ ở một quốc gia cho thấy sự tác động ngược trở lại của

chuyên môn hóa tới xuất khẩu

Bên cạnh đó, xuất khẩu còn làm tăng dự trữ ngoại tệ một quốc gia đặc biệt với các

nước đang phát triển đồng tiền khơng có khả năng chuyển đổi thì ngoại tệ có được nhờ

xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa về cung cấp ngoại tệ, ổn định sản

xuất qua đó góp phần tăng trưởng và phát triển kinh tế.

 Giải quyết vấn đề thất nghiệp và cải thiện đời sống nhân dân.

Xuất khẩu ngày càng phát triển dẫn đến việc mở rộng sản xuất để đáp ứng nhu

cầu của khách hàng, do đó sẽ cần nhiều lao động và sẽ góp phần tăng cường giải quyết

nạn thất nghiệp cho đất nước

Bên cạnh đó, nguồn ngoại tệ thu được từ xuất khẩu sẽ góp vào nguồn vốn nhập

khẩu các mặt hàng và dịch vụ giúp cải thiện đời sống người dân. Do đó, xuất khẩu

đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống

nhân dân.



Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của

nước ta

Quan hệ kinh tế và quan hệ đối ngoại ln có tác động qua lại và bổ trợ lẫn nhau.

Giữa 2 nước có thể xuất hiện quan hệ đối ngoại trước, nhưng cũng có thể quan hệ kinh

Page 14



GVHD: TS. PHẠM NGỌC DƯỠNG

tế xuất hiện trước. Khi quan hệ kinh tế xuất hiện, điều tất yếu sẽ kéo theo sự hình thành

quan hệ kinh tế giữa hai nước, và ngược lại, quan hệ kinh tế giữa hai nước sẽ góp phần

thúc đẩy quan hệ đối ngoại. Ví dụ, khi quan hệ xuất khẩu giữa hai nước xuất hiện, các

quan hệ khác cũng sẽ xuất hiện theo như đầu tư, bảo hiểm, tín dụng,… và để hoạt động

thương mại giữa hai nước diễn ra ngày một thuận lợi, quan hệ đối ngoại sẽ mở rộng và

phát triển.

1.1.3.2



Vai trò đối với doanh nghiệp Việt Nam



Trong quá trình mở cửa và hội nhập, nền kinh tế các doanh nghiệp đặc biệt là các

doanh nghiệp xuất khẩu phụ thuộc rất nhiều vào nền kinh tế thế giới. Các cơ hội và

thách thức đặt ra cho các doanh nghiệp rất nhiều, nó là sự sống còn của nhiều doanh

nghiệp, nếu như doanh nghiệp thu, tìm được nhiều bạn hàng thì sẽ xuất khẩu được

nhiều hàng hố và sẽ thu được nhiều ngoại tệ cho quốc gia cũng như cho chính doanh

nghiệp để đầu tư phát triển. Thơng qua xuất khẩu doanh nghiệp nhanh chóng tiếp thu

được khoa học kĩ thuật, từ đó có khả năng củng cố tổ chức sản xuất, nâng cao mẫu mã,

chất lượng, uy thế và địa vị của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế cũng thông qua

xuất khẩu, các doanh nghiệp xuất khẩu nhanh chóng hồn thiện sản phẩm của mình

củng cố đội ngũ cán bộ công nhân viên nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ cơng nhân

viên trong sản xuất cũng như trong xuất khẩu, mục đích để tạo lợi thế cạnh tranh so với

các đối thủ khác trên thị trường thế giới. Ví dụ, để xuất khẩu được một lô hàng doanh

nghiệp phải đáp ứng được yêu cầu về sản phẩm của đối tác, qua đó doanh nghiệp xuất

khẩu sẽ tích cực cập nhật, học hỏi nâng cao kỹ thuật sản xuất, từ đó ngày một phát

triển doanh nghiệp của mình.

1.1.4



Các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu

1.1.4.1





Mơi trường bên trong

Tài chính



Page 15



GVHD: TS. PHẠM NGỌC DƯỠNG

Khả năng tài chính của doanh nghiệp quyết định đến việc thực hiện hay không

thực hiện bất cứ một hoạt động đầu tư, mua sắm hay phân phối của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp có tiềm lực về tài chính sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc đổi

mới công nghệ, đầu tư trang thiết bị, đảm bảo nâng cao chất lượng, hạ giá thành nhằm

duy trì và nâng cao sức mạnh cạnh tranh, củng cố vị trí của mình trên thị trường 3.





Máy móc thiết bị và cơng nghệ

Tình trạng máy móc thiết bị và cơng nghệ có ảnh hưởng một cách sâu sắc đến



khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Nó là yếu tố vật chất quan trọng bậc nhất thể

hiện năng lực sản xuất của mỗi doanh nghiệp và tác động trực tiếp đến chất lượng sản

phẩm, đến giá thành và giá bán sản phẩm.

