Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Máy móc thiết bị và công nghệ

Máy móc thiết bị và công nghệ

Tải bản đầy đủ - 0trang

GVHD: TS. PHẠM NGỌC DƯỠNG

Là những cán bộ quản lý ở cấp cao nhất trong doanh nghiệp, những người vạch

ra chiến lược, trực tiếp điều hành, tổ chức thực hiện công việc kinh doanh của doanh

nghiệp. Đối với những công ty cổ phần, những tổng cơng ty lớn, ngồi ban giám đốc

còn có hội đồng quản trị là đại diện cho các chủ sở hữu doanh nghiệp quyết định

phương hướng kinh doanh của công ty.

Các thành viên của ban giám đốc có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động

sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu các thành viên có trình độ, kinh nghiệm và

khả năng đánh giá, năng động, có mối quan hệ tốt với bên ngồi thì họ sẽ đem lại cho

doanh nghiệp khơng chỉ những lợi ích trước mắt như: tăng doanh thu, tăng lợi nhuận

mà còn uy tín lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp. Đây mới là yếu tố quan trọng tác động

đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

Đội ngũ cán bộ quản lý

Là những người quản lý chủ chốt có kinh nghiệm công tác, phong cách quản lý,

khả năng ra quyết định, khả năng xây dựng ê kíp quản lý và hiểu biết sâu rộng lĩnh vực

kinh doanh sẽ là một lợi thế quan trọng cho doanh nghiệp. Người quản lý làm việc trực

tiếp với nhân viên cấp dưới, với chuyên viên, vì vậy trình độ hiểu biết của họ sẽ giúp

họ nảy sinh những ý tưởng mới, sáng tạo phù hợp với sự phát triển và trưởng thành của

doanh nghiệp.

Công nhân

Trình độ tay nghề của cơng nhân và lòng hăng say nhiệt tình làm việc của họ là

yếu tố tác động rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Bởi khi tay nghề

cao kết hợp với lòng hăng say nhiệt tình lao động thì nhất định năng suất lao động sẽ

tăng trong khi chất lượng sản phẩm được bảo đảm. Đây là tiền đề để doanh nghiệp có

thể tham gia và đứng vững trong cạnh tranh.



Page 17



GVHD: TS. PHẠM NGỌC DƯỠNG

Muốn đảm bảo được điều này các doanh nghiệp phải tổ chức đào tạo và đào tạo

lại đội ngũ người lao động của mình, giáo dục cho họ lòng nhiệt tình hăng say và tinh

thần lao động tập thể.





Khả năng cạnh tranh



Các yếu tố được xem là lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ có thể là

chất lượng sản phẩm, giá cả, những tiềm lực về tài chính, trình độ của đội ngũ lao

động.

Chất lượng sản phẩm:

Là tập hợp các thuộc tính của sản phẩm trong điều kiện nhất định về kinh tế kỹ thuật.

Chất lượng sản phẩm được hình thành từ khi thiết kế sản phẩm cho đến khi sản xuất và

tiêu thụ sản phẩm. Doanh nghiệp muốn cạnh tranh được với doanh nghiệp khác thì việc

đảm bảo đến chất lượng sản phẩm là vấn đề có ý nghĩa sống còn.

Giá cả:

Là một công cụ quan trọng trong cạnh tranh, với doanh nghiệp phải có những biện

pháp hợp lí nhằm tiết kiệm chi phí hạ giá thành của sản phẩm. Từ đó nâng cao khả

năng cạnh tranh của mình.