Có thể khẳng định rằng một doanh nghiệp với một hệ thống máy móc thiết bị và

công nghệ tiên tiến cộng với khả năng quản lý tốt sẽ làm ra sản phẩm có chất lượng

cao, giá thành hạ từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh. Ngược lại không một doanh

nghiệp nào mà được coi là có khả năng cạnh tranh cao trong khi trong tay họ là cả một

hệ thống máy móc thiết bị cũ kỹ với công nghệ sản xuất lạc hậu.

Ngày nay việc trang bị máy móc thiết bị cơng nghệ có thể được thực hiện dễ

dàng, tuy nhiên doanh nghiệp cần phải biết sử dụng với quy mô hợp lý mới đem lại

hiệu quả cao.





Nhân lực

Nhân lực là yếu tố quyết định đến sản xuất kinh doanh, nó bao gồm một số nội

dung chủ yếu sau:



Ban giám đốc doanh nghiệp



3 http://voer.edu.vn/m/cac-nhan-to-anh-huong-den-hoat-dong-xuat-khau/bf4a148b



Page 16



GVHD: TS. PHẠM NGỌC DƯỠNG

Là những cán bộ quản lý ở cấp cao nhất trong doanh nghiệp, những người vạch

ra chiến lược, trực tiếp điều hành, tổ chức thực hiện công việc kinh doanh của doanh

nghiệp. Đối với những cơng ty cổ phần, những tổng cơng ty lớn, ngồi ban giám đốc

còn có hội đồng quản trị là đại diện cho các chủ sở hữu doanh nghiệp quyết định

phương hướng kinh doanh của công ty.

Các thành viên của ban giám đốc có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động

sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu các thành viên có trình độ, kinh nghiệm và

khả năng đánh giá, năng động, có mối quan hệ tốt với bên ngồi thì họ sẽ đem lại cho

doanh nghiệp khơng chỉ những lợi ích trước mắt như: tăng doanh thu, tăng lợi nhuận

mà còn uy tín lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp. Đây mới là yếu tố quan trọng tác động

đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

Đội ngũ cán bộ quản lý

Là những người quản lý chủ chốt có kinh nghiệm công tác, phong cách quản lý,

khả năng ra quyết định, khả năng xây dựng ê kíp quản lý và hiểu biết sâu rộng lĩnh vực

kinh doanh sẽ là một lợi thế quan trọng cho doanh nghiệp. Người quản lý làm việc trực

tiếp với nhân viên cấp dưới, với chuyên viên, vì vậy trình độ hiểu biết của họ sẽ giúp

họ nảy sinh những ý tưởng mới, sáng tạo phù hợp với sự phát triển và trưởng thành của

doanh nghiệp.

Cơng nhân

Trình độ tay nghề của cơng nhân và lòng hăng say nhiệt tình làm việc của họ là

yếu tố tác động rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Bởi khi tay nghề

cao kết hợp với lòng hăng say nhiệt tình lao động thì nhất định năng suất lao động sẽ

tăng trong khi chất lượng sản phẩm được bảo đảm. Đây là tiền đề để doanh nghiệp có

thể tham gia và đứng vững trong cạnh tranh.



Page 17



GVHD: TS. PHẠM NGỌC DƯỠNG

Muốn đảm bảo được điều này các doanh nghiệp phải tổ chức đào tạo và đào tạo

lại đội ngũ người lao động của mình, giáo dục cho họ lòng nhiệt tình hăng say và tinh

thần lao động tập thể.





Khả năng cạnh tranh



Các yếu tố được xem là lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ có thể là

chất lượng sản phẩm, giá cả, những tiềm lực về tài chính, trình độ của đội ngũ lao

động.

Chất lượng sản phẩm:

Là tập hợp các thuộc tính của sản phẩm trong điều kiện nhất định về kinh tế kỹ thuật.

Chất lượng sản phẩm được hình thành từ khi thiết kế sản phẩm cho đến khi sản xuất và

tiêu thụ sản phẩm. Doanh nghiệp muốn cạnh tranh được với doanh nghiệp khác thì việc

đảm bảo đến chất lượng sản phẩm là vấn đề có ý nghĩa sống còn.

Giá cả:

Là một công cụ quan trọng trong cạnh tranh, với doanh nghiệp phải có những biện

pháp hợp lí nhằm tiết kiệm chi phí hạ giá thành của sản phẩm. Từ đó nâng cao khả

năng cạnh tranh của mình.