Tiềm lực về tài chính:

Khi doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh, nhiều vốn thì sẽ có đủ khả năng cạnh

tranh được với các doanh nghiệp khác khi họ thực hiện được các chiến lược cạnh tranh,

các biện pháp hỗ trợ tiêu thụ như khuyến mại giảm giá…

Trình độ đội ngũ lao động:



Page 18



GVHD: TS. PHẠM NGỌC DƯỠNG

Nhân sự là nguồn lực quan trọng nhất của bất kỳ một doanh nghiệp nào vì vậy đầu tư

vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ lao động là một hướng đầu tư hiệu quả nhất, vừa

có tính cấp bách, vừa có tính lâu dài, chính vì vậy cơng ty cần phải tổ chức đào tạo

huấn luyện nhằm mục đích nâng cao tay nghề kỹ năng của người lao động, tạo đội ngũ

lao động có tay nghề cao, chuẩn bị cho họ theo kịp với những thay đổi của cơ cấu tổ

chức và của bản thân cơng việc.

Vì vậy có thể nói rằng tất cả các yếu tố như chất lượng sản phẩm, hình thức mẫu mã

sản phẩm, giá cả tiềm lực tài chính, trình độ lao động thiết bị kỹ thuật, việc tổ chức

mạng lưới tiêu thụ các dịch vụ trước, trong và sau khi bán hàng… là những yếu tố trực

tiếp tạo nên khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.





Năng lực marketing



Marketing không chỉ là một chức năng trong hoạt động kinh doanh, nó là một triết lý

dẫn dắt toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp trong việc phát hiện ra, đáp ứng và làm

thoả mãn cho nhu cầu của khách hàng. Lợi thế cạnh tranh từ marketing chỉ có thể có

được từ năng lực marketing của cả một doanh nghiệp, chứ không thể là năng lực của

một vài cá nhân.

Thực tế tại Việt Nam cũng cho thấy việc đầu tư vào một vài cá nhân chỉ là giải pháp

tình thế trước mắt chứ không phải là một giải pháp căn cơ giúp nâng cao năng lực

marketing của một doanh nghiệp. Để nâng cao năng lực marketing của một doanh

nghiệp, trước hết những người đứng đầu trong doanh nghiệp ấy cần phải có một nhận

thức đúng đắn về vai trò của marketing trong doanh nghiệp. Cần phải hiểu rằng

marketing và xây dựng thương hiệu khơng chỉ là trách nhiệm của phòng marketing hay

cá nhân người CMO mà là trách nhiệm của tất cả mọi người trong cơng ty, và trên hết

đó là nhận thức và sự can dự của người đứng đầu công ty.



Page 19



GVHD: TS. PHẠM NGỌC DƯỠNG

1.1.4.2





Mơi trường bên ngồi

Chính trị - pháp luật



Một thể chế chính trị, một hệ thống pháp luật chặt chẽ, rõ ràng, mở rộng và ổn định sẽ

làm cơ sở cho sự bảo đảm điều kiện thuận lợi và bình đẳng cho các doanh nghiệp tham

gia cạnh tranh lành mạnh, đạt hiệu quả cao cho doanh nghiệp và xã hội. Thể hiện rõ

nhất là các chính sách bảo hộ mậu dịch tự do, các chính sách tài chính, những quan

điểm trong lĩnh vực nhập khẩu, các chương trình quốc gia, chế độ tiền lương, trợ cấp,

phụ cấp cho người lao động... Các nhân tố này đều ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp

đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.

Chính sách khuyến khích đối với xuất khẩu và sản xuất hàng xuất khẩu: giá thành sản

phẩm hàng xuất khẩu của những quốc gia đang phát triển thường cao hơn mặt bằng giá

quốc tế. Vì vậy, để đảm bảo sự cạnh tranh hữu hiệu cho sản phẩm của đất nước, Chính

phủ phải có những chính sách khuyến khích cho khu vực này, từ khâu sản xuất nguyên

vật liệu hoặc nhập khẩu nguyên vật liệu đến khâu sản xuất hàng xuất khẩu, đầu tư cơ

sở hạ tầng cho vùng ngun liệu nơng sản hoặc khống sản xuất khẩu, đầu tư cơ sở hạ

tầng cho các cảng xuất khẩu hàng hóa,…





Kinh tế



Các nhân tố về mặt kinh tế có vai trò rất quan trọng, quyết định đến việc hình thành và

hồn thiện mơi trường kinh doanh, đồng thời ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của

doanh nghiệp. Các yếu tố gồm có:



- Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Nền kinh tế tăng trưởng cao và ổn định sẽ làm cho thu

nhập của tầng lớp dân cư tăng dẫn đến sức mua hàng hóa và dịch vụ tăng lên. Đây là

cơ hội tốt cho các doanh nghiệp đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng tạo nên sự

Page 20



GVHD: TS. PHẠM NGỌC DƯỠNG

thành công trong kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ

cao và ổn định kéo theo hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đạt hiệu quả cao,

khả năng tích tụ và tập trung sản xuất cao.



- Tỷ giá hối đối: Đây là nhân tố tác động nhanh chóng và sâu sắc với từng quốc gia và

từng doanh nghiệp nhất là trong điều kiện nền kinh tế mở cửa khi đồng nội tệ lên giá sẽ

khuyến khích nhập khẩu và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước sẽ

giảm trên thị trường nội địa. Các doanh nghiệp trong nước mất dần cơ hội mở rộng thị

trường, phát triển sản xuất kinh doanh. Ngược lại, khi đồng nội tệ giảm giá dẫn đến

xuất khẩu tăng cơ hội sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước tăng, khả

năng cạnh tranh cao hơn ở thị trường trong nước và quốc tế bởi khi đó giá bán hàng

hóa trong nước giảm hơn so với đối thủ cạnh tranh nước ngoài.



- Lãi suất cho vay của ngân hàng: Nếu lãi suất cho vay cao dẫn đến chi phí kinh doanh

của doanh nghiệp cao, điều này làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhất

là khi so với doanh nghiệp có tiềm lực vốn sở hữu mạnh.



- Lạm phát: Lạm phát cao các doanh nghiệp sẽ không đầu tư vào sản xuất kinh doanh

đặc biệt là đầu tư tái sản xuất mở rộng và đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất của doanh

nghiệp vì các doanh nghiệp sợ khơng đảm bảo về mặt hiện vật các tài sản, khơng có

khả năng thu hồi vốn sản xuất hơn nữa, rủi ro kinh doanh khi xảy ra lạm phát rất lớn.





Văn hóa – xã hội



Phong tục tập quán, lối sống, thị hiếu, thói quen tiêu dùng, tơn giáo tín ngưỡng có ảnh

hưởng trực tiếp đến mức tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp. Những khu



Page 21



GVHD: TS. PHẠM NGỌC DƯỠNG

vực khác nhau có văn hóa - xã hội khác nhau do vậy khả năng tiêu thụ hàng hóa cũng

khác nhau, đòi hỏi doanh nghiệp phải nghiên cứu rõ những yếu tố thuộc về văn hóa xã hội ở khu vực đó để có những chiến lược sản phẩm phù hợp với từng khu vực khác

nhau.





Khoa học – kỹ thuật



Nhóm nhân tố khoa học công nghệ tác động một cách quyết định đến 2 yếu tố cơ bản

nhất tạo nên khả năng cạnh tranh trên thị trường hay khả năng tiêu thụ sản phẩm của

doanh nghiệp, đó là hai yếu tố chất lượng và giá bán. Khoa học công nghệ hiện đại áp

dụng trong sản xuất kinh doanh góp phần làm tăng chất lượng hàng hóa và dịch vụ,

giảm tối đa chi phí sản xuất (tăng hiệu suất) dẫn tới giá thành sản phẩm giảm.

1.1.4.3



Nghiên cứu thị trường tìm kiếm đối tác.

Thị trường là một phạm trù khách quan gắn liền với sản xuất và lưu thơng hàng hố ở

đâu có sản xuất và lưu thơng và ở đó có thị trường. Thị trường nước ngoài gồm nhiều

yếu tố phức tạp, khác biệt so với thị trường trong nước bởi vậy nắm vững các yếu tố thị

trường hiểu biết các quy luật vận động của thị trường nước ngoài là rất cần thiết phải

tiến hành hoạt động nghiên cứu thị trường. Nghiên cứu thị trường có ý nghĩa quan

trọng trong việc phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế. Nghiên cứu thị trường phải trả

lời một số câu hỏi sau: xuất khẩu cái gì, ở thị trường nào, thương nhân giao dịch là ai,

giao dịch theo phương thức nào, chiến lược kinh doanh cho từng giai đoạn để đạt được

mục tiêu đề ra.

 Nắm vững thị trường nước ngoài.



Đối với các đơn vị kinh doanh xuất khẩu, nghiên cứu thị trường có ý nghĩa cực kỳ quan

trọng. Trong nghiên cứu cần nắm vững một số nội dung:những điều kiện chính trị,

Page 22



GVHD: TS. PHẠM NGỌC DƯỠNG

thương mại chung, luật pháp và chính sách bn bán, những điều kiện về tiền tệ và tín

dụng, điều kiện vận tải và tình hình giá cước. Bên cạnh đó, đơn vị kinh doanh cũng cần

phải nắm vững một số nội dung liên quan đến mặt hàng kinh doanh trên thị trường đó

như dung lượng thị trường, tập quán và thị hiếu tiêu dùng của người dân, giá thành và

dự biến động giá cả, mức độ cạnh tranh của mặt hàng đó.

 Nhận biết mặt hàng kinh doanh trước và lựa chọn mặt hàng kinh doanh.



Nhận biết mặt hàng kinh doanh trước tiên phải dựa vào nhu cầu của sản xuất và tiêu

dùng về quy cách chủng loại, kích cỡ, giá cả, thời vụ và thị hiếu cũng như tập quán tiêu

dùng của từng vùng, từng lĩnh vực sản xuất. Từ đó xem xét các khía cạnh của hàng hố

trên thị trường thế giới. Về khía cạnh thương phẩm phải hiểu rõ giá trị cơng dụng, các

đặc tính, quy cách phẩm chất, mẫu mã… Vấn đề khá quan trọng trong giai đoạn này là

xác định sản lượng hàng hoá xuất khẩu và thời điểm xuất khẩu để bán được giá cao

nhằm đạt được lợi nhuận tối đa. Hiện nay do chủ trương phát triển nền kinh tế với

nhiều thành phần tham giai kinh tế trên nhiều ngành nghề và nhiều lĩnh vực khác nhau

từ sản phẩm thô sản xuất bằng phương pháp thủ công đến sản phẩm sản xuất bằng máy

móc tinh vi hiện đại. Tuyến sản phẩm được mở rộng với mặt hàng phong phú, đa dạng

tạo điều kiện cho các đơn vị kinh doanh xuất khẩu có được nguồn hàng ổn định với

nhiều nhóm hàng kinh doanh khác nhau.

 Tìm kiếm thương nhân giao dịch.



Để có thể xuất khẩu được hàng hố trong q trình nghiên cứu thị trường nước ngồi

các đơn vị kinh doanh phải tìm đựơc bạn hàng. Lựa chọn thương nhân giao dịch cần

dựa trên một số đặc điểm sau: uy tín của bạn hàng trên thị trường, thời gian hoạt động

kinh doanh, khả năng tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật, mạng lưới phân phối tiêu thụ

sản phẩm…được như vậy, đơn vị kinh doanh xuất khẩu mới xuất khẩu được hàng và

tránh được rủi ro trong kinh doanh quốc tế.



Page 23



GVHD: TS. PHẠM NGỌC DƯỠNG

1.1.5



Quy trình thực hiện hoạt động xuất khẩu

Để đảm bảo cho hoạt động xuất khẩu được thực hiện một cách an toàn và thuận lợi đòi

hỏi mỗi doanh nghiệp xuất khẩu phải tổ chức tiến hành theo các khâu sau của quy trình

xuất khẩu chung. Trong quy trình gồm nhiều bước có quan hệ chặt chẽ với nhau bước

trước là cơ sở, tiền đề để thực hiện tốt bước sau. Tranh chấp thường xảy ra trong tổ

chức thực hiện hợp đồng là do lỗi yếu kém ở một khâu nào đó. Để quy trình xuất khẩu

được tiến hành thuận lợi thì làm tốt cơng việc ở các bước là rất cần thiết. Thông thường

một quy trình xuất khẩu hàng hóa gồm một số bước sau4.:



1.1.5.1



Lập phương án kinh doanh.