Tiềm lực về tài chính:

Khi doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh, nhiều vốn thì sẽ có đủ khả năng cạnh

tranh được với các doanh nghiệp khác khi họ thực hiện được các chiến lược cạnh tranh,

các biện pháp hỗ trợ tiêu thụ như khuyến mại giảm giá…

Trình độ đội ngũ lao động:



Page 18



GVHD: TS. PHẠM NGỌC DƯỠNG

Nhân sự là nguồn lực quan trọng nhất của bất kỳ một doanh nghiệp nào vì vậy đầu tư

vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ lao động là một hướng đầu tư hiệu quả nhất, vừa

có tính cấp bách, vừa có tính lâu dài, chính vì vậy cơng ty cần phải tổ chức đào tạo

huấn luyện nhằm mục đích nâng cao tay nghề kỹ năng của người lao động, tạo đội ngũ

lao động có tay nghề cao, chuẩn bị cho họ theo kịp với những thay đổi của cơ cấu tổ

chức và của bản thân cơng việc.

Vì vậy có thể nói rằng tất cả các yếu tố như chất lượng sản phẩm, hình thức mẫu mã

sản phẩm, giá cả tiềm lực tài chính, trình độ lao động thiết bị kỹ thuật, việc tổ chức

mạng lưới tiêu thụ các dịch vụ trước, trong và sau khi bán hàng… là những yếu tố trực

tiếp tạo nên khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.





Năng lực marketing



Marketing không chỉ là một chức năng trong hoạt động kinh doanh, nó là một triết lý

dẫn dắt tồn bộ hoạt động của doanh nghiệp trong việc phát hiện ra, đáp ứng và làm

thoả mãn cho nhu cầu của khách hàng. Lợi thế cạnh tranh từ marketing chỉ có thể có

được từ năng lực marketing của cả một doanh nghiệp, chứ không thể là năng lực của

một vài cá nhân.

Thực tế tại Việt Nam cũng cho thấy việc đầu tư vào một vài cá nhân chỉ là giải pháp

tình thế trước mắt chứ không phải là một giải pháp căn cơ giúp nâng cao năng lực

marketing của một doanh nghiệp. Để nâng cao năng lực marketing của một doanh

nghiệp, trước hết những người đứng đầu trong doanh nghiệp ấy cần phải có một nhận

thức đúng đắn về vai trò của marketing trong doanh nghiệp. Cần phải hiểu rằng

marketing và xây dựng thương hiệu khơng chỉ là trách nhiệm của phòng marketing hay

cá nhân người CMO mà là trách nhiệm của tất cả mọi người trong cơng ty, và trên hết

đó là nhận thức và sự can dự của người đứng đầu công ty.



Page 19



GVHD: TS. PHẠM NGỌC DƯỠNG

1.1.4.2





Mơi trường bên ngồi

Chính trị - pháp luật



Một thể chế chính trị, một hệ thống pháp luật chặt chẽ, rõ ràng, mở rộng và ổn định sẽ

làm cơ sở cho sự bảo đảm điều kiện thuận lợi và bình đẳng cho các doanh nghiệp tham

gia cạnh tranh lành mạnh, đạt hiệu quả cao cho doanh nghiệp và xã hội. Thể hiện rõ

nhất là các chính sách bảo hộ mậu dịch tự do, các chính sách tài chính, những quan

điểm trong lĩnh vực nhập khẩu, các chương trình quốc gia, chế độ tiền lương, trợ cấp,

phụ cấp cho người lao động... Các nhân tố này đều ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp

đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.

Chính sách khuyến khích đối với xuất khẩu và sản xuất hàng xuất khẩu: giá thành sản

phẩm hàng xuất khẩu của những quốc gia đang phát triển thường cao hơn mặt bằng giá

quốc tế. Vì vậy, để đảm bảo sự cạnh tranh hữu hiệu cho sản phẩm của đất nước, Chính

phủ phải có những chính sách khuyến khích cho khu vực này, từ khâu sản xuất nguyên

vật liệu hoặc nhập khẩu nguyên vật liệu đến khâu sản xuất hàng xuất khẩu, đầu tư cơ

sở hạ tầng cho vùng ngun liệu nơng sản hoặc khống sản xuất khẩu, đầu tư cơ sở hạ

tầng cho các cảng xuất khẩu hàng hóa,…





Kinh tế



Các nhân tố về mặt kinh tế có vai trò rất quan trọng, quyết định đến việc hình thành và

hồn thiện mơi trường kinh doanh, đồng thời ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của

doanh nghiệp. Các yếu tố gồm có:



- Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Nền kinh tế tăng trưởng cao và ổn định sẽ làm cho thu

nhập của tầng lớp dân cư tăng dẫn đến sức mua hàng hóa và dịch vụ tăng lên. Đây là

cơ hội tốt cho các doanh nghiệp đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng tạo nên sự

Page 20



GVHD: TS. PHẠM NGỌC DƯỠNG

thành công trong kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ

cao và ổn định kéo theo hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đạt hiệu quả cao,

khả năng tích tụ và tập trung sản xuất cao.