Dựa vào những kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu tiếp cận thị trường nứơc

ngoài đơn vị kinh doanh xuất khẩu lập phương án kinh doanh. Phương án này là bản kế

hoạch hoạt động của đơn vị nhằm đạt được những mục tiêu xác định trong kinh doanh.

Xây dựng phương án kinh doanh gồm các bước sau:

Bước 1: Đánh giá tình hình thị trường và thương nhân

Đơn vị kinh doanh phải đưa ra được đánh giá tổng quan về thị trường nước ngoài và

đánh giá chi tiết đối với từng phân đoạn thị trường. Đồng thời cũng phải đưa ra những

nhận định cụ thể về thương nhân nước ngoài mà đơn vị sẽ hợp tác kinh doanh.

Bứơc 2: Lựa chọn mặt hàng thời cơ, phương thức kinh doanh.

Từ tuyến sản phẩm công ty phải chọn ra mặt hàng xuất khẩu mà cơng ty có khả năng

sản xuất, có nguồn hàng ổn định đáp ứng được thời cơ xuất khẩu thích hợp : khi nào thì

xuất khẩu, khi nào thì dự trữ hàng chờ xuất khẩu … và tuỳ thuộc vào khả năng của

công ty mà công ty lựa chọn phương thức kinh doanh phù hợp.

4 Xem tại: http://voer.edu.vn/m/quy-trinh-xuat-khau-hang-hoa-cua-doanh-nghiep-kinh-doanh-xuat-nhapkhau/e1175845



Page 24



GVHD: TS. PHẠM NGỌC DƯỠNG

Bước 3: Đề ra mục tiêu

Trên cơ sở đánh giá về thị trường nước ngoài khả năng tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu thị

trường đó mà đơn vị kinh doanh xuất khẩu đề ra mục tiêu cho từng giai đoạn cụ thể

khác nhau.

Bước 4: Đề ra biện pháp thực hiện.

Giải pháp thực hiện là công cụ giúp công ty kinh doanh thực hiện các mục tiêu đề ra

một cách hiệu quả nhất, nhanh nhất, có lợi nhất cho cơng ty kinh doanh.

Bước 5: Đánh giá hiệu quả của việc kinh doanh.

Giúp cho công ty đánh giá hiệu quả kinh doanh sau thương vụ kinh doanh. đồng thời

đánh giá được hiệu quả những khâu công ty kinh doanh đã và làm tốt, những khâu còn

yếu kém nhằm giúp cơng ty hồn thiện quy trình xuất khẩu.

1.1.5.2



Đàm phám và kí kết hợp đồng.



 Đàm phám.



Chúng ta đã biết rằng đàm phám thực chất là việc trao đổi, học thuật vừa mang tính

khoa học, vừa mang tính nghệ thuật để sử dụng các kĩ năng, kĩ sảo trong giao dịch để

nhằm thuyết phục đi đến việc chấp nhận những nội dung mà đôi bên đưa ra. Muốn đàm

phán thành cơng thì khâu chuẩn bị đàm phán đóng góp một vai trò quan trọng như:

chuẩn bị nội dung và xác định mục tiêu, chuẩn bị dữ liệu thông tin, chuẩn bị nhân sự

đàm phán chuẩn bị chương trình đàm phán. Chúng ta đã biết rằng chuẩn bị chi tiết đầy