- Tỷ giá hối đối: Đây là nhân tố tác động nhanh chóng và sâu sắc với từng quốc gia và

từng doanh nghiệp nhất là trong điều kiện nền kinh tế mở cửa khi đồng nội tệ lên giá sẽ

khuyến khích nhập khẩu và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước sẽ

giảm trên thị trường nội địa. Các doanh nghiệp trong nước mất dần cơ hội mở rộng thị

trường, phát triển sản xuất kinh doanh. Ngược lại, khi đồng nội tệ giảm giá dẫn đến

xuất khẩu tăng cơ hội sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước tăng, khả

năng cạnh tranh cao hơn ở thị trường trong nước và quốc tế bởi khi đó giá bán hàng

hóa trong nước giảm hơn so với đối thủ cạnh tranh nước ngoài.



- Lãi suất cho vay của ngân hàng: Nếu lãi suất cho vay cao dẫn đến chi phí kinh doanh

của doanh nghiệp cao, điều này làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhất

là khi so với doanh nghiệp có tiềm lực vốn sở hữu mạnh.



- Lạm phát: Lạm phát cao các doanh nghiệp sẽ không đầu tư vào sản xuất kinh doanh

đặc biệt là đầu tư tái sản xuất mở rộng và đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất của doanh

nghiệp vì các doanh nghiệp sợ khơng đảm bảo về mặt hiện vật các tài sản, không có

khả năng thu hồi vốn sản xuất hơn nữa, rủi ro kinh doanh khi xảy ra lạm phát rất lớn.





Văn hóa – xã hội



Phong tục tập quán, lối sống, thị hiếu, thói quen tiêu dùng, tơn giáo tín ngưỡng có ảnh

hưởng trực tiếp đến mức tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp. Những khu



Page 21



GVHD: TS. PHẠM NGỌC DƯỠNG

vực khác nhau có văn hóa - xã hội khác nhau do vậy khả năng tiêu thụ hàng hóa cũng

khác nhau, đòi hỏi doanh nghiệp phải nghiên cứu rõ những yếu tố thuộc về văn hóa xã hội ở khu vực đó để có những chiến lược sản phẩm phù hợp với từng khu vực khác

nhau.





Khoa học – kỹ thuật



Nhóm nhân tố khoa học công nghệ tác động một cách quyết định đến 2 yếu tố cơ bản

nhất tạo nên khả năng cạnh tranh trên thị trường hay khả năng tiêu thụ sản phẩm của

doanh nghiệp, đó là hai yếu tố chất lượng và giá bán. Khoa học công nghệ hiện đại áp

dụng trong sản xuất kinh doanh góp phần làm tăng chất lượng hàng hóa và dịch vụ,

giảm tối đa chi phí sản xuất (tăng hiệu suất) dẫn tới giá thành sản phẩm giảm.

1.1.4.3



Nghiên cứu thị trường tìm kiếm đối tác.

Thị trường là một phạm trù khách quan gắn liền với sản xuất và lưu thơng hàng hố ở

đâu có sản xuất và lưu thơng và ở đó có thị trường. Thị trường nước ngoài gồm nhiều

yếu tố phức tạp, khác biệt so với thị trường trong nước bởi vậy nắm vững các yếu tố thị

trường hiểu biết các quy luật vận động của thị trường nước ngoài là rất cần thiết phải

tiến hành hoạt động nghiên cứu thị trường. Nghiên cứu thị trường có ý nghĩa quan

trọng trong việc phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế. Nghiên cứu thị trường phải trả

lời một số câu hỏi sau: xuất khẩu cái gì, ở thị trường nào, thương nhân giao dịch là ai,

giao dịch theo phương thức nào, chiến lược kinh doanh cho từng giai đoạn để đạt được

mục tiêu đề ra.

 Nắm vững thị trường nước ngoài.



Đối với các đơn vị kinh doanh xuất khẩu, nghiên cứu thị trường có ý nghĩa cực kỳ quan

trọng. Trong nghiên cứu cần nắm vững một số nội dung:những điều kiện chính trị,

Page 22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đây là hính thức xuất khẩu mà các đơn vị giao nhận, giao dịch, đàm phán, kí kết hợp đồng để xuất khẩu cho một đơn vị. Trong hình thức xuất khẩu ủy thác, đơn vị ngoại thương đóng vai trò là người trung gian xuất khẩu làm thay cho đơn vị sản xuất. Ưu điểm c

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×