đủ các nội dung cần đàm phán là việc rất quan trọng để cho cuộc đàm phán đạt hiệu

quả cao hơn và giảm được rủi ro trong q trình thực hiện hợp đồng sau này. Ngồi ra,

việc chuẩn bị số liệu thông tin chẳng hạn như: thông tin về hàng hố để biết được tính

thương phẩm học của hàng hoá, do các yêu cầu của thị trường về tính thẩm mĩ, chất

Page 25



GVHD: TS. PHẠM NGỌC DƯỠNG

lượng, các tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế. Để đàm phán tốt cần phải chuẩn bị những

thông tin về thị trường, kinh tế, văn hố, chính trị, pháp luật của các nước, hay như

thông tin về đối tác như sự phát triển ,danh tiếng, cũng như khả năng tài chính của đối

phương. Đòi hỏi các cán bộ nghiệp vụ cần phải là những người nắm bắt thơng tin về

hàng hố, thị trường, khách hàng, chính trị, xã hội…chính xác và nhanh nhất sẽ giúp

cho cuộc đàm phán kí kết hợp đồng đạt hiệu quả tốt. Hiện nay trong đàm phán thương

mại thường sử dụng ba hình thức đàm phán cơ bản là: đàm phán qua thư tín, đàm phán

qua điện thoại, đàm phán bằng cách gặp gỡ trực tiếp. Nhưng ở Việt Nam hiện nay hai

hình thức là dàm phán qua thư tín và đàm phán qua điện thoại là được sử dụng phổ

biến nhất.

 Kí kết hợp đồng.



Việc kí kết hợp đồng là hết sức quan trọng. Hợp đồng có được tiến hành hay khơng là

phụ thuộc vào các điều khoản mà hai bên đã cam kết trong hợp đồng. Khi kí kết một

hợp đồng kinh tế phải căn cứ vào các điều kiện sau đây:

 Các định hướng kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế của nhà nước.

 Nhu cầu thị trường, đơn đặt hàng, chào hàng của bạn hàng.



Hợp đồng hàng hoá bao gồm những nội dung sau:

 Số hợp đồng

 Ngày, tháng, năm và nơi kí kết hợp đồng.

 Tên và địa chỉ các bên kí kết.

 Các điều khoản bắt buộc của hợp đồng:



Page 26



GVHD: TS. PHẠM NGỌC DƯỠNG

Điều 1: tên hàng, phẩm chất, qui cách, số lượng, bao bì, kí mã hiệu.

Điều 2: giá cả.

Điều 3: thời hạn, địa điểm, phương thức giao hàng, vận tải.

Điều 4: điều kiện kiểm nghiệm hàng hoá.

Điều 5: điều kiện thanh toán trả tiền.

Điều 6: điều kiện khiếu nại

Điều 7: điều kiện bất khả kháng.

Điều 8: điều khoản trọng tài:

1.1.5.3



Thực hiện hợp đồng xuất khẩu

Sau khi đã kí kết hợp đồng xuất khẩu, cơng việc hết quan trọng mà doanh nghiệp cần

phải làm là tổ chức thực hiện hợp đồng mà mình đã kí kết. Căn cứ vào điều khoản đã

ghi trong hợp đồng doanh nghiệp phải tiến hành sắp xếp các cơng việc mà mình phải

làm ghi thành bảng biểu theo dõi tiến độ thực hiện hợp đồng, kịp thời nắm bắt diễn

biến tình hình các văn bản đã gửi đi và nhận những thông tin phản hồi từ phía đối tác.

Qui trình thực hiện hợp đồng xuất khẩu gồm:

 Xin giấy phép xuất khẩu hàng hoá.



Xin giấy phép xuất khẩu trước đây là một công việc bắt buộc đối với tất cả các doanh

nghiệp Việt Nam khi muốn xuất khẩu hàng hoá sang nước ngoài. Nhưng theo quyết

định số 57/1998/NĐ/CP tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều

được quyền xuất khẩu hàng hố phù hợp với nơị dung đăng kí kinh doanh trong nước



Page 27



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Máy móc thiết bị và công nghệ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×